Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
bệnh tiêu hóa cách phòng và điều trị

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
Ngày gửi: 15h:01' 20-03-2024
Dung lượng: 11.0 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
Ngày gửi: 15h:01' 20-03-2024
Dung lượng: 11.0 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
ụ sá ch
Y h ọ c phổthổng
Nguyễn Bảo
(Biên soạn)
Bệnh
HẾUltóA
PHÒNG &ĐIÊU TRỊ
BỆNH TIÊU HÓA
CÁCH PHÒNG & ĐIỂU TRỊ
NHÀ XUÃT BÁN VĂN HÓA - THÔNG TIN
43 Lò Đúc - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: LÊ TIẾN d ũ n g
Chịu trách nhiệm bản thảo: vũ THANH VIỆT
Biên tập: Tuấn Việt - Xuân Mĩ
Thiết kế bìa: Tân Việt - Chế bản: Đại Minh Books
In 1.500 cuốn khổ 13 X 20.5cm
tại Công ty TNHH In TM và dịch vụ Nguyễn Lâm
QĐXB số: 248A^HTT-KH. số ĐKXB 272 - 2014/CXB/96 - 12A^HTT
Cấp ngày 06 tháng 03 năm 2014
In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2014
Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG
BỆNH TIÊU HÓA
CÁCH PHÒNG & ĐIỀU TRỊ
Nguyễn Bảo (Biên soạn)
NHÀ XUẤT BẢN VẢN HÓA - THÔNG TIN
BỆNHTIÊU HÓA
*
Phầnl
Những điều cần biết
về các bệnh đường tiêu hóa
ĩ í n h trạng bệnh tiêu hóa ờ nước ta hiện ở
mức nặng. Khoảng 60 - 70% dân số bị nhiễm khuấn
Helicobacter pylori (HP) - nguyên nhân chính gây loét
dạ dày, tá tràng.
Các bệnh tiêu hóa (như bệnh dạ dày, ruột, thực
quán, gan, mật, lách, tụy, trĩ...) đang là mối quan tâm
hàng đầu của ngành y tế. Khoáng 7 - 15% dân số bị
loét dạ dày - tá tràng, ơ trẻ dưới 5 tuối, tỷ lệ này cũng
khá cao, có liên quan tới chứng đau bụng tái diễn. Bệnh
gây nhiều biến chứng nguy hiểm như chảy máu, thủng
dạ dày. Viêm loét dạ dày - tá tràng có thế khói sau khi
được điều trị nội khoa (tỳ lệ khỏi 80 - 90%), tuy nhiên,
giá thành điều trị khá cao, riêng chi phí cho 4 loại kháng
sinh là 1,6 triệu đồng/tháng.
Vi khuấn HP không chi gây viêm loét dạ dày - tá
tràng, mà còn liên quan tới sụ phát sinh ung thư dạ dày.
T ỷ lệ dân số nhiễm HP càng cao thì tý lệ mắc bệnh
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
này càng cao. Bệnh thường được phát hiện ớ giai đoạn
muộn. Nếu được phát hiện và xứ ưí sớm, bệnh nhân có
thể kéo dài tuối thọ thêm 10-15 nàm.
Nhiều bệnh về tiêu hóa khác như sỏi mật, polip đại
tràng... cũng rất dễ phát ưiến thành ung thư đại tràng,
nếu không được điều trị kịp thời.
Nguyên nhân gây các bệnh tíêu hóa là do môi
trường đang bị ô nhiễm nặng, vệ sinh ăn uống không tốt.
Điều này gây nên những biến đổi sinh lỹ của dạ dày, gây
viêm, loét và ung thư dạ dày, gan, đại tràng... Vì vậy, bảo
đảm chế độ àn thích hợp cũng là điều rất cần thiết cho
mọi người. Không nên tự mua thuốc điều trị hoặc uống
không đúng theo đơn cúa bác sĩ, để trárủi tình trạng bệnh
nặng hơn, tái đi, tái lại hoặc kháng thuốc.
BỆNH TIÊU HÓA
*
Bệnh loét đường tiêu hóa
Loét đường tiêu hóa là gì?
Loét đường tiêu hóa là sụ hình thành một lỗ trên
lớp niêm mạc lót bên trong dạ dày, tá tràng hoặc thực
quán. Tùy vị trí mà ta có loét dạ dày, loét tá tràng và
loét thực quán. Tmh trạng loét xảy ra khi lớp niêm mạc
lót bên trong các co quan này bị mòn đi, bởi do dịch
tiêu hóa có tính acid do tế bào dạ dày tiết ra.
Loét đường tiêu hóa là một bệnh khá phổ biến.
Các tiến bộ y học gần đây đã giải thích được nhiều về
cơ chế hình thành của ố loét. Điều này đã mỏ ra nhiều
chọn lựa trong việc điều trị căn bệnh này.
Các nguyên nhân của loét đường tiêu hóa
Nhiều năm trước đây, nhiều người tin rằng sự tiết
acid quá mức là nguyên nhân chính gây loét. Dựa vào
đó, việc điều trị được nhấn mạnh vào sự trung hòa và
ngân chặn sự tiết acid của dạ dày. Hiện nay, các nghiên
cứu cho thấy nguyên nhân hàng đầu của bệnh loét là do
dạ dày bị nhiễm một loại vi khuấn có tên “Helicobacter
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
pylori” mặc dù acid vẫn được coi là yếu tố đóng vai trò
trực tiếp trong sự hình thành ố loét.
Một nguyên nhân quan trọng khác gây ra loét, đó
là việc sứ dụng thường xuyên các loại thuốc kháng viêm,
thường là thuốc kháng viêm không steroid (NSAID)
như aspirin. Hút thuốc cũng là một nguyên nhân quan
trọng và dễ gây thất bại trong điều trị.
Vi khuấn H. pylori rất thường gặp, đây cũng là
nguyên nhân chính gây bệnh cho hầu hết bệnh nhân
được xác định là đau dạ dày, loét dạ dày và tá trỀmg.
Quá trình nhiễm bệnh thường kéo dài trong nhiều năm
và 10% đến 15% số người nhiễm sẽ dẫn đến loét. Mặc
dù, cơ chế gây bệnh cúa H. pylori vẫn chưa được hiểu
rõ, nhưng sự loại bó vi khuấn này bằng kháng sinh đã
cho thấy hiệu quá cao trong việc chữa trị và ngăn ngừa
loét tái phát.
NSAID là thuốc dùng điều trị viêm khớp và các
tình trạng thương tốn viêm nhiễm khác trong cơ thế,
Aspirin, Ibuprolen (Motrin), Naproxen (Naprosyn) và
Etodolac (Lodine) cũng là một số thuốc thuộc loại này.
Prostaglandin là các chất đóng vai trò quan trọng trong
việc giúp niêm mạc một chống lại sự làm mòn cúa
acid. NSAID gây loét bằng cách ức chế tác động của
prostaglandin trong dạ dày.
Hút thuốc không chi gây loét, mà còn làm gia tăng
nguy cơ biến chứng cúa loét như xuất huyết, tắc nghẽn
BỆNH TIÊU HÓA
*
dạ dày và thúng dạ dày, đồng thời cũng là nguyên nhân
hàng đầu gây thất bại trong điều trị.
Trái với quan niệm thông thuờng, thì rượu, cà phê,
cola, thức ăn cay và caíĩeine, chưa được chứng minh vai
trò trong sự tạo thành loét. Tương tự, cũng không có
bằng xác thực nào cho thấy các stress trong cuộc sống
và tỹp người nào dễ bị các bệnh loét đường tiêu hóa.
Triệu chứng của loét?
Triệu chứng của loét đường tiêu hóa rất đa dạng,
nhiều bệnh nhân chỉ cảm thấy hơi khó tiêu và khó chịu,
còn một số người cám thấy rát bỏng vùng thượng vị
hoặc đau (do đói) 1 đến 3 giờ sau bữa ăn và lúc nứa
đêm, hay ợ hơi, ợ chua. Những cơn đau này thường
nhanh chóng biến mất khi ăn hoặc uống thuốc trung
hòa acid.
Cơn đau cúa loét liên quan rất ít đến sự hiện diện
hoặc mức độ trầm trọng cúa các ổ loét, nên một số bệnh
nhân vẫn đau kéo dài ngay cả sau khi đã được điều
trị khỏi hoàn toàn, còn những bệnh nhân khác có thể
không đau ngay cả khi ổ loét tái phát. Các ố loét đường
tiêu hóa có thế xuất hiện và biến mất tự nhiên mà người
bệnh không hề hay biết, trừ khi một biến chUng trầm
trọng xáy ra (như xuất huyết hoặc thủng).
o
Tù sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Bệnh loét dạ dày tá tràng
q ) ạ dày - tá tràng đóng vai trò quan trọng ưong
tiêu hóa thức ăn. Thức àn sau khi được cắt nhỏ, nghiền
nát, nhào quyện với nước bọt ớ miệng, vào đến dạ dày
tá tràng nó được các dịch tiêu hóa ớ đây tiếp tục quá
trình tiêu hóa. ơ dạ dày, dịch tiêu hóa chủ yếu là dịch
vị, ớ tá tràng có dịch tá tràng, dịch tụy, dịch mật từ
túi mật đổ xuống. Đau dạ dày là từ dân gian đế chi
quá trình bệnh lỹ (viêm, loét, ung thư...) không chi ở
vùng dạ dày mà còn cả ớ vùng tá tràng. Hai vùng này
có nhũng điếm chung nhưng cUng có nhiều điếm khác
nhau về quá trình bệnh ly.
Loét dạ dày - tá tràng thường xáy ra ở người lớn
tuối (thanh niên, trung niên, người già). Loét tá tràng
thường gặp ở người tré hơn (thanh niên, trung niên),
còn loét dạ dày thì gặp ớ người lớn tuối hơn (trung niên,
người già).
Nguời loét dạ dày tá tràng có đặc điếm là hay đau
bụng vùng trên rốn (thượng vị) nhiều nàm, từ vài ba
năm đến hàng chục năm. Đau có tính chu kỹ, thường
BÊNH TIÊU HÓA
về mùa rét, mỗi lần 5 - 1 0 ngày. Các đợt đau thường
liên quan đến các chấn thương tinh thần, t'mh trạng
càng thảng thần kinh, thường về mùa rét. Loét tá tràng
thường đau khi đói, đau về đêm, ân vào bớt đau, nên
người bệnh luôn có sẵn thức ăn (kẹo, bánh quy...) bên
mình. Loét dạ dày ít đặc điếm này. Do vậy, đau có chu
kỹ với những đặc điểm trên là triệu chứng quan trọng
nhất của loét dạ dày - tá tràng.
Chẩn đoán
Để chấn đoán bệnh nhân có bị loét dạ dày tá tràng
cần phái chụp X quang có cản quang (baryt) vùng dạ
dày - tá tràng hoặc nội soi tìm ổ loét.
Đối với loét dạ dày, ố loét có thế ở vùng bờ cong
nhó, bờ cong lớn hoặc vùng hang vị, môn vị. Loét bờ
cong nhò dễ bị ung thư hơn loét bờ cong lớn. Loét vùng
môn vị tá tràng dễ gây hẹp môn vị, sa dạ dày. Chi có
loét dạ dày mới có thể ung thư hóa, còn hầu như không
gặp điều đó ở loét tá tràng.
Hình ảnh ố loét trong loét tá tràng có thế giúp đánh
giá kết quá điều trị và tiên lượng bệnh. Xét nghiệm dịch
vị trong loét dạ dày ít có thay đối có giá trị. Có thế thấy
độ axit bình thường, hoặc có thế giám ít hoặc tăng. Trong
loét hành tá tràng, độ axit tăng rất rõ. Loét dạ dày dễ bị
thúng hơn loét hành tá tràng, còn loét hành tá tràng hay
thấy cháy máu hơn. Biến chUng cháy máu hoặc thủng
nhiều khi là biểu hiện đầu tiên ở người bệnh không có
Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG
triệu chứng rõ ràng, và chính do các biến chứng này mới
xác định được bệnh cho người bệnh.
Loét dạ dày có thể kết hợp với xo gan. T ỹ lệ này
gặp ớ 10 - 17% người xơ gan trên thế giới, ớ nước ta
10% có thế loét với u tụy gây ra tình trạng bệnh lý do sự
hình thành một hoặc nhiều khối u ớ tụy hoặc tá tràng,
gọi là u gastrin, với các dấu hiệu: tiêu chảy, phân mỡ, dạ
dày tá tràng có nhiều ổ loét ở những vị trí bất thường,
ơ nước ta, các nghiên cứu cũng phát hiện được một số
bệnh nhân có hội chứng này.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây loét được nói đến rất nhiều, nhưng
nguyên nhân đầu tiên mà tất cả mọi người nghĩ đến đó là
loét dạ dày - tá ưàng liên quan đến vấn đề ăn uống (uống
nhiều rượu, ăn nhiều gia vỊ, chất kích thích dạ dày...).
Một nguyên nhân nữa là do tình trạng tinh thần
(loét thường hay có ớ người có chấn thương tình cám,
hay xúc động, sốc tinh thân, kết luận cúa y học mới nhất
hiện nay cho rằng, nguyên nhân sinh bệnh do mất thăng
bàng giữa yếu tố gây loét và yếu tố chống loét được nêu:
dịch vị có độ axit cao vượt quá khá năng chống đỡ của
niêm mạc hành tá tràng bình thường, hoặc do niêm mạc
dạ dày giám dinh dưỡng nên không đủ khả năng chống
lại dịch vị có độ axit ít hoặc bình thường.
BỆNH TIÊU HÓA
Xử trí
4
Từ những nguyên nhân trên nên đã có nhiều cách
xứ trí khác nhau, phố biến nhất truớc đầy là cắt bò phần
dạ dày mà người ta cho rằng tiết nhiều axit (vùng hang
vị, phân dạ dày phía dưới): phẫu thuật Bilroth 1, Bilroth
2, Polya, Pinsterer... hoặc cắt dây thần kinh 10 đoạn phân
nhánh cho dạ dày... nhưng kết quá đạt được không như
mong muốn. Từ klii y học có phát minh, coi niêm mạc dạ
dày là nơi ũếp rửiận histamin nên đã có biện pháp dùng
các thuốc ức chế nơi tiếp nhận histamin
burinamide,
metiamide và mới nhất là ciméúdine (biệt dược là tagamet)
rồi ranitidine (biệt dược là azantac, raniplex).
Tiếp sau đó, các nhà khoa học đã phát hiện ra
Helicobacter pylori, và chứng minh chính vi khuấn này
là nguyên nhân gây viêm loét, đã tạo nên sự đối mới
hoàn toàn trong diều trị bệnh này.
Hiện nay, người ta điều trị loét dạ dày - tá ưàng
bằng kháng sữứi Amoxicillin, Klien có tác dụng với H.
Pylori, thuốc ức chế nơi tiếp nhận histamin H^: Cimétidine
(tagamet), Nanitidme (azantac), thuốc chống tiết dịch dạ dày
(ức chế bơm proton); Lanzor, Omez... thuốc kháng axit và
băng rịt: GasUopuIgite, Kremil s, Maalox, Phospha lygel...
Phẫu thuật được dùng cho những trường hợp ố
loét xơ chai, không điều trị khói bằng phương pháp nội
khoa, có biến chứng: thủng dạ dày, hẹp môn vị... Người
bệnh được khuyên có chế độ ăn Uống, làm việc, nghi
ngơi hợp lỹ, phù hợp với tình trạng sức khỏe.
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Làm thế nào để xác định
bệnh đau dạ dày?
Hói: Khi có người thân mà lúc đói hay no quá là
bị buồn nôn, phái ăn liên tục vì bị cồn cào trong dạ dày.
Đ i nội soi có kết quá sung huyết hang vị, dã uống rất
nhièu thuốc và rất nhièu bác sy, nhưng chi đỡ được 1 - 2
tuần tình trạng cũ lại tiếp dién. Đó có phái dau dạ dày
không, vì không cám thấy dau ở dạ dày chí buồn nôn
hoặc nôn ra toàn nước miếng? Cách chữa £r/ và cách ăn
uổng cần tránh lứiững thư gì, bệnh có đièu trị hết dược
không?
Trả lời
1. Cá triệu chứng và kết quả soi cho thấy nguời đó
bị bệnh dạ dày , đó là bệnh “ viêm hang vị” đây là vùng
ớ gần cuối cúa bao tứ - dạ dày. Trong viêm loét dạ dày
và nhất là viêm hang vị, có nguyên nhân do vi khuấn
Helicobacter Pylori, nên nếu điều trị thuốc không đúng
thì chắc là sẽ không hết bệnh đâu.
2. Việc chấn doán không chí căn cứ vào hình ảnh
tốn thuơng, mà phái lấy mẫu sinh thiết ở dạ dày đế xét
BỆNH TIÊU HÓA
nghiệm nữa. Do vậy, khi soi nếu có tốn thương nghi
ngờ, bác sy phải lấy mẫu làm xét nghiệm đế có khảng
định chấn đoán và giúp cho bác sy điều trị kê đơn.
3.
Điều trị và ăn uống phải căn cứ vào kết luận
soi dạ dày. Tuy nhiên, viêm hang vị cUng đú đế lưu ỹ
người đó nên kiêng uống rượu, giảm gia vị chua, giảm
cà phê, thuốc và các chất kích thích.
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÕNG
Phương pháp điều trị bệnh
loét đường tiêu hóa
{J\Ẳục đích của điều trị loét là làm hết đau và
ngăn chặn các biến chứng nhu xuất huyết, tắc nghẽn và
thủng. Buớc đầu tiên cúa công việc điều trị bệnh luôn
là làm giám các yếu tố nguy cơ (NSAID và hút thuốc),
buớc tiếp theo mới là dùng thuốc điều trị.
Thuốc chống acid là trung hòa acid trong dạ dày,
một số thuổc thuộc loại này nhu: Maalox, Mylanta và
Amphojel điều trị an toàn và hiệu quá. T uy nhiên, tác
dụng trung hòa cúa những loại thuốc này thường ngắn
và đòi hỏi phái uống thuốc thường xuyên. Các chất
chống acid như Magie chứa trong Maalox và Mylanta có
thê gây tiêu cháy, trong khi nhôm chứa trong Amphojel
có thế gây táo bón. Vết loét thường tái phát khi ngưng
sủ dụng các loại thuốc này.
Các nghiên cứu nghiên cho thấy có một loại protein
trong dạ dày, gọi là histamin, có tác dụng kích thích
sự tiết acid dạ dày. Các thuốc kháng histamin (thuốc
kháng H2) được tạo ra nhằm ngăn chặn tác động cứa
BỆNH TIÊU HÓA
histamin lên tế bào dạ dày, do đó làm giám sự tiết acid.
Một số thuốc thuộc loại này là: cimetidine (Tagamet),
ranitidine (Zantac), nizatidine (Axid) và famotidine
(Pepcid). Mặc dù thuốc kháng H2 rất hiệu quá trong
việc làm lành vết loét, nhưng chúng vẫn chi có vai trò
rất giới hạn trong tiệt trừ H.pylori, nếu không phối hợp
với kháng sinh. Do đó, loét thường tái phát khi ngưng
sử dụng các thuốc này. Nhìn chung, các loại thuốc này
dễ uống, và chi có ít tác dụng phụ ngay cả khi sứ dụng
lâu dài, nên chí một số hiếm trường hợp bệnh nhân bị
nhức đầu, choáng váng, hôn mê hoặc ảo giác. Dùng
cimetidine dài ngày, có thê gây liệt dương hoặc vú to,
và cá cimetidine và ranitidine đều ảnh hướng đến khả
năng kiếm soát mức men cứa cơ thế. Những bệnh nhân
uống thuốc này và uống rượu,' có thế có nồng độ men
trong máu cao hơn. Những thuốc trên cũng có thể ảnh
hướng đến tác dụng của gan với các thuốc khác như;
Dilantin, Coumadin và theophylline. Vì vậy, liều lượng
thông thường của các loại thuốc này nên được điều
chỉnh phù hợp.
Omeprazole (Prilosec) hiệu quả hơn thuốc kháng
H2 trong việc ngẳn chặn sự tiết acid. Prilosec gần như
làm dạ dày ngung tiết acid hoàn toàn. Mặc dù, Prilosec
có hiệu quả tương đương với thuốc kháng H2 trong
điều trị loét dạ dày và tá tràng nhưng nó có hiệu quả
hơn hẳn trong điều trị loét thực quán, vì loét thực quán
rất nhạy cám, dù với chi một lượng nhỏ acid. Do đó, tác
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
dụng ngăn chặn hoàn toàn sự tiết acid của Prilosec rất
quan trọng trong làm lành loét thực quản. Mặc dù, acid
hoàn toàn không được tiết ra, nhưng nó vẫn không hề
ánh hưỏng đến sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn cúa bệnh
nhân. Prilosec cũng rất dễ uống. Với liều lớn, Prilosec
có thế gây những khối u nhó trong ruột chuột. Tuy
nhiên, chưa phát hiện được trường hợp nào xáy ra trên
người ngay cả khi dùng thuốc dài ngày. T hế nhưng,
thời gian an toàn trong điều trị Prilosec dài ngày vẫn
chưa được công bố chắc chắn.
Sucralỉate (Carafate) và misoprostol (Cytotec) là
những chất làm vững chắc niêm mạc ruột nhằm chống
lại sự tấn công của dịch tiêu hóa acid. Carafate bao phủ
bề mặt Ố loét và kích thích sự lành. Loại thuốc này
có rất ít tác dụng phụ, thường gặp nhất là táo bón và
ảnh hưòng đến sự hấp thu các loại thuốc khác. Gytotec
là một chất giống prostaglandin, thường được dùng để
chống lại khả năng gây loét cúa NSAID. Các nghiên
cứu cho rằng, Cytotec có thể giúp những bệnh nhân
dùng NSAID lâu ngày để ngăn chặn loét. Tuy nhiên,
nó có thể gây tác dụng phụ là tiêu cháy. Cytotec cũng
có thê gây sảy thai ớ phụ nữ có thai, và không nên dùng
cho phụ nũ đang trong tuổi sinh đé.
Có nhiều người bị nhiễm H. pylori mà vẫn không
hề bị thương tổn hay loét. Trong những trường hợp
này, việc dùng kháng sinh điều trị chưa cho thấy hiệu
quá rõ ràng. Nên cần phái có nhiều nghiên cứu hơn để
BỆNH TIÊU HÓA
«
trả lời cho câu hói này. Những bệnh nhân bị loét và
nhiễm H.pylori nên được điều trị kết hợp với kháng
sinh, nhưng đôi khi cũng rất khó trong việc tiêu diệt
hoàn toàn H. pylori. Việc điều trị cũng đòi hỏi sụ kết
hợp của nhiều loại kháng sùih bên cạnh kết hợp với
Prilosec, thuốc kháng H2 hoặc Pepto- Bismol. Các
kháng sinh thường dùng là: tetracycline, amoxicillin,
metronidazole (Plagyl) và clarithromycin (Biaxin). Tiêu
diệt H. pylori chính là ngăn ngừa loét tái phát (vấn đề
chính cúa tất cả các phương thức điều trị khác). Sự loại
bó vi khuấn này cũng làm giảm nguy cơ tiến triến thành
ung thư dạ dày trong tương lai. Điều trị bằng kháng
sinh có thế gây phán ứng dị ứng, tiêu chảy, và đôi khi
gây viêm kết tràng do kháng sinh.
Chưa có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy việc
giới hạn chế độ ăn hay thực hiện chế độ án nhạt, có vai
trò trong việc làm lành vết loét. Cũng chưa có sự chứng
minh nào về mối quan hệ giữa bệnh loét đường tiêu hóa
với lượng cồn hoặc cà phê uống vào. Tuy nhiên, vì do
cà phê đã kích thích dạ dày tiết acid và cồn nên có thế
gây viêm dạ dày, vì vậy tốt nhất là nên giới hạn lượng
cồn và cà phê uống vào.
Tóm tắt
Với các phương pháp điều trị hiện nay, bệnh nhân
bị loét đường tiêu hóa có thế sống bình thường mà
không bị thay đối cách sống hoặc giới hạn trong chế độ
1^^
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
ăn. Hiit thuốc làm tăng nguy cơ biến chứng của bệnh
loét đường tiêu hóa và gây thất bại trong điều trị. Diệt
trừ hoàư toàn H. pylori, không chí làm lỀưrh vết loét, mà
còn ngăn chặn loét tái phát.
Những điều cẩn nhớ về bệnh loét đường tiêu hóa
Loét đường tiêu hóa có thế xảy ra ớ dạ dày, tá
tràng hoặc thực quán.
Sự tạo thành loét có liên quan đến vi khuấn H.
pylori trong dạ dày, vì vậy phái sứ dụng thuốc kháng
viêm và không hút thuốc.
Đau do loét có thể không liên quan đến sự hiện
diện hoặc mức độ trầm trọng cúa ổ loét.
Chấn đoán loét được thực hiện với X quang dùng
barium, hoặc nội soi.
Biến chứng của loét gồm xuất huyết, thúng và tắc
nghẽn dạ dày.
Điều trị loét nên kết hợp thuốc kháng sinh đê diệt
trừ H. pylori, loại bỏ các yếu tố nguy cơ, và ngăn chặn
các biến chứng.
BỆNH TIÊU HÓA
4
Trào ngược dạ dày thực quản
co thể gây tư vong
'^0írong lúc bú mẹ, tré hay bị sặc sữa, tím tái và
ngưng tim. Các bác sĩ phát hiện cháu ưào ngược dạ dày
thực quán bấm sinh.
Ngay từ khi chào đời, tré đã hay bị sặc sữa mỗi khi
bú nhanh. Nhiều khi, bố mẹ cúa tré nghĩ đó là chuyện
bình thường nên không đưa đi khám. Khi vào bệnh
viện, các bác sĩ đã hướng dẫn gia đình cho trè ân bằng
cách bơm ống thông mũi - dạ dày hoặc đút từng muỗng
một. Tuy nhiên, nhiều tré do chứng viêm phối quá
nặng, hít phái dịch trớ, nên không thê chũa trị kịp thời.
Chứng trào ngược dạ dày thực quán của tré em
cũng khá phổ biến. Đó là tình trạng dịch tiết dạ dày trào
ngược lên thực quản. Nó có thể là hiện tượng sinh lý,
cũng có khi là triệu chứng cúa một bệnh nào đó. Chính
vì vậy, mà nhiều bậc cha mẹ xem thường và đế xáy ra
hậu quả nghiêm trọng.
Trào ngược dạ dày thực quán sinh lý thường
xảy ra khi tré ản quá no, nuốt hơi nhiều trong klii bú.
l^lỊl
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Trong trường hợp này, tré sẽ trớ ngay sau bữa ăn hoặc
lúc đang bu, số lần bị rất ít, thoáng qua hoặc mỗi ngày
một lần. Bán thân chứng trào ngược sinh lý không nguy
hiểm, nhưng có thê gây sặc và dẫn đến tứ vong do tắc
đường thớ, nên cần được cấp cứu nhanh.
Nguyên nhân gây trào ngược dạ dày thực quản
bấm sinh là do trương lực cơ vòng co bóp thực quán
quá yếu, không giữ được thức ăn lạí trong dạ dày. Hiện
tượng này thường gặp ớ tré sinh non, và trẻ bại não.
Trào ngược cQng hay gặp trong nhiều bệnh lỹ nhi khoa
như bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tai mũi họng, viêm
não hoặc chấn thương sọ não.
Trong trào ngược bệnh ly, triệu chứng này hay
xáy ra thường xuyên, thường là khi thay đối tư thế. Tré
có thế bị nôn ra máu, nuốt khó, khóc nhiều, từ chối bú,
uốn éo vặn người... Trào ngược dạ dày thực quản cũng
có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề, nếu tré không
được điều trị sớm.
Dịch dạ dày có axít, nên lâu ngày sẽ gây loét niêm
mạc thực quản, dẫn đến hẹp thực quản. T ừ đó, tré sẽ
bú klió, nuốt đau và ngày càng nôn nhiều hơn, rồi đến
lúc tré ọc sữa hoặc thức ăn qua đường mũi, thì bệnh đã
ớ giai đoạn nặng. Nếu trào ngược xảy ra trong lúc trẻ
ngii nằm đầu thấp, mà không được phát hiện kịp thời
llù cUng dẫn đến tU vong do tắc thở.
BỆNH TIÊU HÓA
4
Vì vậy, tré bị trào ngược cần được đưa đi khám
sớm. Nếu được điều trị trước 12 tháng tuối, cơ vòng
thực quán của tré sẽ co bóp trở lại như tré bình thường.
Sau thời điếm này, khá năng khỏi bệnh sẽ rất thấp,
tré không đú dinh dưỡng nên chậm phát triến, sức đề
kháng kém và dễ mắc các bệnh nhiễm ưùng.
Những nguyên tắc chăm sóc trẻ bị trào ngược dạ
dày thực quản
- Phái chia khấu phần thành nhiều bữa nhó và nên
cho tré àn đặc hơn bình thường đế không bị trào.
- Tránh môi trường có khói thuốc lá, không cho trẻ
dùng những thức ăn có chất kích thích như chocolate,
nước trà, cà phê. Cho trẻ ăn đồ dễ tiêu để hạn chế tình
trạng đầy hơi.
- Khi ngủ, đặt tré nằm ớ tư thế đầu ngú'a cao, đầu
- ngực - cố thẳng trục.
- Cho tré đi lại nhiều hơn nằm, vì tư thế nằm dễ
gây trào ngược. Mặt khác, ớ tré nằm nhiều, trương lực
cơ toàn thân, trong đó có cơ vòng thực quản, sẽ yếu hơn
những trẻ khác, dễ dẫn đến trào ngược.
- Khi trẻ trào ngược có biếu hiện tím tái, ngưng
thớ, cần kích thích thở bằng cách vuốt nhẹ lưng và xoa
lòng bàn chân. Nếu tré bị sặc sữa, phải vỗ lưng và cho
nằm nghiêng để sữa trào ra. Ngay sau khi sơ cứu, phải
đưa tré đến bệnh viện gần nhất.
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Phương pháp chữa loét dạ dày tá tràng
những nảm 70 - 80, việc chữa bệnh viêm
loét dạ dày tá tràng, có sứ dụng kèm thuốc kháng sinh
bị cho là không bình thường. Thay vào đó, phải dùng
các thuốc ốn định, điều hòa thần kinh rồi đến khi thật
sụ cần thiết mới phẫu thuật, để cắt bỏ bớt các nhánh
thần kinh X chi phối việc tiết dịch vị.
Vậy mà gần 20 năm sau, việc dùng kháng sinh trong
điều trị bệnh lỹ tiêu hóa lại trò thàiứi phố biến, thậm chí
không thê thiếu. Vậy điều gì đã xảy ra trong y học?
Các phát hiện về vi sinh trong những nẳm 80 tình
cờ nhận thấy có sụ hiện diện của vi kliuấn Helicobacter
Pylori (HP) trong các máiứi sinh thiết dạ dày.
Qua idiiều kháo CIỈU y học, giờ đây các nhà khoa
học đã có thế kết luận rằng, chính chúng là nguyên nhân
gây ra viêm loét dạ dày tá tràng. Các vi khuấn HP từ
ngoài xâm nhập vào tế bào niêm mạc dạ dày, rồi cư trú
và phát triển tại đó, gây ra viêm và teo niêm mạc dạ dày,
sau đó, tùy theo độc lực của các chủng vi khuấn và các
yếu tố nội tại cụ thể cùa từng người bệnh mà gây ra loét.
BỆNH TIÊU HÓA
Một số yếu tố trung gian do vi khuấn HP tiết ra,
lại là các yếu tố gây ung thu. Các cuộc theo dõi liên tục
và làu dài đã chứng minh rằng, 90% các ung thu dạ dày
là có liên quan đến HP và 3/4 số ung thu dạ dày mới gặp
hiện nay thấy ở vùng châu A.
Tỹ lệ nhiễm HP chung ớ nguời Việt Nam khoảng
70% và gặp trong 70% số nguôi bị loét dạ dày, gặp 90%
trong số loét hành tá tràng. Không thế đoán trước được
rằng người nào bị nhiễm HP sẽ trớ thành ung thư, vì
vậy cách tốt nhất đế phòng tránh ung thư là phải diệt
trừ HP ngay từ đâu.
Việc điều trị nhiễm HP cần được tiến hành ờ những
người có bệnh dạ dày tá tràng, có u lympho ở niêm mạc
đường tiêu hóa, hay người có tiền sứ gia đình ung thư
đường tiêu hóa, ỏ nguời xét nghiệm thấy vi khuấn dù
chưa mắc bệnh.
Tlmốc điều trị là kháng sinh mà chù yếu là
Metronidazole hoặc Clarithromycin, nhưng hiện nay
hiện tượng đề kháng thuốc đã dần xuất hiện (47 - 86%
với Metronidazol, 20% với Clarithromycin và 69% vói
Amoxiciclin) làm ảnh hướng nhiều đến kết quả điều trị.
Dùng Clarithromycin đế điều trị có tỹ lệ thành
công cao hon hắn so vói Metronidazol, nhưng hiệu quả
của thuốc sẽ tăng hơn nếu ức chế tiết acid đầy đú bằng
các thuốc ức chế bơm proton đế làm tăng độ pH cùa dạ dày.
1^1
Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG
Các phác đồ điều trị chú yếu hiện nay là sự phối
hợp cúa 3 hoặc 4 loại thuốc trong số: thuốc ức chế bơm
proton - Amoxcycilin - MetronidazoI - Clarithromycin
và Bismuth hay Tetracyclin.
Phuơng thức chung diệt trừ triệu chứng loét dạ
dày, điều trị Helicobacter Pylori ớ bệnh nhân dạ dày tá
tràng có hiệu lực nhất là theo tóm tắt sau:
C hí định tiệt trừ HP: Loét hành tá tràng; loét dạ
dày; viêm teo dạ dày mạn tính hoạt động; u lympho
bào dạ dày hoạt hóa thấp; ung thư dạ dày chẩn đoán
rất sớm; điều trị lâu dài với thuốc chống viêm không
steroid (NSAID) hay có tiền sứ loét truớc khi điều trị.
Có thề dùng trong các trường hợp: Ung thư dạ
dày chấn đoán muộn và đã phẫu thuật; trào ngược dạ
dày thực quản; viêm dạ dày đã điều trị nhiều lần không
giám hay con cái những người bị ung thư dạ dày.
Côngtỉìức diều ũỊ: chọn một ưong các phác đồ sau;
1. ứ c chế bơm proton (PPI) + Clarithromycin
(C) 500mg + Amoxiciclin (A) lOOOmg dùng ngày 2 lần
trong ít nhất 7 ngày.
2. [ PPI + c 500mg + Metronidazol (M) 500mg]
2 lần X 7 ngày.
X
3. [ PPI + Bismuth (B)200 - 400mg + Tetracyclin
(T) lOOOmg + M 500mg] X 2 lần X 7ngày.
BÊNH TIÊU HÓA
X
4. [ PPI + B 200 - 400 mg + T lOOOmg + A lOOOmg]
2 lần X 7 ngày.
5. PPI 2 lần/ngày + [ T 250mg + M 200mg + B
108mg ] X 5 lần X 10 ngày.
Khi điều trị thứ với một phác đồ không thành công
thì thứ đối qua phác đồ khác. Không nên điều trị loét dạ
dày tá tràng với phác đồ chí 1 hay 2 thứ thuốc. Khi thứ
2 phác đồ mà vẫn không thành công, thì cần cấy lại vi
khuẩn và làm kháng sinh đồ.
Ngày nay, y học còn phát hiện ra thêm cá trong
vữa xơ động mạch và nhồi máu cơ tim, cũng thấy có vai
trò cúa vi khuấn HP, vì vậy các bác sĩ tim mạch cũng đă
đến lúc cần phải dự phòng rứiồi máu cơ tim bằng thuốc
kháng sinh.
1^^
Tù sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Bệnh loét dạ dày tá tràng
mang tính dỉ truyền
oMghiên cứu mới của Đại học Y cho thấy, loét dạ
dày tá tràng là bệnh di truyền trội, liên quan tới nhiễm
sắc thê thuờng. Tý lệ mắc bệnh ớ thê hệ con trong các
gia đình có lưu truyền gene bất thường là gần 47%. Đây
là những công bố đầu tiên về tính di truyền của loét dạ
dày tá tràng ớ người Việt Nam.
- Bệnh di truyền suốt qua các thế hệ, theo kiêu trội.
Đàn ông hay bị bệnh gấp đôi phụ nữ.
- Nếu bố và mẹ cùng bị loét dạ dày tá tràng, thì
nguy co mắc bệnh ò con tăng cao hơn, và bệnh cUng
khởi phát sớm hơn.
- Bệnh hay xuất hiện nhất ớ độ tuối 1 6 - 3 9 (gần
53%), chi 5% khởi phát ớ độ tuổi dưới 15.
Nhóm tác giả di dến kết luận: Cần chú ỹ khai thác
tiền sứ cúa các bệnh nhân loét dạ dày tá tràng, để phát
hiện các ca bệnh mang tính di truyền. Đối với những
nguôi này, cần tiến hànli xét nghiệm sàng lọc cho anh
BỆNH TIÊU HÓA
chị em ruột, nhằm phát hiện sớm các cá thế mang gene
bệnh tiềm tàng nhưng chưa biếu hiện. Điều này sẽ giúp
bác sĩ áp dụng kịp thời các biện pháp dự phòng và điều trị.
Loét dạ dày tá tràng được xếp vào nhóm các bệnh
mang tính gia đình. Trên thế giới, đã có một số công
trình nghiên cứu về tứih di truyền cúa bệnh. Nhiều ỹ
kiến cho rằng, loét dạ dày tátràng có thế di truyền theo
kiểu đa nhân tố, nhưng cũng có nghiên cứu thì lại kết
luận bệnh di truyền kiêu trội theo nhiễm sắc thể thường.
I^QII
Tù sách Y HỌC PHổ THÕNG
Những điều cần biết khi dùng
thuốc qua đuờng tiêu hóa
ĩ y i ệ n nay, nhiều người cho rằng: phái tiêm
thuốc mới chóng khói bệnh. Tiêm thuốc, truyền nước
biển như là “mode” trong chữa bệnh. Điều này không
phù hợp với thực tế, thậm chí bệnh nhân dễ bị tai biến
do thuốc gây ra.
Dùng thuốc qua đường tiêu hóa không những có
tác dụng điều trị các bệnh mãn tính mà còn có khả
năng cấp cứu mà không cần tiêm. Vì vậy, chúng ta
nên biết những điều cần biết về cách dùng thuốc qua
đường tiêu hóa.
Các đường vào của thuốc qua cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa gồm 2 phần, tạng rỗng bắt đầu
từ miệng qua thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, đến
hậu môn; tạng đặc gồm gan, lách, tụy. Thuốc tác động
đến từng bộ phận và đường vào cũng liên quan đến nó.
Bệnh ớ miệng được 2 chuyên khoa chăm sóc: răng
hàm mặt và tiêu hóa. Một số thuốc có tác dụng ngay tại
miệng, do ngấm qua niêm mạc vào máu hoặc tác dụng
BỆNH TIÊU HÓA
4
tại chỗ. Ví dụ, ngậm Adalat dưới lưỡi đế cấp cứu huyết
áp cao, ngậm Niuoglycerin đê chữa bệnh mạch vành,
thuốc bôi miệng Daktarin Oralgel đế chữa tua ớ tré em.
Với bệnh thực quán, người ta tiêm thuốc đế làm xơ hóa
tĩnh mạch trong bệnh giãn tính mạch gây cháy máu, hoặc
bơm qua ống thông khi bệnh nhân không ăn uống được.
Đến dạ dày, nhiều thuốc được dùng là các thuốc
có tác dụng tại chỗ, làm bàng niêm mạc như Bismuth,
thuốc trung hòa axít như Mylauta, Phosphalugel, các
thuốc kháng sinh tiêu diệt vi trùng như Gastrostat.
Ruột non cũng là nơi thuốc ngấm qua thành ruột
vào máu đế chữa nhiều bệnh khác, và có tác dụng toàn
thân. Một số thuốc lưu giữ chú yếu ớ ruột, rất ít ngấm
qua niêm mạc, đế chữa bệnh trong ruột như: Pugacar
làm liệt hệ thần kinh ớúa giun, Neomycin dùng trong
hôn mê gan.
Ruột già ít có khả nẳng tiêu hóa, nhưng khi bị
bệnh thuốc tác dụng ớ đây là chính. Đế chữa táo bón,
thầy thuốc dùng Igol từ thảo mộc, để tăng khối lượng
phân. Duphalac là thuốc nhuận tràng rất tốt, dùng cho
mọi đối tượng người già, trẻ em, bệnh nhân tiểu đường.
Nó là một trong các thuốc chính đê chữa hôn mê gan.
Người ta dùng thuốc qua đường trực tràng Dafalgan
cho người lớn, tré em, để hạ sốt, giám đau. Các thuốc
chữa trĩ có nhiều loại đặt cũng có tác dụng tốt. Đặc
biệt, khi tré em, người lớn uống thuốc mà hay để bị
IQ I
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
nôn mất thuốc, nhà sán xuất đã chế ra loại Compazine
đặt hậu môn rất tiện lợi để chống nôn. Thuốc mỡ nhu
Preparation H, Proctolog cũng rất có tác dụng.
Tại sao phải dùng thuốc qua đường tiêu hóa?
Đây là đường dùng tiện lợi và thông thường nhất,
không phải bận rộn tiêm và tiết kiệm chi phí. Người
bệnh lại có thê mang theo người để tự sử dụng.
Thuốc tác dụng qua đường uống thường chậm,
vì vậy dẽ theo dõi tác dụng ngoài ỹ muốn, dễ cấp cứu
khi ngộ độc. Phưong pháp rứa dạ dày đế loại trừ thuốc,
cũng đã cứu khói nhiều người mới ngộ độc.
Thuốc có thời gian tác dụng lâu dài (thời gian thuốc
còn trong cơ thê 1/2) thường được áp dụng cho đường
uống Amlodipine, thuốc ức chế canxi thế hệ mới, có thòi
gian bán húy 34 - 58 giờ, cho phép uống 1 viên/ngày,
vẫn có tác dụng kiếm soát huyết áp rất tốt.
Cũng có loại thuốc không có dạng tiêm, mà chỉ có
dạng uống như: Sulỉamid chữa đái tháo đường tỹp 2.
Thuốc có thời gian bán hủy tác dụng ngắn như Daonit
rất phù hợp cho ngưòi lớn tuổi, vì dễ theo dõi và tránh
được tác dụng ngoại ỹ: hạ đường huyết.
Thuốc qua đường u...
Y h ọ c phổthổng
Nguyễn Bảo
(Biên soạn)
Bệnh
HẾUltóA
PHÒNG &ĐIÊU TRỊ
BỆNH TIÊU HÓA
CÁCH PHÒNG & ĐIỂU TRỊ
NHÀ XUÃT BÁN VĂN HÓA - THÔNG TIN
43 Lò Đúc - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: LÊ TIẾN d ũ n g
Chịu trách nhiệm bản thảo: vũ THANH VIỆT
Biên tập: Tuấn Việt - Xuân Mĩ
Thiết kế bìa: Tân Việt - Chế bản: Đại Minh Books
In 1.500 cuốn khổ 13 X 20.5cm
tại Công ty TNHH In TM và dịch vụ Nguyễn Lâm
QĐXB số: 248A^HTT-KH. số ĐKXB 272 - 2014/CXB/96 - 12A^HTT
Cấp ngày 06 tháng 03 năm 2014
In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2014
Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG
BỆNH TIÊU HÓA
CÁCH PHÒNG & ĐIỀU TRỊ
Nguyễn Bảo (Biên soạn)
NHÀ XUẤT BẢN VẢN HÓA - THÔNG TIN
BỆNHTIÊU HÓA
*
Phầnl
Những điều cần biết
về các bệnh đường tiêu hóa
ĩ í n h trạng bệnh tiêu hóa ờ nước ta hiện ở
mức nặng. Khoảng 60 - 70% dân số bị nhiễm khuấn
Helicobacter pylori (HP) - nguyên nhân chính gây loét
dạ dày, tá tràng.
Các bệnh tiêu hóa (như bệnh dạ dày, ruột, thực
quán, gan, mật, lách, tụy, trĩ...) đang là mối quan tâm
hàng đầu của ngành y tế. Khoáng 7 - 15% dân số bị
loét dạ dày - tá tràng, ơ trẻ dưới 5 tuối, tỷ lệ này cũng
khá cao, có liên quan tới chứng đau bụng tái diễn. Bệnh
gây nhiều biến chứng nguy hiểm như chảy máu, thủng
dạ dày. Viêm loét dạ dày - tá tràng có thế khói sau khi
được điều trị nội khoa (tỳ lệ khỏi 80 - 90%), tuy nhiên,
giá thành điều trị khá cao, riêng chi phí cho 4 loại kháng
sinh là 1,6 triệu đồng/tháng.
Vi khuấn HP không chi gây viêm loét dạ dày - tá
tràng, mà còn liên quan tới sụ phát sinh ung thư dạ dày.
T ỷ lệ dân số nhiễm HP càng cao thì tý lệ mắc bệnh
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
này càng cao. Bệnh thường được phát hiện ớ giai đoạn
muộn. Nếu được phát hiện và xứ ưí sớm, bệnh nhân có
thể kéo dài tuối thọ thêm 10-15 nàm.
Nhiều bệnh về tiêu hóa khác như sỏi mật, polip đại
tràng... cũng rất dễ phát ưiến thành ung thư đại tràng,
nếu không được điều trị kịp thời.
Nguyên nhân gây các bệnh tíêu hóa là do môi
trường đang bị ô nhiễm nặng, vệ sinh ăn uống không tốt.
Điều này gây nên những biến đổi sinh lỹ của dạ dày, gây
viêm, loét và ung thư dạ dày, gan, đại tràng... Vì vậy, bảo
đảm chế độ àn thích hợp cũng là điều rất cần thiết cho
mọi người. Không nên tự mua thuốc điều trị hoặc uống
không đúng theo đơn cúa bác sĩ, để trárủi tình trạng bệnh
nặng hơn, tái đi, tái lại hoặc kháng thuốc.
BỆNH TIÊU HÓA
*
Bệnh loét đường tiêu hóa
Loét đường tiêu hóa là gì?
Loét đường tiêu hóa là sụ hình thành một lỗ trên
lớp niêm mạc lót bên trong dạ dày, tá tràng hoặc thực
quán. Tùy vị trí mà ta có loét dạ dày, loét tá tràng và
loét thực quán. Tmh trạng loét xảy ra khi lớp niêm mạc
lót bên trong các co quan này bị mòn đi, bởi do dịch
tiêu hóa có tính acid do tế bào dạ dày tiết ra.
Loét đường tiêu hóa là một bệnh khá phổ biến.
Các tiến bộ y học gần đây đã giải thích được nhiều về
cơ chế hình thành của ố loét. Điều này đã mỏ ra nhiều
chọn lựa trong việc điều trị căn bệnh này.
Các nguyên nhân của loét đường tiêu hóa
Nhiều năm trước đây, nhiều người tin rằng sự tiết
acid quá mức là nguyên nhân chính gây loét. Dựa vào
đó, việc điều trị được nhấn mạnh vào sự trung hòa và
ngân chặn sự tiết acid của dạ dày. Hiện nay, các nghiên
cứu cho thấy nguyên nhân hàng đầu của bệnh loét là do
dạ dày bị nhiễm một loại vi khuấn có tên “Helicobacter
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
pylori” mặc dù acid vẫn được coi là yếu tố đóng vai trò
trực tiếp trong sự hình thành ố loét.
Một nguyên nhân quan trọng khác gây ra loét, đó
là việc sứ dụng thường xuyên các loại thuốc kháng viêm,
thường là thuốc kháng viêm không steroid (NSAID)
như aspirin. Hút thuốc cũng là một nguyên nhân quan
trọng và dễ gây thất bại trong điều trị.
Vi khuấn H. pylori rất thường gặp, đây cũng là
nguyên nhân chính gây bệnh cho hầu hết bệnh nhân
được xác định là đau dạ dày, loét dạ dày và tá trỀmg.
Quá trình nhiễm bệnh thường kéo dài trong nhiều năm
và 10% đến 15% số người nhiễm sẽ dẫn đến loét. Mặc
dù, cơ chế gây bệnh cúa H. pylori vẫn chưa được hiểu
rõ, nhưng sự loại bó vi khuấn này bằng kháng sinh đã
cho thấy hiệu quá cao trong việc chữa trị và ngăn ngừa
loét tái phát.
NSAID là thuốc dùng điều trị viêm khớp và các
tình trạng thương tốn viêm nhiễm khác trong cơ thế,
Aspirin, Ibuprolen (Motrin), Naproxen (Naprosyn) và
Etodolac (Lodine) cũng là một số thuốc thuộc loại này.
Prostaglandin là các chất đóng vai trò quan trọng trong
việc giúp niêm mạc một chống lại sự làm mòn cúa
acid. NSAID gây loét bằng cách ức chế tác động của
prostaglandin trong dạ dày.
Hút thuốc không chi gây loét, mà còn làm gia tăng
nguy cơ biến chứng cúa loét như xuất huyết, tắc nghẽn
BỆNH TIÊU HÓA
*
dạ dày và thúng dạ dày, đồng thời cũng là nguyên nhân
hàng đầu gây thất bại trong điều trị.
Trái với quan niệm thông thuờng, thì rượu, cà phê,
cola, thức ăn cay và caíĩeine, chưa được chứng minh vai
trò trong sự tạo thành loét. Tương tự, cũng không có
bằng xác thực nào cho thấy các stress trong cuộc sống
và tỹp người nào dễ bị các bệnh loét đường tiêu hóa.
Triệu chứng của loét?
Triệu chứng của loét đường tiêu hóa rất đa dạng,
nhiều bệnh nhân chỉ cảm thấy hơi khó tiêu và khó chịu,
còn một số người cám thấy rát bỏng vùng thượng vị
hoặc đau (do đói) 1 đến 3 giờ sau bữa ăn và lúc nứa
đêm, hay ợ hơi, ợ chua. Những cơn đau này thường
nhanh chóng biến mất khi ăn hoặc uống thuốc trung
hòa acid.
Cơn đau cúa loét liên quan rất ít đến sự hiện diện
hoặc mức độ trầm trọng cúa các ổ loét, nên một số bệnh
nhân vẫn đau kéo dài ngay cả sau khi đã được điều
trị khỏi hoàn toàn, còn những bệnh nhân khác có thể
không đau ngay cả khi ổ loét tái phát. Các ố loét đường
tiêu hóa có thế xuất hiện và biến mất tự nhiên mà người
bệnh không hề hay biết, trừ khi một biến chUng trầm
trọng xáy ra (như xuất huyết hoặc thủng).
o
Tù sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Bệnh loét dạ dày tá tràng
q ) ạ dày - tá tràng đóng vai trò quan trọng ưong
tiêu hóa thức ăn. Thức àn sau khi được cắt nhỏ, nghiền
nát, nhào quyện với nước bọt ớ miệng, vào đến dạ dày
tá tràng nó được các dịch tiêu hóa ớ đây tiếp tục quá
trình tiêu hóa. ơ dạ dày, dịch tiêu hóa chủ yếu là dịch
vị, ớ tá tràng có dịch tá tràng, dịch tụy, dịch mật từ
túi mật đổ xuống. Đau dạ dày là từ dân gian đế chi
quá trình bệnh lỹ (viêm, loét, ung thư...) không chi ở
vùng dạ dày mà còn cả ớ vùng tá tràng. Hai vùng này
có nhũng điếm chung nhưng cUng có nhiều điếm khác
nhau về quá trình bệnh ly.
Loét dạ dày - tá tràng thường xáy ra ở người lớn
tuối (thanh niên, trung niên, người già). Loét tá tràng
thường gặp ở người tré hơn (thanh niên, trung niên),
còn loét dạ dày thì gặp ớ người lớn tuối hơn (trung niên,
người già).
Nguời loét dạ dày tá tràng có đặc điếm là hay đau
bụng vùng trên rốn (thượng vị) nhiều nàm, từ vài ba
năm đến hàng chục năm. Đau có tính chu kỹ, thường
BÊNH TIÊU HÓA
về mùa rét, mỗi lần 5 - 1 0 ngày. Các đợt đau thường
liên quan đến các chấn thương tinh thần, t'mh trạng
càng thảng thần kinh, thường về mùa rét. Loét tá tràng
thường đau khi đói, đau về đêm, ân vào bớt đau, nên
người bệnh luôn có sẵn thức ăn (kẹo, bánh quy...) bên
mình. Loét dạ dày ít đặc điếm này. Do vậy, đau có chu
kỹ với những đặc điểm trên là triệu chứng quan trọng
nhất của loét dạ dày - tá tràng.
Chẩn đoán
Để chấn đoán bệnh nhân có bị loét dạ dày tá tràng
cần phái chụp X quang có cản quang (baryt) vùng dạ
dày - tá tràng hoặc nội soi tìm ổ loét.
Đối với loét dạ dày, ố loét có thế ở vùng bờ cong
nhó, bờ cong lớn hoặc vùng hang vị, môn vị. Loét bờ
cong nhò dễ bị ung thư hơn loét bờ cong lớn. Loét vùng
môn vị tá tràng dễ gây hẹp môn vị, sa dạ dày. Chi có
loét dạ dày mới có thể ung thư hóa, còn hầu như không
gặp điều đó ở loét tá tràng.
Hình ảnh ố loét trong loét tá tràng có thế giúp đánh
giá kết quá điều trị và tiên lượng bệnh. Xét nghiệm dịch
vị trong loét dạ dày ít có thay đối có giá trị. Có thế thấy
độ axit bình thường, hoặc có thế giám ít hoặc tăng. Trong
loét hành tá tràng, độ axit tăng rất rõ. Loét dạ dày dễ bị
thúng hơn loét hành tá tràng, còn loét hành tá tràng hay
thấy cháy máu hơn. Biến chUng cháy máu hoặc thủng
nhiều khi là biểu hiện đầu tiên ở người bệnh không có
Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG
triệu chứng rõ ràng, và chính do các biến chứng này mới
xác định được bệnh cho người bệnh.
Loét dạ dày có thể kết hợp với xo gan. T ỹ lệ này
gặp ớ 10 - 17% người xơ gan trên thế giới, ớ nước ta
10% có thế loét với u tụy gây ra tình trạng bệnh lý do sự
hình thành một hoặc nhiều khối u ớ tụy hoặc tá tràng,
gọi là u gastrin, với các dấu hiệu: tiêu chảy, phân mỡ, dạ
dày tá tràng có nhiều ổ loét ở những vị trí bất thường,
ơ nước ta, các nghiên cứu cũng phát hiện được một số
bệnh nhân có hội chứng này.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây loét được nói đến rất nhiều, nhưng
nguyên nhân đầu tiên mà tất cả mọi người nghĩ đến đó là
loét dạ dày - tá ưàng liên quan đến vấn đề ăn uống (uống
nhiều rượu, ăn nhiều gia vỊ, chất kích thích dạ dày...).
Một nguyên nhân nữa là do tình trạng tinh thần
(loét thường hay có ớ người có chấn thương tình cám,
hay xúc động, sốc tinh thân, kết luận cúa y học mới nhất
hiện nay cho rằng, nguyên nhân sinh bệnh do mất thăng
bàng giữa yếu tố gây loét và yếu tố chống loét được nêu:
dịch vị có độ axit cao vượt quá khá năng chống đỡ của
niêm mạc hành tá tràng bình thường, hoặc do niêm mạc
dạ dày giám dinh dưỡng nên không đủ khả năng chống
lại dịch vị có độ axit ít hoặc bình thường.
BỆNH TIÊU HÓA
Xử trí
4
Từ những nguyên nhân trên nên đã có nhiều cách
xứ trí khác nhau, phố biến nhất truớc đầy là cắt bò phần
dạ dày mà người ta cho rằng tiết nhiều axit (vùng hang
vị, phân dạ dày phía dưới): phẫu thuật Bilroth 1, Bilroth
2, Polya, Pinsterer... hoặc cắt dây thần kinh 10 đoạn phân
nhánh cho dạ dày... nhưng kết quá đạt được không như
mong muốn. Từ klii y học có phát minh, coi niêm mạc dạ
dày là nơi ũếp rửiận histamin nên đã có biện pháp dùng
các thuốc ức chế nơi tiếp nhận histamin
burinamide,
metiamide và mới nhất là ciméúdine (biệt dược là tagamet)
rồi ranitidine (biệt dược là azantac, raniplex).
Tiếp sau đó, các nhà khoa học đã phát hiện ra
Helicobacter pylori, và chứng minh chính vi khuấn này
là nguyên nhân gây viêm loét, đã tạo nên sự đối mới
hoàn toàn trong diều trị bệnh này.
Hiện nay, người ta điều trị loét dạ dày - tá ưàng
bằng kháng sữứi Amoxicillin, Klien có tác dụng với H.
Pylori, thuốc ức chế nơi tiếp nhận histamin H^: Cimétidine
(tagamet), Nanitidme (azantac), thuốc chống tiết dịch dạ dày
(ức chế bơm proton); Lanzor, Omez... thuốc kháng axit và
băng rịt: GasUopuIgite, Kremil s, Maalox, Phospha lygel...
Phẫu thuật được dùng cho những trường hợp ố
loét xơ chai, không điều trị khói bằng phương pháp nội
khoa, có biến chứng: thủng dạ dày, hẹp môn vị... Người
bệnh được khuyên có chế độ ăn Uống, làm việc, nghi
ngơi hợp lỹ, phù hợp với tình trạng sức khỏe.
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Làm thế nào để xác định
bệnh đau dạ dày?
Hói: Khi có người thân mà lúc đói hay no quá là
bị buồn nôn, phái ăn liên tục vì bị cồn cào trong dạ dày.
Đ i nội soi có kết quá sung huyết hang vị, dã uống rất
nhièu thuốc và rất nhièu bác sy, nhưng chi đỡ được 1 - 2
tuần tình trạng cũ lại tiếp dién. Đó có phái dau dạ dày
không, vì không cám thấy dau ở dạ dày chí buồn nôn
hoặc nôn ra toàn nước miếng? Cách chữa £r/ và cách ăn
uổng cần tránh lứiững thư gì, bệnh có đièu trị hết dược
không?
Trả lời
1. Cá triệu chứng và kết quả soi cho thấy nguời đó
bị bệnh dạ dày , đó là bệnh “ viêm hang vị” đây là vùng
ớ gần cuối cúa bao tứ - dạ dày. Trong viêm loét dạ dày
và nhất là viêm hang vị, có nguyên nhân do vi khuấn
Helicobacter Pylori, nên nếu điều trị thuốc không đúng
thì chắc là sẽ không hết bệnh đâu.
2. Việc chấn doán không chí căn cứ vào hình ảnh
tốn thuơng, mà phái lấy mẫu sinh thiết ở dạ dày đế xét
BỆNH TIÊU HÓA
nghiệm nữa. Do vậy, khi soi nếu có tốn thương nghi
ngờ, bác sy phải lấy mẫu làm xét nghiệm đế có khảng
định chấn đoán và giúp cho bác sy điều trị kê đơn.
3.
Điều trị và ăn uống phải căn cứ vào kết luận
soi dạ dày. Tuy nhiên, viêm hang vị cUng đú đế lưu ỹ
người đó nên kiêng uống rượu, giảm gia vị chua, giảm
cà phê, thuốc và các chất kích thích.
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÕNG
Phương pháp điều trị bệnh
loét đường tiêu hóa
{J\Ẳục đích của điều trị loét là làm hết đau và
ngăn chặn các biến chứng nhu xuất huyết, tắc nghẽn và
thủng. Buớc đầu tiên cúa công việc điều trị bệnh luôn
là làm giám các yếu tố nguy cơ (NSAID và hút thuốc),
buớc tiếp theo mới là dùng thuốc điều trị.
Thuốc chống acid là trung hòa acid trong dạ dày,
một số thuổc thuộc loại này nhu: Maalox, Mylanta và
Amphojel điều trị an toàn và hiệu quá. T uy nhiên, tác
dụng trung hòa cúa những loại thuốc này thường ngắn
và đòi hỏi phái uống thuốc thường xuyên. Các chất
chống acid như Magie chứa trong Maalox và Mylanta có
thê gây tiêu cháy, trong khi nhôm chứa trong Amphojel
có thế gây táo bón. Vết loét thường tái phát khi ngưng
sủ dụng các loại thuốc này.
Các nghiên cứu nghiên cho thấy có một loại protein
trong dạ dày, gọi là histamin, có tác dụng kích thích
sự tiết acid dạ dày. Các thuốc kháng histamin (thuốc
kháng H2) được tạo ra nhằm ngăn chặn tác động cứa
BỆNH TIÊU HÓA
histamin lên tế bào dạ dày, do đó làm giám sự tiết acid.
Một số thuốc thuộc loại này là: cimetidine (Tagamet),
ranitidine (Zantac), nizatidine (Axid) và famotidine
(Pepcid). Mặc dù thuốc kháng H2 rất hiệu quá trong
việc làm lành vết loét, nhưng chúng vẫn chi có vai trò
rất giới hạn trong tiệt trừ H.pylori, nếu không phối hợp
với kháng sinh. Do đó, loét thường tái phát khi ngưng
sử dụng các thuốc này. Nhìn chung, các loại thuốc này
dễ uống, và chi có ít tác dụng phụ ngay cả khi sứ dụng
lâu dài, nên chí một số hiếm trường hợp bệnh nhân bị
nhức đầu, choáng váng, hôn mê hoặc ảo giác. Dùng
cimetidine dài ngày, có thê gây liệt dương hoặc vú to,
và cá cimetidine và ranitidine đều ảnh hướng đến khả
năng kiếm soát mức men cứa cơ thế. Những bệnh nhân
uống thuốc này và uống rượu,' có thế có nồng độ men
trong máu cao hơn. Những thuốc trên cũng có thể ảnh
hướng đến tác dụng của gan với các thuốc khác như;
Dilantin, Coumadin và theophylline. Vì vậy, liều lượng
thông thường của các loại thuốc này nên được điều
chỉnh phù hợp.
Omeprazole (Prilosec) hiệu quả hơn thuốc kháng
H2 trong việc ngẳn chặn sự tiết acid. Prilosec gần như
làm dạ dày ngung tiết acid hoàn toàn. Mặc dù, Prilosec
có hiệu quả tương đương với thuốc kháng H2 trong
điều trị loét dạ dày và tá tràng nhưng nó có hiệu quả
hơn hẳn trong điều trị loét thực quán, vì loét thực quán
rất nhạy cám, dù với chi một lượng nhỏ acid. Do đó, tác
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
dụng ngăn chặn hoàn toàn sự tiết acid của Prilosec rất
quan trọng trong làm lành loét thực quản. Mặc dù, acid
hoàn toàn không được tiết ra, nhưng nó vẫn không hề
ánh hưỏng đến sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn cúa bệnh
nhân. Prilosec cũng rất dễ uống. Với liều lớn, Prilosec
có thế gây những khối u nhó trong ruột chuột. Tuy
nhiên, chưa phát hiện được trường hợp nào xáy ra trên
người ngay cả khi dùng thuốc dài ngày. T hế nhưng,
thời gian an toàn trong điều trị Prilosec dài ngày vẫn
chưa được công bố chắc chắn.
Sucralỉate (Carafate) và misoprostol (Cytotec) là
những chất làm vững chắc niêm mạc ruột nhằm chống
lại sự tấn công của dịch tiêu hóa acid. Carafate bao phủ
bề mặt Ố loét và kích thích sự lành. Loại thuốc này
có rất ít tác dụng phụ, thường gặp nhất là táo bón và
ảnh hưòng đến sự hấp thu các loại thuốc khác. Gytotec
là một chất giống prostaglandin, thường được dùng để
chống lại khả năng gây loét cúa NSAID. Các nghiên
cứu cho rằng, Cytotec có thể giúp những bệnh nhân
dùng NSAID lâu ngày để ngăn chặn loét. Tuy nhiên,
nó có thể gây tác dụng phụ là tiêu cháy. Cytotec cũng
có thê gây sảy thai ớ phụ nữ có thai, và không nên dùng
cho phụ nũ đang trong tuổi sinh đé.
Có nhiều người bị nhiễm H. pylori mà vẫn không
hề bị thương tổn hay loét. Trong những trường hợp
này, việc dùng kháng sinh điều trị chưa cho thấy hiệu
quá rõ ràng. Nên cần phái có nhiều nghiên cứu hơn để
BỆNH TIÊU HÓA
«
trả lời cho câu hói này. Những bệnh nhân bị loét và
nhiễm H.pylori nên được điều trị kết hợp với kháng
sinh, nhưng đôi khi cũng rất khó trong việc tiêu diệt
hoàn toàn H. pylori. Việc điều trị cũng đòi hỏi sụ kết
hợp của nhiều loại kháng sùih bên cạnh kết hợp với
Prilosec, thuốc kháng H2 hoặc Pepto- Bismol. Các
kháng sinh thường dùng là: tetracycline, amoxicillin,
metronidazole (Plagyl) và clarithromycin (Biaxin). Tiêu
diệt H. pylori chính là ngăn ngừa loét tái phát (vấn đề
chính cúa tất cả các phương thức điều trị khác). Sự loại
bó vi khuấn này cũng làm giảm nguy cơ tiến triến thành
ung thư dạ dày trong tương lai. Điều trị bằng kháng
sinh có thế gây phán ứng dị ứng, tiêu chảy, và đôi khi
gây viêm kết tràng do kháng sinh.
Chưa có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy việc
giới hạn chế độ ăn hay thực hiện chế độ án nhạt, có vai
trò trong việc làm lành vết loét. Cũng chưa có sự chứng
minh nào về mối quan hệ giữa bệnh loét đường tiêu hóa
với lượng cồn hoặc cà phê uống vào. Tuy nhiên, vì do
cà phê đã kích thích dạ dày tiết acid và cồn nên có thế
gây viêm dạ dày, vì vậy tốt nhất là nên giới hạn lượng
cồn và cà phê uống vào.
Tóm tắt
Với các phương pháp điều trị hiện nay, bệnh nhân
bị loét đường tiêu hóa có thế sống bình thường mà
không bị thay đối cách sống hoặc giới hạn trong chế độ
1^^
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
ăn. Hiit thuốc làm tăng nguy cơ biến chứng của bệnh
loét đường tiêu hóa và gây thất bại trong điều trị. Diệt
trừ hoàư toàn H. pylori, không chí làm lỀưrh vết loét, mà
còn ngăn chặn loét tái phát.
Những điều cẩn nhớ về bệnh loét đường tiêu hóa
Loét đường tiêu hóa có thế xảy ra ớ dạ dày, tá
tràng hoặc thực quán.
Sự tạo thành loét có liên quan đến vi khuấn H.
pylori trong dạ dày, vì vậy phái sứ dụng thuốc kháng
viêm và không hút thuốc.
Đau do loét có thể không liên quan đến sự hiện
diện hoặc mức độ trầm trọng cúa ổ loét.
Chấn đoán loét được thực hiện với X quang dùng
barium, hoặc nội soi.
Biến chứng của loét gồm xuất huyết, thúng và tắc
nghẽn dạ dày.
Điều trị loét nên kết hợp thuốc kháng sinh đê diệt
trừ H. pylori, loại bỏ các yếu tố nguy cơ, và ngăn chặn
các biến chứng.
BỆNH TIÊU HÓA
4
Trào ngược dạ dày thực quản
co thể gây tư vong
'^0írong lúc bú mẹ, tré hay bị sặc sữa, tím tái và
ngưng tim. Các bác sĩ phát hiện cháu ưào ngược dạ dày
thực quán bấm sinh.
Ngay từ khi chào đời, tré đã hay bị sặc sữa mỗi khi
bú nhanh. Nhiều khi, bố mẹ cúa tré nghĩ đó là chuyện
bình thường nên không đưa đi khám. Khi vào bệnh
viện, các bác sĩ đã hướng dẫn gia đình cho trè ân bằng
cách bơm ống thông mũi - dạ dày hoặc đút từng muỗng
một. Tuy nhiên, nhiều tré do chứng viêm phối quá
nặng, hít phái dịch trớ, nên không thê chũa trị kịp thời.
Chứng trào ngược dạ dày thực quán của tré em
cũng khá phổ biến. Đó là tình trạng dịch tiết dạ dày trào
ngược lên thực quản. Nó có thể là hiện tượng sinh lý,
cũng có khi là triệu chứng cúa một bệnh nào đó. Chính
vì vậy, mà nhiều bậc cha mẹ xem thường và đế xáy ra
hậu quả nghiêm trọng.
Trào ngược dạ dày thực quán sinh lý thường
xảy ra khi tré ản quá no, nuốt hơi nhiều trong klii bú.
l^lỊl
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Trong trường hợp này, tré sẽ trớ ngay sau bữa ăn hoặc
lúc đang bu, số lần bị rất ít, thoáng qua hoặc mỗi ngày
một lần. Bán thân chứng trào ngược sinh lý không nguy
hiểm, nhưng có thê gây sặc và dẫn đến tứ vong do tắc
đường thớ, nên cần được cấp cứu nhanh.
Nguyên nhân gây trào ngược dạ dày thực quản
bấm sinh là do trương lực cơ vòng co bóp thực quán
quá yếu, không giữ được thức ăn lạí trong dạ dày. Hiện
tượng này thường gặp ớ tré sinh non, và trẻ bại não.
Trào ngược cQng hay gặp trong nhiều bệnh lỹ nhi khoa
như bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tai mũi họng, viêm
não hoặc chấn thương sọ não.
Trong trào ngược bệnh ly, triệu chứng này hay
xáy ra thường xuyên, thường là khi thay đối tư thế. Tré
có thế bị nôn ra máu, nuốt khó, khóc nhiều, từ chối bú,
uốn éo vặn người... Trào ngược dạ dày thực quản cũng
có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề, nếu tré không
được điều trị sớm.
Dịch dạ dày có axít, nên lâu ngày sẽ gây loét niêm
mạc thực quản, dẫn đến hẹp thực quản. T ừ đó, tré sẽ
bú klió, nuốt đau và ngày càng nôn nhiều hơn, rồi đến
lúc tré ọc sữa hoặc thức ăn qua đường mũi, thì bệnh đã
ớ giai đoạn nặng. Nếu trào ngược xảy ra trong lúc trẻ
ngii nằm đầu thấp, mà không được phát hiện kịp thời
llù cUng dẫn đến tU vong do tắc thở.
BỆNH TIÊU HÓA
4
Vì vậy, tré bị trào ngược cần được đưa đi khám
sớm. Nếu được điều trị trước 12 tháng tuối, cơ vòng
thực quán của tré sẽ co bóp trở lại như tré bình thường.
Sau thời điếm này, khá năng khỏi bệnh sẽ rất thấp,
tré không đú dinh dưỡng nên chậm phát triến, sức đề
kháng kém và dễ mắc các bệnh nhiễm ưùng.
Những nguyên tắc chăm sóc trẻ bị trào ngược dạ
dày thực quản
- Phái chia khấu phần thành nhiều bữa nhó và nên
cho tré àn đặc hơn bình thường đế không bị trào.
- Tránh môi trường có khói thuốc lá, không cho trẻ
dùng những thức ăn có chất kích thích như chocolate,
nước trà, cà phê. Cho trẻ ăn đồ dễ tiêu để hạn chế tình
trạng đầy hơi.
- Khi ngủ, đặt tré nằm ớ tư thế đầu ngú'a cao, đầu
- ngực - cố thẳng trục.
- Cho tré đi lại nhiều hơn nằm, vì tư thế nằm dễ
gây trào ngược. Mặt khác, ớ tré nằm nhiều, trương lực
cơ toàn thân, trong đó có cơ vòng thực quản, sẽ yếu hơn
những trẻ khác, dễ dẫn đến trào ngược.
- Khi trẻ trào ngược có biếu hiện tím tái, ngưng
thớ, cần kích thích thở bằng cách vuốt nhẹ lưng và xoa
lòng bàn chân. Nếu tré bị sặc sữa, phải vỗ lưng và cho
nằm nghiêng để sữa trào ra. Ngay sau khi sơ cứu, phải
đưa tré đến bệnh viện gần nhất.
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Phương pháp chữa loét dạ dày tá tràng
những nảm 70 - 80, việc chữa bệnh viêm
loét dạ dày tá tràng, có sứ dụng kèm thuốc kháng sinh
bị cho là không bình thường. Thay vào đó, phải dùng
các thuốc ốn định, điều hòa thần kinh rồi đến khi thật
sụ cần thiết mới phẫu thuật, để cắt bỏ bớt các nhánh
thần kinh X chi phối việc tiết dịch vị.
Vậy mà gần 20 năm sau, việc dùng kháng sinh trong
điều trị bệnh lỹ tiêu hóa lại trò thàiứi phố biến, thậm chí
không thê thiếu. Vậy điều gì đã xảy ra trong y học?
Các phát hiện về vi sinh trong những nẳm 80 tình
cờ nhận thấy có sụ hiện diện của vi kliuấn Helicobacter
Pylori (HP) trong các máiứi sinh thiết dạ dày.
Qua idiiều kháo CIỈU y học, giờ đây các nhà khoa
học đã có thế kết luận rằng, chính chúng là nguyên nhân
gây ra viêm loét dạ dày tá tràng. Các vi khuấn HP từ
ngoài xâm nhập vào tế bào niêm mạc dạ dày, rồi cư trú
và phát triển tại đó, gây ra viêm và teo niêm mạc dạ dày,
sau đó, tùy theo độc lực của các chủng vi khuấn và các
yếu tố nội tại cụ thể cùa từng người bệnh mà gây ra loét.
BỆNH TIÊU HÓA
Một số yếu tố trung gian do vi khuấn HP tiết ra,
lại là các yếu tố gây ung thu. Các cuộc theo dõi liên tục
và làu dài đã chứng minh rằng, 90% các ung thu dạ dày
là có liên quan đến HP và 3/4 số ung thu dạ dày mới gặp
hiện nay thấy ở vùng châu A.
Tỹ lệ nhiễm HP chung ớ nguời Việt Nam khoảng
70% và gặp trong 70% số nguôi bị loét dạ dày, gặp 90%
trong số loét hành tá tràng. Không thế đoán trước được
rằng người nào bị nhiễm HP sẽ trớ thành ung thư, vì
vậy cách tốt nhất đế phòng tránh ung thư là phải diệt
trừ HP ngay từ đâu.
Việc điều trị nhiễm HP cần được tiến hành ờ những
người có bệnh dạ dày tá tràng, có u lympho ở niêm mạc
đường tiêu hóa, hay người có tiền sứ gia đình ung thư
đường tiêu hóa, ỏ nguời xét nghiệm thấy vi khuấn dù
chưa mắc bệnh.
Tlmốc điều trị là kháng sinh mà chù yếu là
Metronidazole hoặc Clarithromycin, nhưng hiện nay
hiện tượng đề kháng thuốc đã dần xuất hiện (47 - 86%
với Metronidazol, 20% với Clarithromycin và 69% vói
Amoxiciclin) làm ảnh hướng nhiều đến kết quả điều trị.
Dùng Clarithromycin đế điều trị có tỹ lệ thành
công cao hon hắn so vói Metronidazol, nhưng hiệu quả
của thuốc sẽ tăng hơn nếu ức chế tiết acid đầy đú bằng
các thuốc ức chế bơm proton đế làm tăng độ pH cùa dạ dày.
1^1
Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG
Các phác đồ điều trị chú yếu hiện nay là sự phối
hợp cúa 3 hoặc 4 loại thuốc trong số: thuốc ức chế bơm
proton - Amoxcycilin - MetronidazoI - Clarithromycin
và Bismuth hay Tetracyclin.
Phuơng thức chung diệt trừ triệu chứng loét dạ
dày, điều trị Helicobacter Pylori ớ bệnh nhân dạ dày tá
tràng có hiệu lực nhất là theo tóm tắt sau:
C hí định tiệt trừ HP: Loét hành tá tràng; loét dạ
dày; viêm teo dạ dày mạn tính hoạt động; u lympho
bào dạ dày hoạt hóa thấp; ung thư dạ dày chẩn đoán
rất sớm; điều trị lâu dài với thuốc chống viêm không
steroid (NSAID) hay có tiền sứ loét truớc khi điều trị.
Có thề dùng trong các trường hợp: Ung thư dạ
dày chấn đoán muộn và đã phẫu thuật; trào ngược dạ
dày thực quản; viêm dạ dày đã điều trị nhiều lần không
giám hay con cái những người bị ung thư dạ dày.
Côngtỉìức diều ũỊ: chọn một ưong các phác đồ sau;
1. ứ c chế bơm proton (PPI) + Clarithromycin
(C) 500mg + Amoxiciclin (A) lOOOmg dùng ngày 2 lần
trong ít nhất 7 ngày.
2. [ PPI + c 500mg + Metronidazol (M) 500mg]
2 lần X 7 ngày.
X
3. [ PPI + Bismuth (B)200 - 400mg + Tetracyclin
(T) lOOOmg + M 500mg] X 2 lần X 7ngày.
BÊNH TIÊU HÓA
X
4. [ PPI + B 200 - 400 mg + T lOOOmg + A lOOOmg]
2 lần X 7 ngày.
5. PPI 2 lần/ngày + [ T 250mg + M 200mg + B
108mg ] X 5 lần X 10 ngày.
Khi điều trị thứ với một phác đồ không thành công
thì thứ đối qua phác đồ khác. Không nên điều trị loét dạ
dày tá tràng với phác đồ chí 1 hay 2 thứ thuốc. Khi thứ
2 phác đồ mà vẫn không thành công, thì cần cấy lại vi
khuẩn và làm kháng sinh đồ.
Ngày nay, y học còn phát hiện ra thêm cá trong
vữa xơ động mạch và nhồi máu cơ tim, cũng thấy có vai
trò cúa vi khuấn HP, vì vậy các bác sĩ tim mạch cũng đă
đến lúc cần phải dự phòng rứiồi máu cơ tim bằng thuốc
kháng sinh.
1^^
Tù sách Y HỌC PHỔ THÔNG
Bệnh loét dạ dày tá tràng
mang tính dỉ truyền
oMghiên cứu mới của Đại học Y cho thấy, loét dạ
dày tá tràng là bệnh di truyền trội, liên quan tới nhiễm
sắc thê thuờng. Tý lệ mắc bệnh ớ thê hệ con trong các
gia đình có lưu truyền gene bất thường là gần 47%. Đây
là những công bố đầu tiên về tính di truyền của loét dạ
dày tá tràng ớ người Việt Nam.
- Bệnh di truyền suốt qua các thế hệ, theo kiêu trội.
Đàn ông hay bị bệnh gấp đôi phụ nữ.
- Nếu bố và mẹ cùng bị loét dạ dày tá tràng, thì
nguy co mắc bệnh ò con tăng cao hơn, và bệnh cUng
khởi phát sớm hơn.
- Bệnh hay xuất hiện nhất ớ độ tuối 1 6 - 3 9 (gần
53%), chi 5% khởi phát ớ độ tuổi dưới 15.
Nhóm tác giả di dến kết luận: Cần chú ỹ khai thác
tiền sứ cúa các bệnh nhân loét dạ dày tá tràng, để phát
hiện các ca bệnh mang tính di truyền. Đối với những
nguôi này, cần tiến hànli xét nghiệm sàng lọc cho anh
BỆNH TIÊU HÓA
chị em ruột, nhằm phát hiện sớm các cá thế mang gene
bệnh tiềm tàng nhưng chưa biếu hiện. Điều này sẽ giúp
bác sĩ áp dụng kịp thời các biện pháp dự phòng và điều trị.
Loét dạ dày tá tràng được xếp vào nhóm các bệnh
mang tính gia đình. Trên thế giới, đã có một số công
trình nghiên cứu về tứih di truyền cúa bệnh. Nhiều ỹ
kiến cho rằng, loét dạ dày tátràng có thế di truyền theo
kiểu đa nhân tố, nhưng cũng có nghiên cứu thì lại kết
luận bệnh di truyền kiêu trội theo nhiễm sắc thể thường.
I^QII
Tù sách Y HỌC PHổ THÕNG
Những điều cần biết khi dùng
thuốc qua đuờng tiêu hóa
ĩ y i ệ n nay, nhiều người cho rằng: phái tiêm
thuốc mới chóng khói bệnh. Tiêm thuốc, truyền nước
biển như là “mode” trong chữa bệnh. Điều này không
phù hợp với thực tế, thậm chí bệnh nhân dễ bị tai biến
do thuốc gây ra.
Dùng thuốc qua đường tiêu hóa không những có
tác dụng điều trị các bệnh mãn tính mà còn có khả
năng cấp cứu mà không cần tiêm. Vì vậy, chúng ta
nên biết những điều cần biết về cách dùng thuốc qua
đường tiêu hóa.
Các đường vào của thuốc qua cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa gồm 2 phần, tạng rỗng bắt đầu
từ miệng qua thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, đến
hậu môn; tạng đặc gồm gan, lách, tụy. Thuốc tác động
đến từng bộ phận và đường vào cũng liên quan đến nó.
Bệnh ớ miệng được 2 chuyên khoa chăm sóc: răng
hàm mặt và tiêu hóa. Một số thuốc có tác dụng ngay tại
miệng, do ngấm qua niêm mạc vào máu hoặc tác dụng
BỆNH TIÊU HÓA
4
tại chỗ. Ví dụ, ngậm Adalat dưới lưỡi đế cấp cứu huyết
áp cao, ngậm Niuoglycerin đê chữa bệnh mạch vành,
thuốc bôi miệng Daktarin Oralgel đế chữa tua ớ tré em.
Với bệnh thực quán, người ta tiêm thuốc đế làm xơ hóa
tĩnh mạch trong bệnh giãn tính mạch gây cháy máu, hoặc
bơm qua ống thông khi bệnh nhân không ăn uống được.
Đến dạ dày, nhiều thuốc được dùng là các thuốc
có tác dụng tại chỗ, làm bàng niêm mạc như Bismuth,
thuốc trung hòa axít như Mylauta, Phosphalugel, các
thuốc kháng sinh tiêu diệt vi trùng như Gastrostat.
Ruột non cũng là nơi thuốc ngấm qua thành ruột
vào máu đế chữa nhiều bệnh khác, và có tác dụng toàn
thân. Một số thuốc lưu giữ chú yếu ớ ruột, rất ít ngấm
qua niêm mạc, đế chữa bệnh trong ruột như: Pugacar
làm liệt hệ thần kinh ớúa giun, Neomycin dùng trong
hôn mê gan.
Ruột già ít có khả nẳng tiêu hóa, nhưng khi bị
bệnh thuốc tác dụng ớ đây là chính. Đế chữa táo bón,
thầy thuốc dùng Igol từ thảo mộc, để tăng khối lượng
phân. Duphalac là thuốc nhuận tràng rất tốt, dùng cho
mọi đối tượng người già, trẻ em, bệnh nhân tiểu đường.
Nó là một trong các thuốc chính đê chữa hôn mê gan.
Người ta dùng thuốc qua đường trực tràng Dafalgan
cho người lớn, tré em, để hạ sốt, giám đau. Các thuốc
chữa trĩ có nhiều loại đặt cũng có tác dụng tốt. Đặc
biệt, khi tré em, người lớn uống thuốc mà hay để bị
IQ I
Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG
nôn mất thuốc, nhà sán xuất đã chế ra loại Compazine
đặt hậu môn rất tiện lợi để chống nôn. Thuốc mỡ nhu
Preparation H, Proctolog cũng rất có tác dụng.
Tại sao phải dùng thuốc qua đường tiêu hóa?
Đây là đường dùng tiện lợi và thông thường nhất,
không phải bận rộn tiêm và tiết kiệm chi phí. Người
bệnh lại có thê mang theo người để tự sử dụng.
Thuốc tác dụng qua đường uống thường chậm,
vì vậy dẽ theo dõi tác dụng ngoài ỹ muốn, dễ cấp cứu
khi ngộ độc. Phưong pháp rứa dạ dày đế loại trừ thuốc,
cũng đã cứu khói nhiều người mới ngộ độc.
Thuốc có thời gian tác dụng lâu dài (thời gian thuốc
còn trong cơ thê 1/2) thường được áp dụng cho đường
uống Amlodipine, thuốc ức chế canxi thế hệ mới, có thòi
gian bán húy 34 - 58 giờ, cho phép uống 1 viên/ngày,
vẫn có tác dụng kiếm soát huyết áp rất tốt.
Cũng có loại thuốc không có dạng tiêm, mà chỉ có
dạng uống như: Sulỉamid chữa đái tháo đường tỹp 2.
Thuốc có thời gian bán hủy tác dụng ngắn như Daonit
rất phù hợp cho ngưòi lớn tuổi, vì dễ theo dõi và tránh
được tác dụng ngoại ỹ: hạ đường huyết.
Thuốc qua đường u...
 





