TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    8.jpg 7.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 1.jpg KHKT3.jpg KHKT6.jpg KHKT7.jpg

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi Quý thầy cô và các em học sinh thân mến, Thư viện trân trọng giới thiệu Trang học liệu số – một kho tài nguyên tri thức phong phú được tuyển chọn dành riêng cho cộng đồng nhà trường. Tại đây, thầy cô và các em có thể truy cập sách điện tử, bài giảng tham khảo, tài liệu học tập theo chủ đề, video hướng dẫn kỹ năng đọc – tìm kiếm – sử dụng thông tin, cùng nhiều nguồn học liệu bổ ích khác. Việc khai thác trang học liệu là một cách mở rộng không gian học tập vượt ra ngoài lớp học, giúp các em rèn luyện tư duy, phát triển kỹ năng tự học và nuôi dưỡng niềm đam mê khám phá tri thức. Thầy cô có thể sử dụng các tài nguyên này để bổ trợ bài giảng, thiết kế hoạt động đọc hiệu quả và truyền cảm hứng học tập cho học sinh. Xin mời thầy cô và các em truy cập ngay hôm nay để trải nghiệm và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này. Mỗi trang học là một cơ hội để chúng ta cùng lớn lên về kiến thức và tư duy.

    💕💕Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với những bộ óc vĩ đại nhất của các thế kỷ đã qua.” – Descartes💕Điều chúng ta biết chỉ là giọt nước, điều chúng ta chưa biết là đại dương💕

    Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |

    bệnh tiêu hóa cách phòng và điều trị

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Vân
    Ngày gửi: 15h:01' 20-03-2024
    Dung lượng: 11.0 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    ụ sá ch
    Y h ọ c phổthổng
    Nguyễn Bảo
    (Biên soạn)

    Bệnh

    HẾUltóA
    PHÒNG &ĐIÊU TRỊ

    BỆNH TIÊU HÓA
    CÁCH PHÒNG & ĐIỂU TRỊ

    NHÀ XUÃT BÁN VĂN HÓA - THÔNG TIN
    43 Lò Đúc - Hà Nội
    Chịu trách nhiệm xuất bản: LÊ TIẾN d ũ n g
    Chịu trách nhiệm bản thảo: vũ THANH VIỆT
    Biên tập: Tuấn Việt - Xuân Mĩ
    Thiết kế bìa: Tân Việt - Chế bản: Đại Minh Books
    In 1.500 cuốn khổ 13 X 20.5cm
    tại Công ty TNHH In TM và dịch vụ Nguyễn Lâm
    QĐXB số: 248A^HTT-KH. số ĐKXB 272 - 2014/CXB/96 - 12A^HTT
    Cấp ngày 06 tháng 03 năm 2014
    In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2014

    Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG

    BỆNH TIÊU HÓA
    CÁCH PHÒNG & ĐIỀU TRỊ
    Nguyễn Bảo (Biên soạn)

    NHÀ XUẤT BẢN VẢN HÓA - THÔNG TIN

    BỆNHTIÊU HÓA

    *

    Phầnl
    Những điều cần biết
    về các bệnh đường tiêu hóa
    ĩ í n h trạng bệnh tiêu hóa ờ nước ta hiện ở
    mức nặng. Khoảng 60 - 70% dân số bị nhiễm khuấn
    Helicobacter pylori (HP) - nguyên nhân chính gây loét
    dạ dày, tá tràng.
    Các bệnh tiêu hóa (như bệnh dạ dày, ruột, thực
    quán, gan, mật, lách, tụy, trĩ...) đang là mối quan tâm
    hàng đầu của ngành y tế. Khoáng 7 - 15% dân số bị
    loét dạ dày - tá tràng, ơ trẻ dưới 5 tuối, tỷ lệ này cũng
    khá cao, có liên quan tới chứng đau bụng tái diễn. Bệnh
    gây nhiều biến chứng nguy hiểm như chảy máu, thủng
    dạ dày. Viêm loét dạ dày - tá tràng có thế khói sau khi
    được điều trị nội khoa (tỳ lệ khỏi 80 - 90%), tuy nhiên,
    giá thành điều trị khá cao, riêng chi phí cho 4 loại kháng
    sinh là 1,6 triệu đồng/tháng.
    Vi khuấn HP không chi gây viêm loét dạ dày - tá
    tràng, mà còn liên quan tới sụ phát sinh ung thư dạ dày.
    T ỷ lệ dân số nhiễm HP càng cao thì tý lệ mắc bệnh

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    này càng cao. Bệnh thường được phát hiện ớ giai đoạn
    muộn. Nếu được phát hiện và xứ ưí sớm, bệnh nhân có
    thể kéo dài tuối thọ thêm 10-15 nàm.
    Nhiều bệnh về tiêu hóa khác như sỏi mật, polip đại
    tràng... cũng rất dễ phát ưiến thành ung thư đại tràng,
    nếu không được điều trị kịp thời.
    Nguyên nhân gây các bệnh tíêu hóa là do môi
    trường đang bị ô nhiễm nặng, vệ sinh ăn uống không tốt.
    Điều này gây nên những biến đổi sinh lỹ của dạ dày, gây
    viêm, loét và ung thư dạ dày, gan, đại tràng... Vì vậy, bảo
    đảm chế độ àn thích hợp cũng là điều rất cần thiết cho
    mọi người. Không nên tự mua thuốc điều trị hoặc uống
    không đúng theo đơn cúa bác sĩ, để trárủi tình trạng bệnh
    nặng hơn, tái đi, tái lại hoặc kháng thuốc.

    BỆNH TIÊU HÓA

    *

    Bệnh loét đường tiêu hóa
    Loét đường tiêu hóa là gì?
    Loét đường tiêu hóa là sụ hình thành một lỗ trên
    lớp niêm mạc lót bên trong dạ dày, tá tràng hoặc thực
    quán. Tùy vị trí mà ta có loét dạ dày, loét tá tràng và
    loét thực quán. Tmh trạng loét xảy ra khi lớp niêm mạc
    lót bên trong các co quan này bị mòn đi, bởi do dịch
    tiêu hóa có tính acid do tế bào dạ dày tiết ra.
    Loét đường tiêu hóa là một bệnh khá phổ biến.
    Các tiến bộ y học gần đây đã giải thích được nhiều về
    cơ chế hình thành của ố loét. Điều này đã mỏ ra nhiều
    chọn lựa trong việc điều trị căn bệnh này.
    Các nguyên nhân của loét đường tiêu hóa
    Nhiều năm trước đây, nhiều người tin rằng sự tiết
    acid quá mức là nguyên nhân chính gây loét. Dựa vào
    đó, việc điều trị được nhấn mạnh vào sự trung hòa và
    ngân chặn sự tiết acid của dạ dày. Hiện nay, các nghiên
    cứu cho thấy nguyên nhân hàng đầu của bệnh loét là do
    dạ dày bị nhiễm một loại vi khuấn có tên “Helicobacter

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    pylori” mặc dù acid vẫn được coi là yếu tố đóng vai trò
    trực tiếp trong sự hình thành ố loét.
    Một nguyên nhân quan trọng khác gây ra loét, đó
    là việc sứ dụng thường xuyên các loại thuốc kháng viêm,
    thường là thuốc kháng viêm không steroid (NSAID)
    như aspirin. Hút thuốc cũng là một nguyên nhân quan
    trọng và dễ gây thất bại trong điều trị.
    Vi khuấn H. pylori rất thường gặp, đây cũng là
    nguyên nhân chính gây bệnh cho hầu hết bệnh nhân
    được xác định là đau dạ dày, loét dạ dày và tá trỀmg.
    Quá trình nhiễm bệnh thường kéo dài trong nhiều năm
    và 10% đến 15% số người nhiễm sẽ dẫn đến loét. Mặc
    dù, cơ chế gây bệnh cúa H. pylori vẫn chưa được hiểu
    rõ, nhưng sự loại bó vi khuấn này bằng kháng sinh đã
    cho thấy hiệu quá cao trong việc chữa trị và ngăn ngừa
    loét tái phát.
    NSAID là thuốc dùng điều trị viêm khớp và các
    tình trạng thương tốn viêm nhiễm khác trong cơ thế,
    Aspirin, Ibuprolen (Motrin), Naproxen (Naprosyn) và
    Etodolac (Lodine) cũng là một số thuốc thuộc loại này.
    Prostaglandin là các chất đóng vai trò quan trọng trong
    việc giúp niêm mạc một chống lại sự làm mòn cúa
    acid. NSAID gây loét bằng cách ức chế tác động của
    prostaglandin trong dạ dày.
    Hút thuốc không chi gây loét, mà còn làm gia tăng
    nguy cơ biến chứng cúa loét như xuất huyết, tắc nghẽn

    BỆNH TIÊU HÓA

    *

    dạ dày và thúng dạ dày, đồng thời cũng là nguyên nhân
    hàng đầu gây thất bại trong điều trị.
    Trái với quan niệm thông thuờng, thì rượu, cà phê,
    cola, thức ăn cay và caíĩeine, chưa được chứng minh vai
    trò trong sự tạo thành loét. Tương tự, cũng không có
    bằng xác thực nào cho thấy các stress trong cuộc sống
    và tỹp người nào dễ bị các bệnh loét đường tiêu hóa.
    Triệu chứng của loét?
    Triệu chứng của loét đường tiêu hóa rất đa dạng,
    nhiều bệnh nhân chỉ cảm thấy hơi khó tiêu và khó chịu,
    còn một số người cám thấy rát bỏng vùng thượng vị
    hoặc đau (do đói) 1 đến 3 giờ sau bữa ăn và lúc nứa
    đêm, hay ợ hơi, ợ chua. Những cơn đau này thường
    nhanh chóng biến mất khi ăn hoặc uống thuốc trung
    hòa acid.
    Cơn đau cúa loét liên quan rất ít đến sự hiện diện
    hoặc mức độ trầm trọng cúa các ổ loét, nên một số bệnh
    nhân vẫn đau kéo dài ngay cả sau khi đã được điều
    trị khỏi hoàn toàn, còn những bệnh nhân khác có thể
    không đau ngay cả khi ổ loét tái phát. Các ố loét đường
    tiêu hóa có thế xuất hiện và biến mất tự nhiên mà người
    bệnh không hề hay biết, trừ khi một biến chUng trầm
    trọng xáy ra (như xuất huyết hoặc thủng).

    o

    Tù sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    Bệnh loét dạ dày tá tràng
    q ) ạ dày - tá tràng đóng vai trò quan trọng ưong
    tiêu hóa thức ăn. Thức àn sau khi được cắt nhỏ, nghiền
    nát, nhào quyện với nước bọt ớ miệng, vào đến dạ dày
    tá tràng nó được các dịch tiêu hóa ớ đây tiếp tục quá
    trình tiêu hóa. ơ dạ dày, dịch tiêu hóa chủ yếu là dịch
    vị, ớ tá tràng có dịch tá tràng, dịch tụy, dịch mật từ
    túi mật đổ xuống. Đau dạ dày là từ dân gian đế chi
    quá trình bệnh lỹ (viêm, loét, ung thư...) không chi ở
    vùng dạ dày mà còn cả ớ vùng tá tràng. Hai vùng này
    có nhũng điếm chung nhưng cUng có nhiều điếm khác
    nhau về quá trình bệnh ly.
    Loét dạ dày - tá tràng thường xáy ra ở người lớn
    tuối (thanh niên, trung niên, người già). Loét tá tràng
    thường gặp ở người tré hơn (thanh niên, trung niên),
    còn loét dạ dày thì gặp ớ người lớn tuối hơn (trung niên,
    người già).
    Nguời loét dạ dày tá tràng có đặc điếm là hay đau
    bụng vùng trên rốn (thượng vị) nhiều nàm, từ vài ba
    năm đến hàng chục năm. Đau có tính chu kỹ, thường

    BÊNH TIÊU HÓA

    về mùa rét, mỗi lần 5 - 1 0 ngày. Các đợt đau thường
    liên quan đến các chấn thương tinh thần, t'mh trạng
    càng thảng thần kinh, thường về mùa rét. Loét tá tràng
    thường đau khi đói, đau về đêm, ân vào bớt đau, nên
    người bệnh luôn có sẵn thức ăn (kẹo, bánh quy...) bên
    mình. Loét dạ dày ít đặc điếm này. Do vậy, đau có chu
    kỹ với những đặc điểm trên là triệu chứng quan trọng
    nhất của loét dạ dày - tá tràng.
    Chẩn đoán
    Để chấn đoán bệnh nhân có bị loét dạ dày tá tràng
    cần phái chụp X quang có cản quang (baryt) vùng dạ
    dày - tá tràng hoặc nội soi tìm ổ loét.
    Đối với loét dạ dày, ố loét có thế ở vùng bờ cong
    nhó, bờ cong lớn hoặc vùng hang vị, môn vị. Loét bờ
    cong nhò dễ bị ung thư hơn loét bờ cong lớn. Loét vùng
    môn vị tá tràng dễ gây hẹp môn vị, sa dạ dày. Chi có
    loét dạ dày mới có thể ung thư hóa, còn hầu như không
    gặp điều đó ở loét tá tràng.
    Hình ảnh ố loét trong loét tá tràng có thế giúp đánh
    giá kết quá điều trị và tiên lượng bệnh. Xét nghiệm dịch
    vị trong loét dạ dày ít có thay đối có giá trị. Có thế thấy
    độ axit bình thường, hoặc có thế giám ít hoặc tăng. Trong
    loét hành tá tràng, độ axit tăng rất rõ. Loét dạ dày dễ bị
    thúng hơn loét hành tá tràng, còn loét hành tá tràng hay
    thấy cháy máu hơn. Biến chUng cháy máu hoặc thủng
    nhiều khi là biểu hiện đầu tiên ở người bệnh không có

    Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG

    triệu chứng rõ ràng, và chính do các biến chứng này mới
    xác định được bệnh cho người bệnh.
    Loét dạ dày có thể kết hợp với xo gan. T ỹ lệ này
    gặp ớ 10 - 17% người xơ gan trên thế giới, ớ nước ta
    10% có thế loét với u tụy gây ra tình trạng bệnh lý do sự
    hình thành một hoặc nhiều khối u ớ tụy hoặc tá tràng,
    gọi là u gastrin, với các dấu hiệu: tiêu chảy, phân mỡ, dạ
    dày tá tràng có nhiều ổ loét ở những vị trí bất thường,
    ơ nước ta, các nghiên cứu cũng phát hiện được một số
    bệnh nhân có hội chứng này.
    Nguyên nhân
    Nguyên nhân gây loét được nói đến rất nhiều, nhưng
    nguyên nhân đầu tiên mà tất cả mọi người nghĩ đến đó là
    loét dạ dày - tá ưàng liên quan đến vấn đề ăn uống (uống
    nhiều rượu, ăn nhiều gia vỊ, chất kích thích dạ dày...).
    Một nguyên nhân nữa là do tình trạng tinh thần
    (loét thường hay có ớ người có chấn thương tình cám,
    hay xúc động, sốc tinh thân, kết luận cúa y học mới nhất
    hiện nay cho rằng, nguyên nhân sinh bệnh do mất thăng
    bàng giữa yếu tố gây loét và yếu tố chống loét được nêu:
    dịch vị có độ axit cao vượt quá khá năng chống đỡ của
    niêm mạc hành tá tràng bình thường, hoặc do niêm mạc
    dạ dày giám dinh dưỡng nên không đủ khả năng chống
    lại dịch vị có độ axit ít hoặc bình thường.

    BỆNH TIÊU HÓA

    Xử trí

    4

    Từ những nguyên nhân trên nên đã có nhiều cách
    xứ trí khác nhau, phố biến nhất truớc đầy là cắt bò phần
    dạ dày mà người ta cho rằng tiết nhiều axit (vùng hang
    vị, phân dạ dày phía dưới): phẫu thuật Bilroth 1, Bilroth
    2, Polya, Pinsterer... hoặc cắt dây thần kinh 10 đoạn phân
    nhánh cho dạ dày... nhưng kết quá đạt được không như
    mong muốn. Từ klii y học có phát minh, coi niêm mạc dạ
    dày là nơi ũếp rửiận histamin nên đã có biện pháp dùng
    các thuốc ức chế nơi tiếp nhận histamin
    burinamide,
    metiamide và mới nhất là ciméúdine (biệt dược là tagamet)
    rồi ranitidine (biệt dược là azantac, raniplex).
    Tiếp sau đó, các nhà khoa học đã phát hiện ra
    Helicobacter pylori, và chứng minh chính vi khuấn này
    là nguyên nhân gây viêm loét, đã tạo nên sự đối mới
    hoàn toàn trong diều trị bệnh này.
    Hiện nay, người ta điều trị loét dạ dày - tá ưàng
    bằng kháng sữứi Amoxicillin, Klien có tác dụng với H.
    Pylori, thuốc ức chế nơi tiếp nhận histamin H^: Cimétidine
    (tagamet), Nanitidme (azantac), thuốc chống tiết dịch dạ dày
    (ức chế bơm proton); Lanzor, Omez... thuốc kháng axit và
    băng rịt: GasUopuIgite, Kremil s, Maalox, Phospha lygel...
    Phẫu thuật được dùng cho những trường hợp ố
    loét xơ chai, không điều trị khói bằng phương pháp nội
    khoa, có biến chứng: thủng dạ dày, hẹp môn vị... Người
    bệnh được khuyên có chế độ ăn Uống, làm việc, nghi
    ngơi hợp lỹ, phù hợp với tình trạng sức khỏe.

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    Làm thế nào để xác định
    bệnh đau dạ dày?
    Hói: Khi có người thân mà lúc đói hay no quá là
    bị buồn nôn, phái ăn liên tục vì bị cồn cào trong dạ dày.
    Đ i nội soi có kết quá sung huyết hang vị, dã uống rất
    nhièu thuốc và rất nhièu bác sy, nhưng chi đỡ được 1 - 2
    tuần tình trạng cũ lại tiếp dién. Đó có phái dau dạ dày
    không, vì không cám thấy dau ở dạ dày chí buồn nôn
    hoặc nôn ra toàn nước miếng? Cách chữa £r/ và cách ăn
    uổng cần tránh lứiững thư gì, bệnh có đièu trị hết dược
    không?
    Trả lời
    1. Cá triệu chứng và kết quả soi cho thấy nguời đó
    bị bệnh dạ dày , đó là bệnh “ viêm hang vị” đây là vùng
    ớ gần cuối cúa bao tứ - dạ dày. Trong viêm loét dạ dày
    và nhất là viêm hang vị, có nguyên nhân do vi khuấn
    Helicobacter Pylori, nên nếu điều trị thuốc không đúng
    thì chắc là sẽ không hết bệnh đâu.
    2. Việc chấn doán không chí căn cứ vào hình ảnh
    tốn thuơng, mà phái lấy mẫu sinh thiết ở dạ dày đế xét

    BỆNH TIÊU HÓA

    nghiệm nữa. Do vậy, khi soi nếu có tốn thương nghi
    ngờ, bác sy phải lấy mẫu làm xét nghiệm đế có khảng
    định chấn đoán và giúp cho bác sy điều trị kê đơn.
    3.
    Điều trị và ăn uống phải căn cứ vào kết luận
    soi dạ dày. Tuy nhiên, viêm hang vị cUng đú đế lưu ỹ
    người đó nên kiêng uống rượu, giảm gia vị chua, giảm
    cà phê, thuốc và các chất kích thích.

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÕNG

    Phương pháp điều trị bệnh
    loét đường tiêu hóa
    {J\Ẳục đích của điều trị loét là làm hết đau và
    ngăn chặn các biến chứng nhu xuất huyết, tắc nghẽn và
    thủng. Buớc đầu tiên cúa công việc điều trị bệnh luôn
    là làm giám các yếu tố nguy cơ (NSAID và hút thuốc),
    buớc tiếp theo mới là dùng thuốc điều trị.
    Thuốc chống acid là trung hòa acid trong dạ dày,
    một số thuổc thuộc loại này nhu: Maalox, Mylanta và
    Amphojel điều trị an toàn và hiệu quá. T uy nhiên, tác
    dụng trung hòa cúa những loại thuốc này thường ngắn
    và đòi hỏi phái uống thuốc thường xuyên. Các chất
    chống acid như Magie chứa trong Maalox và Mylanta có
    thê gây tiêu cháy, trong khi nhôm chứa trong Amphojel
    có thế gây táo bón. Vết loét thường tái phát khi ngưng
    sủ dụng các loại thuốc này.
    Các nghiên cứu nghiên cho thấy có một loại protein
    trong dạ dày, gọi là histamin, có tác dụng kích thích
    sự tiết acid dạ dày. Các thuốc kháng histamin (thuốc
    kháng H2) được tạo ra nhằm ngăn chặn tác động cứa

    BỆNH TIÊU HÓA

    histamin lên tế bào dạ dày, do đó làm giám sự tiết acid.
    Một số thuốc thuộc loại này là: cimetidine (Tagamet),
    ranitidine (Zantac), nizatidine (Axid) và famotidine
    (Pepcid). Mặc dù thuốc kháng H2 rất hiệu quá trong
    việc làm lành vết loét, nhưng chúng vẫn chi có vai trò
    rất giới hạn trong tiệt trừ H.pylori, nếu không phối hợp
    với kháng sinh. Do đó, loét thường tái phát khi ngưng
    sử dụng các thuốc này. Nhìn chung, các loại thuốc này
    dễ uống, và chi có ít tác dụng phụ ngay cả khi sứ dụng
    lâu dài, nên chí một số hiếm trường hợp bệnh nhân bị
    nhức đầu, choáng váng, hôn mê hoặc ảo giác. Dùng
    cimetidine dài ngày, có thê gây liệt dương hoặc vú to,
    và cá cimetidine và ranitidine đều ảnh hướng đến khả
    năng kiếm soát mức men cứa cơ thế. Những bệnh nhân
    uống thuốc này và uống rượu,' có thế có nồng độ men
    trong máu cao hơn. Những thuốc trên cũng có thể ảnh
    hướng đến tác dụng của gan với các thuốc khác như;
    Dilantin, Coumadin và theophylline. Vì vậy, liều lượng
    thông thường của các loại thuốc này nên được điều
    chỉnh phù hợp.
    Omeprazole (Prilosec) hiệu quả hơn thuốc kháng
    H2 trong việc ngẳn chặn sự tiết acid. Prilosec gần như
    làm dạ dày ngung tiết acid hoàn toàn. Mặc dù, Prilosec
    có hiệu quả tương đương với thuốc kháng H2 trong
    điều trị loét dạ dày và tá tràng nhưng nó có hiệu quả
    hơn hẳn trong điều trị loét thực quán, vì loét thực quán
    rất nhạy cám, dù với chi một lượng nhỏ acid. Do đó, tác

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    dụng ngăn chặn hoàn toàn sự tiết acid của Prilosec rất
    quan trọng trong làm lành loét thực quản. Mặc dù, acid
    hoàn toàn không được tiết ra, nhưng nó vẫn không hề
    ánh hưỏng đến sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn cúa bệnh
    nhân. Prilosec cũng rất dễ uống. Với liều lớn, Prilosec
    có thế gây những khối u nhó trong ruột chuột. Tuy
    nhiên, chưa phát hiện được trường hợp nào xáy ra trên
    người ngay cả khi dùng thuốc dài ngày. T hế nhưng,
    thời gian an toàn trong điều trị Prilosec dài ngày vẫn
    chưa được công bố chắc chắn.
    Sucralỉate (Carafate) và misoprostol (Cytotec) là
    những chất làm vững chắc niêm mạc ruột nhằm chống
    lại sự tấn công của dịch tiêu hóa acid. Carafate bao phủ
    bề mặt Ố loét và kích thích sự lành. Loại thuốc này
    có rất ít tác dụng phụ, thường gặp nhất là táo bón và
    ảnh hưòng đến sự hấp thu các loại thuốc khác. Gytotec
    là một chất giống prostaglandin, thường được dùng để
    chống lại khả năng gây loét cúa NSAID. Các nghiên
    cứu cho rằng, Cytotec có thể giúp những bệnh nhân
    dùng NSAID lâu ngày để ngăn chặn loét. Tuy nhiên,
    nó có thể gây tác dụng phụ là tiêu cháy. Cytotec cũng
    có thê gây sảy thai ớ phụ nữ có thai, và không nên dùng
    cho phụ nũ đang trong tuổi sinh đé.
    Có nhiều người bị nhiễm H. pylori mà vẫn không
    hề bị thương tổn hay loét. Trong những trường hợp
    này, việc dùng kháng sinh điều trị chưa cho thấy hiệu
    quá rõ ràng. Nên cần phái có nhiều nghiên cứu hơn để

    BỆNH TIÊU HÓA

    «

    trả lời cho câu hói này. Những bệnh nhân bị loét và
    nhiễm H.pylori nên được điều trị kết hợp với kháng
    sinh, nhưng đôi khi cũng rất khó trong việc tiêu diệt
    hoàn toàn H. pylori. Việc điều trị cũng đòi hỏi sụ kết
    hợp của nhiều loại kháng sùih bên cạnh kết hợp với
    Prilosec, thuốc kháng H2 hoặc Pepto- Bismol. Các
    kháng sinh thường dùng là: tetracycline, amoxicillin,
    metronidazole (Plagyl) và clarithromycin (Biaxin). Tiêu
    diệt H. pylori chính là ngăn ngừa loét tái phát (vấn đề
    chính cúa tất cả các phương thức điều trị khác). Sự loại
    bó vi khuấn này cũng làm giảm nguy cơ tiến triến thành
    ung thư dạ dày trong tương lai. Điều trị bằng kháng
    sinh có thế gây phán ứng dị ứng, tiêu chảy, và đôi khi
    gây viêm kết tràng do kháng sinh.
    Chưa có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy việc
    giới hạn chế độ ăn hay thực hiện chế độ án nhạt, có vai
    trò trong việc làm lành vết loét. Cũng chưa có sự chứng
    minh nào về mối quan hệ giữa bệnh loét đường tiêu hóa
    với lượng cồn hoặc cà phê uống vào. Tuy nhiên, vì do
    cà phê đã kích thích dạ dày tiết acid và cồn nên có thế
    gây viêm dạ dày, vì vậy tốt nhất là nên giới hạn lượng
    cồn và cà phê uống vào.
    Tóm tắt
    Với các phương pháp điều trị hiện nay, bệnh nhân
    bị loét đường tiêu hóa có thế sống bình thường mà
    không bị thay đối cách sống hoặc giới hạn trong chế độ

    1^^

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    ăn. Hiit thuốc làm tăng nguy cơ biến chứng của bệnh
    loét đường tiêu hóa và gây thất bại trong điều trị. Diệt
    trừ hoàư toàn H. pylori, không chí làm lỀưrh vết loét, mà
    còn ngăn chặn loét tái phát.
    Những điều cẩn nhớ về bệnh loét đường tiêu hóa
    Loét đường tiêu hóa có thế xảy ra ớ dạ dày, tá
    tràng hoặc thực quán.
    Sự tạo thành loét có liên quan đến vi khuấn H.
    pylori trong dạ dày, vì vậy phái sứ dụng thuốc kháng
    viêm và không hút thuốc.
    Đau do loét có thể không liên quan đến sự hiện
    diện hoặc mức độ trầm trọng cúa ổ loét.
    Chấn đoán loét được thực hiện với X quang dùng
    barium, hoặc nội soi.
    Biến chứng của loét gồm xuất huyết, thúng và tắc
    nghẽn dạ dày.
    Điều trị loét nên kết hợp thuốc kháng sinh đê diệt
    trừ H. pylori, loại bỏ các yếu tố nguy cơ, và ngăn chặn
    các biến chứng.

    BỆNH TIÊU HÓA

    4

    Trào ngược dạ dày thực quản
    co thể gây tư vong
    '^0írong lúc bú mẹ, tré hay bị sặc sữa, tím tái và
    ngưng tim. Các bác sĩ phát hiện cháu ưào ngược dạ dày
    thực quán bấm sinh.
    Ngay từ khi chào đời, tré đã hay bị sặc sữa mỗi khi
    bú nhanh. Nhiều khi, bố mẹ cúa tré nghĩ đó là chuyện
    bình thường nên không đưa đi khám. Khi vào bệnh
    viện, các bác sĩ đã hướng dẫn gia đình cho trè ân bằng
    cách bơm ống thông mũi - dạ dày hoặc đút từng muỗng
    một. Tuy nhiên, nhiều tré do chứng viêm phối quá
    nặng, hít phái dịch trớ, nên không thê chũa trị kịp thời.
    Chứng trào ngược dạ dày thực quán của tré em
    cũng khá phổ biến. Đó là tình trạng dịch tiết dạ dày trào
    ngược lên thực quản. Nó có thể là hiện tượng sinh lý,
    cũng có khi là triệu chứng cúa một bệnh nào đó. Chính
    vì vậy, mà nhiều bậc cha mẹ xem thường và đế xáy ra
    hậu quả nghiêm trọng.
    Trào ngược dạ dày thực quán sinh lý thường
    xảy ra khi tré ản quá no, nuốt hơi nhiều trong klii bú.

    l^lỊl

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    Trong trường hợp này, tré sẽ trớ ngay sau bữa ăn hoặc
    lúc đang bu, số lần bị rất ít, thoáng qua hoặc mỗi ngày
    một lần. Bán thân chứng trào ngược sinh lý không nguy
    hiểm, nhưng có thê gây sặc và dẫn đến tứ vong do tắc
    đường thớ, nên cần được cấp cứu nhanh.
    Nguyên nhân gây trào ngược dạ dày thực quản
    bấm sinh là do trương lực cơ vòng co bóp thực quán
    quá yếu, không giữ được thức ăn lạí trong dạ dày. Hiện
    tượng này thường gặp ớ tré sinh non, và trẻ bại não.
    Trào ngược cQng hay gặp trong nhiều bệnh lỹ nhi khoa
    như bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tai mũi họng, viêm
    não hoặc chấn thương sọ não.
    Trong trào ngược bệnh ly, triệu chứng này hay
    xáy ra thường xuyên, thường là khi thay đối tư thế. Tré
    có thế bị nôn ra máu, nuốt khó, khóc nhiều, từ chối bú,
    uốn éo vặn người... Trào ngược dạ dày thực quản cũng
    có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề, nếu tré không
    được điều trị sớm.
    Dịch dạ dày có axít, nên lâu ngày sẽ gây loét niêm
    mạc thực quản, dẫn đến hẹp thực quản. T ừ đó, tré sẽ
    bú klió, nuốt đau và ngày càng nôn nhiều hơn, rồi đến
    lúc tré ọc sữa hoặc thức ăn qua đường mũi, thì bệnh đã
    ớ giai đoạn nặng. Nếu trào ngược xảy ra trong lúc trẻ
    ngii nằm đầu thấp, mà không được phát hiện kịp thời
    llù cUng dẫn đến tU vong do tắc thở.

    BỆNH TIÊU HÓA

    4

    Vì vậy, tré bị trào ngược cần được đưa đi khám
    sớm. Nếu được điều trị trước 12 tháng tuối, cơ vòng
    thực quán của tré sẽ co bóp trở lại như tré bình thường.
    Sau thời điếm này, khá năng khỏi bệnh sẽ rất thấp,
    tré không đú dinh dưỡng nên chậm phát triến, sức đề
    kháng kém và dễ mắc các bệnh nhiễm ưùng.
    Những nguyên tắc chăm sóc trẻ bị trào ngược dạ
    dày thực quản
    - Phái chia khấu phần thành nhiều bữa nhó và nên
    cho tré àn đặc hơn bình thường đế không bị trào.
    - Tránh môi trường có khói thuốc lá, không cho trẻ
    dùng những thức ăn có chất kích thích như chocolate,
    nước trà, cà phê. Cho trẻ ăn đồ dễ tiêu để hạn chế tình
    trạng đầy hơi.
    - Khi ngủ, đặt tré nằm ớ tư thế đầu ngú'a cao, đầu
    - ngực - cố thẳng trục.
    - Cho tré đi lại nhiều hơn nằm, vì tư thế nằm dễ
    gây trào ngược. Mặt khác, ớ tré nằm nhiều, trương lực
    cơ toàn thân, trong đó có cơ vòng thực quản, sẽ yếu hơn
    những trẻ khác, dễ dẫn đến trào ngược.
    - Khi trẻ trào ngược có biếu hiện tím tái, ngưng
    thớ, cần kích thích thở bằng cách vuốt nhẹ lưng và xoa
    lòng bàn chân. Nếu tré bị sặc sữa, phải vỗ lưng và cho
    nằm nghiêng để sữa trào ra. Ngay sau khi sơ cứu, phải
    đưa tré đến bệnh viện gần nhất.

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    Phương pháp chữa loét dạ dày tá tràng
    những nảm 70 - 80, việc chữa bệnh viêm
    loét dạ dày tá tràng, có sứ dụng kèm thuốc kháng sinh
    bị cho là không bình thường. Thay vào đó, phải dùng
    các thuốc ốn định, điều hòa thần kinh rồi đến khi thật
    sụ cần thiết mới phẫu thuật, để cắt bỏ bớt các nhánh
    thần kinh X chi phối việc tiết dịch vị.
    Vậy mà gần 20 năm sau, việc dùng kháng sinh trong
    điều trị bệnh lỹ tiêu hóa lại trò thàiứi phố biến, thậm chí
    không thê thiếu. Vậy điều gì đã xảy ra trong y học?
    Các phát hiện về vi sinh trong những nẳm 80 tình
    cờ nhận thấy có sụ hiện diện của vi kliuấn Helicobacter
    Pylori (HP) trong các máiứi sinh thiết dạ dày.
    Qua idiiều kháo CIỈU y học, giờ đây các nhà khoa
    học đã có thế kết luận rằng, chính chúng là nguyên nhân
    gây ra viêm loét dạ dày tá tràng. Các vi khuấn HP từ
    ngoài xâm nhập vào tế bào niêm mạc dạ dày, rồi cư trú
    và phát triển tại đó, gây ra viêm và teo niêm mạc dạ dày,
    sau đó, tùy theo độc lực của các chủng vi khuấn và các
    yếu tố nội tại cụ thể cùa từng người bệnh mà gây ra loét.

    BỆNH TIÊU HÓA

    Một số yếu tố trung gian do vi khuấn HP tiết ra,
    lại là các yếu tố gây ung thu. Các cuộc theo dõi liên tục
    và làu dài đã chứng minh rằng, 90% các ung thu dạ dày
    là có liên quan đến HP và 3/4 số ung thu dạ dày mới gặp
    hiện nay thấy ở vùng châu A.
    Tỹ lệ nhiễm HP chung ớ nguời Việt Nam khoảng
    70% và gặp trong 70% số nguôi bị loét dạ dày, gặp 90%
    trong số loét hành tá tràng. Không thế đoán trước được
    rằng người nào bị nhiễm HP sẽ trớ thành ung thư, vì
    vậy cách tốt nhất đế phòng tránh ung thư là phải diệt
    trừ HP ngay từ đâu.
    Việc điều trị nhiễm HP cần được tiến hành ờ những
    người có bệnh dạ dày tá tràng, có u lympho ở niêm mạc
    đường tiêu hóa, hay người có tiền sứ gia đình ung thư
    đường tiêu hóa, ỏ nguời xét nghiệm thấy vi khuấn dù
    chưa mắc bệnh.
    Tlmốc điều trị là kháng sinh mà chù yếu là
    Metronidazole hoặc Clarithromycin, nhưng hiện nay
    hiện tượng đề kháng thuốc đã dần xuất hiện (47 - 86%
    với Metronidazol, 20% với Clarithromycin và 69% vói
    Amoxiciclin) làm ảnh hướng nhiều đến kết quả điều trị.
    Dùng Clarithromycin đế điều trị có tỹ lệ thành
    công cao hon hắn so vói Metronidazol, nhưng hiệu quả
    của thuốc sẽ tăng hơn nếu ức chế tiết acid đầy đú bằng
    các thuốc ức chế bơm proton đế làm tăng độ pH cùa dạ dày.

    1^1

    Tủ sách Y HỌC PHổ THÔNG

    Các phác đồ điều trị chú yếu hiện nay là sự phối
    hợp cúa 3 hoặc 4 loại thuốc trong số: thuốc ức chế bơm
    proton - Amoxcycilin - MetronidazoI - Clarithromycin
    và Bismuth hay Tetracyclin.
    Phuơng thức chung diệt trừ triệu chứng loét dạ
    dày, điều trị Helicobacter Pylori ớ bệnh nhân dạ dày tá
    tràng có hiệu lực nhất là theo tóm tắt sau:
    C hí định tiệt trừ HP: Loét hành tá tràng; loét dạ
    dày; viêm teo dạ dày mạn tính hoạt động; u lympho
    bào dạ dày hoạt hóa thấp; ung thư dạ dày chẩn đoán
    rất sớm; điều trị lâu dài với thuốc chống viêm không
    steroid (NSAID) hay có tiền sứ loét truớc khi điều trị.
    Có thề dùng trong các trường hợp: Ung thư dạ
    dày chấn đoán muộn và đã phẫu thuật; trào ngược dạ
    dày thực quản; viêm dạ dày đã điều trị nhiều lần không
    giám hay con cái những người bị ung thư dạ dày.
    Côngtỉìức diều ũỊ: chọn một ưong các phác đồ sau;
    1. ứ c chế bơm proton (PPI) + Clarithromycin
    (C) 500mg + Amoxiciclin (A) lOOOmg dùng ngày 2 lần
    trong ít nhất 7 ngày.
    2. [ PPI + c 500mg + Metronidazol (M) 500mg]
    2 lần X 7 ngày.

    X

    3. [ PPI + Bismuth (B)200 - 400mg + Tetracyclin
    (T) lOOOmg + M 500mg] X 2 lần X 7ngày.

    BÊNH TIÊU HÓA

    X

    4. [ PPI + B 200 - 400 mg + T lOOOmg + A lOOOmg]
    2 lần X 7 ngày.

    5. PPI 2 lần/ngày + [ T 250mg + M 200mg + B
    108mg ] X 5 lần X 10 ngày.
    Khi điều trị thứ với một phác đồ không thành công
    thì thứ đối qua phác đồ khác. Không nên điều trị loét dạ
    dày tá tràng với phác đồ chí 1 hay 2 thứ thuốc. Khi thứ
    2 phác đồ mà vẫn không thành công, thì cần cấy lại vi
    khuẩn và làm kháng sinh đồ.
    Ngày nay, y học còn phát hiện ra thêm cá trong
    vữa xơ động mạch và nhồi máu cơ tim, cũng thấy có vai
    trò cúa vi khuấn HP, vì vậy các bác sĩ tim mạch cũng đă
    đến lúc cần phải dự phòng rứiồi máu cơ tim bằng thuốc
    kháng sinh.

    1^^

    Tù sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    Bệnh loét dạ dày tá tràng
    mang tính dỉ truyền
    oMghiên cứu mới của Đại học Y cho thấy, loét dạ
    dày tá tràng là bệnh di truyền trội, liên quan tới nhiễm
    sắc thê thuờng. Tý lệ mắc bệnh ớ thê hệ con trong các
    gia đình có lưu truyền gene bất thường là gần 47%. Đây
    là những công bố đầu tiên về tính di truyền của loét dạ
    dày tá tràng ớ người Việt Nam.
    - Bệnh di truyền suốt qua các thế hệ, theo kiêu trội.
    Đàn ông hay bị bệnh gấp đôi phụ nữ.
    - Nếu bố và mẹ cùng bị loét dạ dày tá tràng, thì
    nguy co mắc bệnh ò con tăng cao hơn, và bệnh cUng
    khởi phát sớm hơn.
    - Bệnh hay xuất hiện nhất ớ độ tuối 1 6 - 3 9 (gần
    53%), chi 5% khởi phát ớ độ tuổi dưới 15.
    Nhóm tác giả di dến kết luận: Cần chú ỹ khai thác
    tiền sứ cúa các bệnh nhân loét dạ dày tá tràng, để phát
    hiện các ca bệnh mang tính di truyền. Đối với những
    nguôi này, cần tiến hànli xét nghiệm sàng lọc cho anh

    BỆNH TIÊU HÓA

    chị em ruột, nhằm phát hiện sớm các cá thế mang gene
    bệnh tiềm tàng nhưng chưa biếu hiện. Điều này sẽ giúp
    bác sĩ áp dụng kịp thời các biện pháp dự phòng và điều trị.
    Loét dạ dày tá tràng được xếp vào nhóm các bệnh
    mang tính gia đình. Trên thế giới, đã có một số công
    trình nghiên cứu về tứih di truyền cúa bệnh. Nhiều ỹ
    kiến cho rằng, loét dạ dày tátràng có thế di truyền theo
    kiểu đa nhân tố, nhưng cũng có nghiên cứu thì lại kết
    luận bệnh di truyền kiêu trội theo nhiễm sắc thể thường.

    I^QII

    Tù sách Y HỌC PHổ THÕNG

    Những điều cần biết khi dùng
    thuốc qua đuờng tiêu hóa
    ĩ y i ệ n nay, nhiều người cho rằng: phái tiêm
    thuốc mới chóng khói bệnh. Tiêm thuốc, truyền nước
    biển như là “mode” trong chữa bệnh. Điều này không
    phù hợp với thực tế, thậm chí bệnh nhân dễ bị tai biến
    do thuốc gây ra.
    Dùng thuốc qua đường tiêu hóa không những có
    tác dụng điều trị các bệnh mãn tính mà còn có khả
    năng cấp cứu mà không cần tiêm. Vì vậy, chúng ta
    nên biết những điều cần biết về cách dùng thuốc qua
    đường tiêu hóa.
    Các đường vào của thuốc qua cơ quan tiêu hóa
    Cơ quan tiêu hóa gồm 2 phần, tạng rỗng bắt đầu
    từ miệng qua thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, đến
    hậu môn; tạng đặc gồm gan, lách, tụy. Thuốc tác động
    đến từng bộ phận và đường vào cũng liên quan đến nó.
    Bệnh ớ miệng được 2 chuyên khoa chăm sóc: răng
    hàm mặt và tiêu hóa. Một số thuốc có tác dụng ngay tại
    miệng, do ngấm qua niêm mạc vào máu hoặc tác dụng

    BỆNH TIÊU HÓA

    4

    tại chỗ. Ví dụ, ngậm Adalat dưới lưỡi đế cấp cứu huyết
    áp cao, ngậm Niuoglycerin đê chữa bệnh mạch vành,
    thuốc bôi miệng Daktarin Oralgel đế chữa tua ớ tré em.
    Với bệnh thực quán, người ta tiêm thuốc đế làm xơ hóa
    tĩnh mạch trong bệnh giãn tính mạch gây cháy máu, hoặc
    bơm qua ống thông khi bệnh nhân không ăn uống được.
    Đến dạ dày, nhiều thuốc được dùng là các thuốc
    có tác dụng tại chỗ, làm bàng niêm mạc như Bismuth,
    thuốc trung hòa axít như Mylauta, Phosphalugel, các
    thuốc kháng sinh tiêu diệt vi trùng như Gastrostat.
    Ruột non cũng là nơi thuốc ngấm qua thành ruột
    vào máu đế chữa nhiều bệnh khác, và có tác dụng toàn
    thân. Một số thuốc lưu giữ chú yếu ớ ruột, rất ít ngấm
    qua niêm mạc, đế chữa bệnh trong ruột như: Pugacar
    làm liệt hệ thần kinh ớúa giun, Neomycin dùng trong
    hôn mê gan.
    Ruột già ít có khả nẳng tiêu hóa, nhưng khi bị
    bệnh thuốc tác dụng ớ đây là chính. Đế chữa táo bón,
    thầy thuốc dùng Igol từ thảo mộc, để tăng khối lượng
    phân. Duphalac là thuốc nhuận tràng rất tốt, dùng cho
    mọi đối tượng người già, trẻ em, bệnh nhân tiểu đường.
    Nó là một trong các thuốc chính đê chữa hôn mê gan.
    Người ta dùng thuốc qua đường trực tràng Dafalgan
    cho người lớn, tré em, để hạ sốt, giám đau. Các thuốc
    chữa trĩ có nhiều loại đặt cũng có tác dụng tốt. Đặc
    biệt, khi tré em, người lớn uống thuốc mà hay để bị

    IQ I

    Tủ sách Y HỌC PHỔ THÔNG

    nôn mất thuốc, nhà sán xuất đã chế ra loại Compazine
    đặt hậu môn rất tiện lợi để chống nôn. Thuốc mỡ nhu
    Preparation H, Proctolog cũng rất có tác dụng.
    Tại sao phải dùng thuốc qua đường tiêu hóa?
    Đây là đường dùng tiện lợi và thông thường nhất,
    không phải bận rộn tiêm và tiết kiệm chi phí. Người
    bệnh lại có thê mang theo người để tự sử dụng.
    Thuốc tác dụng qua đường uống thường chậm,
    vì vậy dẽ theo dõi tác dụng ngoài ỹ muốn, dễ cấp cứu
    khi ngộ độc. Phưong pháp rứa dạ dày đế loại trừ thuốc,
    cũng đã cứu khói nhiều người mới ngộ độc.
    Thuốc có thời gian tác dụng lâu dài (thời gian thuốc
    còn trong cơ thê 1/2) thường được áp dụng cho đường
    uống Amlodipine, thuốc ức chế canxi thế hệ mới, có thòi
    gian bán húy 34 - 58 giờ, cho phép uống 1 viên/ngày,
    vẫn có tác dụng kiếm soát huyết áp rất tốt.
    Cũng có loại thuốc không có dạng tiêm, mà chỉ có
    dạng uống như: Sulỉamid chữa đái tháo đường tỹp 2.
    Thuốc có thời gian bán hủy tác dụng ngắn như Daonit
    rất phù hợp cho ngưòi lớn tuổi, vì dễ theo dõi và tránh
    được tác dụng ngoại ỹ: hạ đường huyết.
    Thuốc qua đường u...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là đầu tư duy nhất càng dùng càng sinh lợi trí tuệ.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TIỀN TIẾN - NAM ĐỒNG - TP HẢI PHÒNG !