Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
bi-quyet-hoc-dau-nho-do

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:33' 05-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:33' 05-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Peter C. Brown, Henry L. Roediger III, and Mark A. McDaniel
BÍ QUYẾT HỌC ĐÂU NHỚ ĐÓ
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Alpha, 2015
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.sachvui.com
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch
và Nhà Xuất Bản
“Trí nhớ là cội nguồn của mọi sự thông thái.”
— Aeschylus, Prometheus bị xiềng
Lời tựa
Phần lớn chúng ta thường tiếp cận quá trình học hỏi theo những cách thức
sai lầm. Nghiên cứu thực nghiệm về phương pháp tiếp thu và ghi nhớ đã chỉ
ra rằng, hầu hết những gì vẫn được cho là cẩm nang hữu ích về học tập hóa
ra lại chỉ làm hao tổn công sức của chúng ta. Ngay cả những người dành
phần lớn thời gian của họ để nghiên cứu như các sinh viên cao đẳng hay
sinh viên y khoa cũng áp dụng những kỹ năng còn xa mới được gọi là tối
ưu. Trong khi đó, ngành khoa học nhận thức, với 125 năm lịch sử nhưng chỉ
thực sự phát triển vài năm gần đây, đã khơi mở một viễn cảnh tươi sáng khi
đúc rút ra những chiến lược thực chứng ưu việt nhằm thay thế những thói
quen nghiên cứu kém hiệu quả song vẫn được chấp nhận và truyền bá rộng
rãi, vốn bắt rễ từ lâu vào các học thuyết, giáo điều và cả tiềm thức con
người. Song trên tất cả, điều mấu chốt ở đây là những chiến lược học tập
hiệu quả nhất đều không thể dựa vào trực giác.
Chúng tôi, Henry Roediger và Mark McDaniel, là những nhà khoa học nhận
thức đã dành cả sự nghiệp của mình để nghiên cứu về bản chất của trí tuệ.
Cùng với cây bút Peter Brown, chúng tôi đã lập thành nhóm tìm hiểu về
cách thức vận hành của trí nhớ và khả năng học hỏi, phần lớn là thông qua
những câu chuyện có thật về những cá nhân đã thành công trong cuộc chinh
phục tri thức và kỹ năng, hơn là chỉ đơn thuần trích dẫn hay tường thuật lại
quá trình nghiên cứu. Những dẫn chứng này đã giúp chúng tôi làm sáng tỏ
được tính hiệu quả vượt trội của những nguyên lý học tập được đúc rút từ
các công trình nghiên cứu. Cuốn sách này là kết quả từ sự cộng tác của
mười một nhà tâm lý học nhận thức. Năm 2002, trong nỗ lực lồng ghép
những hiểu biết về phương pháp học tập góp nhặt được trong nghiên cứu
tâm lý học nhận thức vào công cuộc giáo dục, tổ chức James S. McDonnell
tại thành phố St. Louis, bang Missouri đã trao giải thưởng “Áp dụng tâm lý
học nhận thức vào củng cố thực tiễn giáo dục” cho công trình nghiên cứu
của Roediger và McDaniel cùng chín học giả khác, trong đó Roediger đóng
vai trò chủ đạo. Các cá nhân đã cùng hợp tác trong mười năm với nỗ lực tìm
kiếm cũng như khẳng định tiếng nói chung giữa khoa học nhận thức và
khoa học giáo dục, và kết quả trực tiếp của công trình đó đã được phản ánh
trong nhiều khía cạnh của cuốn sách này. Các nhà nghiên cứu cũng như tác
phẩm của họ được trích dẫn trong cuốn sách đều được chú giải rõ ràng.
Công trình của Roediger và McDonnell cũng nhận được sự ủng hộ của
nhiều nhà gây quỹ khác, trong đó có Trung tâm Nghiên cứu hợp nhất về
Nhận thức và Trí nhớ trực thuộc Đại học Washington, nơi mà McDonnell là
đồng giám đốc.
Hầu hết các cuốn sách đều thảo luận chủ đề theo từng kỳ, kỳ này một vấn
đề, kỳ sau là vấn đề kế tiếp và tuần tự như thế. Không nằm ngoài chiến lược
chung đó, mỗi chương của chúng tôi cũng sẽ đề cập đến các vấn đề mới.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng áp dụng hai nguyên tắc nghiên cứu cơ bản trong
cuốn sách này: các ý chính được nhắc lại đều đặn đan xen với các đề tài
mới nhưng có liên quan. Sau khi nắm bắt một vấn đề, nếu người học ôn lại
vấn đề đó một cách định kỳ, họ sẽ ghi nhớ nó tốt hơn. Tương tự, nếu họ
lồng vào quá trình đó các vấn đề mới, việc tiếp thu sẽ dễ dàng hơn là nghiên
cứu các vấn đề theo một trình tự đơn thuần. Do đó, chúng tôi không hề do
dự khi đề cập đến các ý tưởng chính nhiều hơn một lần, lặp lại các nguyên
lý với các ngữ cảnh khác nhau trong toàn bộ cuốn sách. Điều đó sẽ giúp độc
giả ghi nhớ lâu hơn cũng như áp dụng chính những nguyên tắc đó hiệu quả
hơn.
Với cuốn sách này, ngay từ bây giờ mỗi người chúng ta có thể tự học hỏi tốt
hơn và ghi nhớ lâu hơn. Những giáo viên hay người hướng dẫn hoàn toàn
có thể thúc đẩy quá trình học hỏi của người học bằng cách giúp họ nắm
vững các nguyên tắc và áp dụng chúng vào thực tiễn nghiên cứu. Cuốn sách
này không hề đề cập đến vấn đề cải cách các chính sách giáo dục hay hệ
thống trường lớp nhưng rõ ràng, điều đó vẫn hàm ẩn bên trong nội dung.
Một ví dụ thực tế là các giảng viên tiên phong trong việc áp dụng các
nguyên lý này vào giảng dạy đã nghiêm túc thử nghiệm chúng ở chính các
sinh viên tiềm năng của mình. Dưới sự dẫn dắt đó, các sinh viên này đã ứng
dụng các nguyên tắc trên vào công cuộc rút ngắn khoảng cách dẫn tới
những thành tựu khoa học. Và thành quả đạt được thật đáng ngạc nhiên.
Chúng tôi dành tặng cuốn sách này cho các sinh viên và cả những giáo viên
cũng như cho mọi độc giả, những người luôn coi việc tiếp thu tri thức một
cách hiệu quả là ưu tiên hàng đầu. Đó là những người giữ vai trò đào tạo
trong các doanh nghiệp, ngành nghề, hay quân đội; những người lãnh đạo
trong các tổ chức chuyên nghiệp với vai trò dẫn dắt các thành viên của
mình; và cả những huấn luyện viên. Chúng tôi cũng hướng tới những độc
giả trung niên và cao tuổi với châm ngôn học tập là sự nghiệp trọn đời.
Chừng nào vẫn còn những ẩn số về năng lực học tập đang chờ được giải
đáp, chừng đó vẫn còn vô số những nghiên cứu luôn sẵn sàng cung cấp các
nguyên tắc và chiến lược thực tiễn có thể áp dụng ngay lập tức, không tốn
chi phí mà mang lại hiệu quả tuyệt vời.
Chương 1. Những lầm tưởng về sự
tiếp thu
Matt Brown phát hiện ra áp suất dầu của động cơ bên phải tụt đột ngột khi
đang điều khiển một chiếc phi cơ động cơ hai thì của hãng Cessna trên bầu
trời Harlingen, bang Texas. Đó là một trong những năm đầu trong sự nghiệp
phi công của ông. Ông đang đơn độc bay xuyên màn đêm ở độ cao 3.353m
để vận chuyển một chuyến hàng khẩn cấp cho một nhà máy ở Kentucky.
Nhà máy này đã phải tạm ngừng dây chuyền sản xuất để chờ các bộ phận
còn thiếu trong quá trình lắp ráp.
Ông hạ độ cao và theo dõi đồng hồ đo dầu, hy vọng có thể đến kịp trạm
dừng tiếp nhiên liệu ở Lousiana theo kế hoạch, tại đó máy bay có thể được
sửa. Nhưng áp suất dầu vẫn tiếp tục sụt. Matt đã xoay xở với các động cơ
pít tông từ lúc ông đủ lớn để cầm một cái cờ lê. Nhờ đó ông biết mình thực
sự đang gặp rắc rối. Ông liệt kê và lướt nhanh trong đầu một loạt các
phương án. Nếu ông để mặc áp suất dầu tụt xuống quá thấp, động cơ sẽ bị
kẹt. Liệu ông có thể bay bao xa trước khi chuyện đó xảy ra? Điều gì sẽ xảy
ra nếu ông để mất động cơ? Ông có thể giảm tải phía bên cánh phải? Nhưng
liệu ông có thể giữ máy bay ở trên không như thế mãi? Ông hồi tưởng lại
những giờ phút chịu đựng trên chiếc Cessna 401. Phải, điều tốt nhất bạn có
thể làm khi chỉ còn một động cơ là hạ thấp độ cao. Nhưng ông vẫn còn một
lô hàng nhẹ cần chở và máy bay sắp cạn nhiên liệu. Ông tắt động cơ đã tàn
tạ bên cánh phải, quay cánh quạt nhằm giảm sức kéo, cùng lúc tăng động cơ
cánh trái, bay bằng bánh lái đối diện và lê thêm được mười dặm nữa về phía
điểm dừng đã định. Thế đấy, ông đã tiếp đất bằng một cú xoay cánh trái
rộng, bởi một lý do đơn giản nhưng cực kỳ mấu chốt: thiếu lực cánh phải,
cách duy nhất khiến máy bay có đủ lực nâng để duy trì một độ cao thấp
trước khi hạ cánh là thực hiện một cú xoay cánh trái.
Trong khi chúng ta không cần thiết phải tường tận từng hành động của Matt
thì dĩ nhiên ông phải hiểu rõ hành vi của mình. Và khả năng tự cứu mình
thoát khỏi thảm họa của ông đã làm sáng tỏ điều chúng tôi vẫn luôn muốn
đề cập đến trong cuốn sách này khi bàn về vấn đề học hỏi: thu thập kiến
thức cũng như kỹ năng và lưu giữ chúng trong trí nhớ để sẵn sàng đối phó
với những tình huống trong tương lai: bao gồm cả thách thức và cơ hội.
Chúng ta có thể có cùng chung ý kiến về một số khía cạnh bất biến khi đề
cập đến vấn đề tiếp thu tri thức:
Trước hết, quá trình học tập có hiệu quả luôn đòi hỏi sự ghi nhớ. Có như thế
kiến thức thu thập được trong hiện tại mới hữu ích trong tương lai.
Hai là, việc học hỏi và ghi nhớ cần được duy trì suốt cuộc đời. Chúng ta
không thể hoàn tất bậc giáo dục trung học khi chưa nắm vững các tri thức
về ngôn ngữ, toán học, khoa học, cũng như xã hội. Thăng tiến trong sự
nghiệp lại tiếp tục đòi hỏi ở chúng ta các kỹ năng chuyên môn và kiến thức
đại học. Khi giã từ sự nghiệp, chúng ta kiếm tìm vài sở thích mới. Lúc về
già lẩm cẩm, chúng ta chuyển đến những ngôi nhà giản đơn và dễ thích
nghi hơn. Khả năng tiếp thu tốt sẽ luôn là một lợi thế cho chúng ta trong
mọi giai đoạn của cuộc đời.
Thứ ba, học hỏi cũng là một kỹ năng đòi hỏi sự trau dồi và những chiến
lược hiệu quả nhất nhiều khi lại trái với lẽ thường.
ĐỀ XUẤT CỦA CHÚNG TÔI
Có lẽ bạn không đồng tình với chúng tôi ở khía cạnh thứ ba, nhưng hy vọng
cuốn sách này sẽ thuyết phục bạn tin vào điều đó. Một số điều dưới đây,
không ít thì nhiều, chưa được sắp xếp theo một danh sách tuần tự, nhưng đó
là những đề xuất cơ bản hỗ trợ cho lập luận của chúng tôi và sẽ được đề cập
đầy đủ hơn trong những chương sau.
Kiến thức sẽ trở nên sâu sắc và được lưu giữ lâu hơn chỉ khi có sự nỗ lực
trong quá trình hàm thụ. Học hỏi mà dễ dàng thì chẳng khác gì viết chữ trên
nền cát, nay còn mai mất.
Chúng ta còn yếu kém trong việc đánh giá khi nào chúng ta ở trạng thái tiếp
thu tốt nhất và khi nào không. Khi mọi thứ trở nên khó khăn, chậm chạp và
kém hiệu quả, chúng ta thường bị thôi thúc chuyển hướng sang các chiến
lược tưởng như hữu ích mà không hề biết rằng kết quả thu được từ việc áp
dụng những chiến lược đó nhiều khi chỉ mang tính nhất thời.
Cho đến nay, đọc lại bài khóa (rereading text) và ôn tập một cách tập trung
(massed practice) một kỹ năng hay kiến thức mới là phương pháp học tập
vẫn được người học trong mọi lĩnh vực ưu tiên áp dụng. Nhưng kỳ thực đó
cũng là một trong những chiến lược kém hiệu quả nhất. Ôn tập một cách tập
trung ở đây hàm nghĩa sự lặp lại liên tục, không ngừng, chuyên chú vào một
kiến thức duy nhất nhằm khắc sâu nó vào trí nhớ. Đây là phương pháp kiểu
“luyện tập-luyện tập-luyện tập” rất kinh điển. Nhồi nhét kiến thức trước kỳ
thi là một ví dụ tiêu biểu. Đọc đi đọc lại hay ôn tập không ngừng làm gia
tăng cảm giác về sự nhuần nhuyễn, trôi chảy, điều có thể tạm coi là dấu hiệu
của sự tinh thông. Nhưng xét đến tính lưu giữ lâu dài và sự thành thạo đích
thực thì chiến lược này chỉ làm hao tổn thời gian.
Phương pháp luyện tập thông qua hồi tưởng (retrieval practice) – khơi gợi
lại ký ức về sự việc, khái niệm hay sự kiện – là phương pháp hiệu quả hơn
nhiều so với đọc lại. Một ví dụ đơn giản là thẻ học thông minh (flashcard).
Quá trình hồi tưởng lại tri thức củng cố khả năng ghi nhớ và hạn chế sự
quên lãng. Giải một câu đố đơn giản sau khi đọc bài khóa hay nghe thuyết
trình thúc đẩy sự lĩnh hội và ghi nhớ tốt hơn nhiều so với xem lại bài giảng
hay các ghi chú về buổi thuyết trình. Não bộ không thể được tăng cường
bằng các bài tập thể dục như cơ bắp, nhưng các dây thần kinh tham gia vào
quá trình xúc tiến sự tiếp thu sẽ được củng cố khi trí nhớ được triệu hồi và
kiến thức được ôn tập. Ôn tập theo chu kỳ sẽ loại bỏ khả năng lãng quên, hỗ
trợ khả năng gợi nhớ và đặc biệt thiết yếu nếu bạn muốn nắm bắt hay làm
chủ kiến thức.
Trong một bài tập, khi bạn tạo khoảng cách giữa những lần luyện tập (space
out practice) và đối mặt với chút ít căng thẳng giữa những lần cách quãng,
hay xen vào đó hai hay nhiều đối tượng luyện tập khác, quá trình gợi nhớ sẽ
trở nên khó khăn và tưởng chừng kém hiệu quả hơn. Nhưng những nỗ lực
nhằm khắc phục các trở ngại đó sẽ gia tăng sức sống lâu bền cũng như tính
linh hoạt ở khả năng ứng dụng thành quả luyện tập trong những tình huống
tương lai.
Cố gắng giải quyết khó khăn trước khi được chỉ ra giải pháp cũng là một
cách học hỏi hiệu quả, bất chấp những sai lầm có thể xảy ra.
Có một quan niệm phổ biến rằng kiến thức sẽ được hấp thụ dễ dàng hơn
nếu được truyền đạt phù hợp với cách thức lĩnh hội (learning style) của
người học, bằng âm thanh hoặc hình ảnh chẳng hạn. Những nghiên cứu
thực nghiệm không hề ủng hộ điều đó. Con người phát triển nhiều loại hình
trí tuệ để thích nghi với việc học hỏi, và chúng ta sẽ nâng cao khả năng học
hỏi nếu chịu khó mở rộng giới hạn dạng thức truyền đạt, huy động mọi khả
năng và nguồn lực, hơn là bó hẹp sự truyền đạt hay trải nghiệm trong những
dạng thức mà chúng ta cảm thấy dễ chấp nhận nhất.
Khi thành thạo hơn trong việc đúc rút những nguyên lý hay nguyên tắc cơ
bản, những điều tạo nên sự khác biệt giữa các loại vấn đề, bạn sẽ thấy bớt
phần khó khăn khi phải đưa ra giải pháp đúng đắn trong những tình huống
xa lạ. Luyện tập đan xen và lồng ghép nhiều nội dung đa dạng (interleaved
and varied practice) sẽ giúp bạn làm chủ kỹ năng hay kiến thức hơn so với
luyện tập liên tục và chuyên chú vào một nội dung. Giả dụ, khi bạn đang ôn
tập kỹ năng tính toán khối lượng, dung tích, v.v… bạn chen vào đó các kiến
thức về hình khối. Điều này sẽ giúp bạn khỏi bối rối khi gặp một bài tập
tính toán liên quan đến một dạng hình học nào đó. Một minh họa khác, kết
hợp rèn luyện khả năng nhận dạng các loài chim với năng lực cảm thụ các
tác phẩm tranh sơn dầu sẽ giúp bạn trau dồi được vốn hiểu biết cả về sự
thống nhất giữa các thuộc tính trong cùng một loại thể lẫn sự khác biệt giữa
các loại thể, từ đó củng cố kỹ năng phân loại mà rất có thể sau này bạn sẽ
cần tới.
Tất cả chúng ta đều dễ sa vào những ảo tưởng. Những ảo tưởng này có thể
làm thui chột năng lực đánh giá của chúng ta về những gì ta biết và những
gì ta có thể làm. Quá trình kiểm tra thẩm định khả năng khái quát của chúng
ta về những gì đã học được. Một phi công đang đối mặt với động cơ bị hỏng
trong thiết bị mô phỏng điều kiện bay sẽ nhanh chóng phát hiện ra liệu
mình có đang thực hiện đúng quy trình sửa chữa hay không. Gần như trong
mọi lĩnh vực, người học có thể đạt tới trình độ thông thạo khi họ sử dụng
các bài kiểm tra như một công cụ để xác định và khắc phục điểm yếu.
Mọi tri thức mới đều đòi hỏi phải được xây dựng trên nền tảng từ những
hiểu biết trước đó. Bạn cần biết làm thế nào để hạ cánh một chiếc máy bay
động cơ hai thì với đủ hai động cơ trước khi học cách tiếp đất chỉ với một
trong số chúng còn hoạt động. Để học lượng giác, bạn nhất thiết phải nhớ
kiến thức về đại số và hình học. Để biết cách đóng tủ, bạn phải thông hiểu
đặc tính của gỗ và các vật liệu cấu thành, cũng như cách ráp ván, bào rãnh,
phay mặt, làm mộng.
Trong một tác phẩm của Gary Larson, tác giả của loạt tranh biếm họa Far
Side, một cậu bé với đôi mắt ốc nhồi đã xin phép thầy giáo: “Thưa thầy
Oxborne, em có thể xin nghỉ được không ạ? Em không thể nhét thêm bất kỳ
thứ gì vào đầu nữa ạ!” Nếu như bạn chỉ học hỏi như một cái máy sao chép
nhắc lại kiến thức một cách đơn thuần, đúng là chẳng mấy chốc khả năng
tập trung chú ý và lưu giữ thông tin của bạn sẽ tới mức giới hạn. Tuy nhiên,
nếu bạn học hỏi với một sự diễn giải tỉ mỉ (elaboration), khả năng tiếp thu
của bạn sẽ là vô hạn. Sự diễn giải tỉ mỉ ở đây ám chỉ quá trình chúng ta diễn
đạt lại ý nghĩa của những tài liệu mới bằng ngôn ngữ và cách thức của
chính mình cũng như quá trình chúng ta liên hệ chúng với những kiến thức
bản thân đã có. Bạn càng diễn giải được nhiều mối liên hệ giữa hiểu biết
mới với những kiến thức cũ, bạn càng thấu hiểu triệt để vấn đề, những mối
liên hệ bạn tự tạo ra sẽ giúp bạn ghi nhớ chúng lâu hơn. Luồng không khí
nóng lưu giữ nhiều hơi ẩm hơn không khí lạnh; để liên hệ điều đó với trải
nghiệm thực tế của bản thân, bạn có thể liên tưởng tới phần sau điều hòa
luôn bị rỏ nước, hay khí trời mùa hè oi bức luôn trở nên mát mẻ sau một
cơn giông bất chợt. Sự bay hơi có tác dụng làm mát: hẳn là bạn biết điều
này vì bạn cảm thấy nhà người chú ở Atlanta nóng nực hơn vào một ngày
trời nồm so với một ngày khô hanh tại nhà người anh họ ở Phoenix, nơi mà
bạn phải cất áo len đi ngay cả trước khi da mình kịp dấp dính. Khi nghiên
cứu nguyên lý dẫn truyền nhiệt, bạn cảm nhận được sự truyền nhiệt khi làm
ấm bàn tay quanh một cốc ca cao nóng, nhìn ra sự bức xạ trong cách mặt
trời ẩn đi trong những ngày đông giá, cắt nghĩa sự đối lưu qua tiếng còi cứu
hộ khi chú bạn âm thầm chậm rãi dõi theo bạn qua những con hẻm ưa thích
của ông ở Atlanta.
Lồng nội dung kiến thức mới vào một ngữ cảnh rộng hơn (larger context)
cũng là một phương pháp hàm thụ hữu ích. Càng biết nhiều chuyện bên lề
sử sách, bạn càng hiểu thêm nhiều về lịch sử. Và bạn có thể lý giải ý nghĩa
của những câu chuyện đó theo càng nhiều cách, ví như nếu kết nối chúng
với những hiểu biết của mình về hoài bão con người và số phận éo le, thì
câu chuyện đó càng tồn tại lâu dài trong tâm trí bạn. Tương tự, nếu bạn
đang cố gắng tìm hiểu một khái niệm trừu tượng, như nguyên lý về mô men
động lượng chẳng hạn, sẽ dễ dàng hơn khi bạn đặt nó vào một trạng huống
cụ thể mà bạn đã biết, trong trường hợp này là cách một vận động viên trượt
băng nghệ thuật tăng vận tốc xoay tròn khi cô xếp tay lên ngực.
Khi một cá nhân học cách rút ra các ý tưởng chính từ một tài liệu mới, tổ
chức chúng thành một mô hình tư duy giả định (mental model) và liên hệ
mô hình đó với những hiểu biết sẵn có, cá nhân đó tỏ ra có lợi thế đặc biệt
trong việc lĩnh hội những kỹ năng phức tạp. Mô hình tư duy giả định nói
trên là một phương pháp, trong đó người học xây dựng một mô hình tưởng
tượng trong đầu về những sự kiện ngoại cảnh. Hãy thử tưởng tượng trong
một trận bóng chày, cầu thủ đánh bóng (batter) đang chờ đợi một cú ném.
Anh ta gần như không có lấy một giây để đoán định xem liệu đó là một cú
ném vòng cung (curveball), cú ném lừa (changeup) hay bất kỳ thứ gì khác.
Vậy anh ta sẽ xử trí thế nào? Trong trường hợp này, vài dấu hiệu tinh vi tỏ
ra hữu ích: hướng quay, cách ném của người ném bóng (pitcher) hay vòng
xoáy của những đường viền nổi trên quả bóng. Một người đánh bóng giỏi sẽ
sàng lọc và loại ra các dấu hiệu cảm quan không cần thiết hay gây xao lãng,
chỉ tập trung vào sự biến đổi đường ném bóng và nhờ quá trình luyện tập,
anh ta có thể xây dựng những mô hình tưởng tượng đặc trưng tương ứng
với các nhóm tín hiệu khác nhau về mỗi cách ném bóng. Anh ta sẽ liên kết
các mô hình này với những kiến thức đã có về tư thế đánh bóng, khu vực
đập bóng và di chuyển đến đúng điểm đến của bóng. Từ những điều này,
anh ta tiếp tục liên hệ tới mô hình về vị trí của các cầu thủ trong đội: nếu có
cầu thủ khác ở vị trí số một và số hai, có thể anh ta sẽ hy sinh để nhường lợi
thế cho những người chạy gôn (runner). Nếu có hai người đánh bóng ở vị trí
số một và số ba và một người bị loại, anh ta sẽ cố gắng để không người
chạy gôn nào tiếp theo bị loại (double play) trong khi vẫn đánh được bóng
để người chạy gôn về đích và ghi điểm. Mô hình về vị trí các đồng đội lại
được liên kết với mô hình vị trí các cầu thủ đội bạn (họ đang ở vị trí cao hay
thấp) cũng như kết nối với các tín hiệu xung quanh từ khu vực dành cho các
thành viên trong đội (dugout) tới các điểm mốc (base), từ chỗ các huấn
luyện viên đến vị trí của anh ta. Trong một cú đánh bóng tuyệt vời, các
mảnh ghép đó được ráp nối hoàn hảo: người đánh bóng kết nối được với
trái bóng và hướng nó về một lỗ xa gôn, câu giờ cho đồng đội chạy về gôn.
Tóm lại, một cầu thủ chuyên nghiệp sẽ loại ra tất cả các chi tiết gây xao
lãng ngoại trừ những yếu tố quan trọng nhất quyết định loại đường ném
bóng và cách đối phó với từng loại, xây dựng những mô hình tư duy giả
định từ các yếu tố đó đồng thời liên hệ các mô hình này với hiểu biết của
mình về các nhân tố thiết yếu khác trong một trận đấu phức tạp. Nhờ đó anh
ta sẽ có cơ hội ghi điểm tốt hơn so với một cầu thủ thiếu kinh nghiệm, một
người không thể cắt nghĩa một khối lượng thông tin khổng lồ và biến đổi
liên tục mà anh ta phải xử lý mỗi khi bước lên gôn nhà (plate).
Nhiều người tin rằng khả năng tư duy đã được ấn định ngay từ lúc lọt lòng
và khả năng bẩm sinh bị giới hạn của họ phải chịu trách nhiệm cho mọi thất
bại trước những thử thách về mặt trí tuệ. Nhưng mỗi khi bạn học được thêm
một điều mới là bạn đã thay đổi bộ não của mình – nơi lưu giữ lại những gì
được sàng lọc từ trải nghiệm của bạn. Chúng ta bắt đầu cuộc đời của mình
với món quà của bộ gen sinh học, điều đó không sai. Nhưng cũng không hề
sai khi chúng ta trở nên giỏi giang hơn nhờ quá trình học hỏi và phát triển
các mô hình tư duy, thứ mang đến cho chúng ta khả năng suy luận, giải
quyết và sáng tạo. Nói một cách khác, ở một mức độ tương đối bất ngờ, các
yếu tố hình thành nên năng lực trí tuệ của chúng ta lại nằm ngay trong tầm
kiểm soát của chính chúng ta. Thấu triệt được điều đó sẽ giúp bạn nhìn
nhận thất bại như một dấu hiệu của nỗ lực cũng như một nguồn thông tin
hữu ích – từ đó khơi gợi nhu cầu đào sâu vấn đề hay áp dụng một chiến
lược mới. Nhu cầu xác định khi nào việc tiếp thu trở nên khó khăn cũng rất
quan trọng. Để vượt qua trình độ hiện tại của chính mình và hướng tới sự
tinh thông đích thực, bạn cần hiểu rằng mọi sự đấu tranh và thất bại là thiết
yếu, như trong mọi game hành động hay buổi quảng cáo một chiếc BMX
mới. Mắc sai lầm và nỗ lực sửa chữa sai lầm chính là nấc thang dẫn tới một
trình độ nhận thức cao hơn.
CHỨNG CỨ THỰC NGHIỆM TRONG CUỘC ĐỐI ĐẦU VỚI LÝ
LUẬN, HỌC THUYẾT VÀ TRỰC GIÁC
Phần lớn cách chúng ta cấu trúc nền giáo dục và đào tạo đều dựa trên các lý
thuyết được truyền lại. Các lý thuyết được quyết định bởi sự thừa nhận của
chúng ta về điều gì có tác động lớn hơn, những hiểu biết rút ra từ kinh
nghiệm cá nhân trên tư cách là các giáo viên, huấn luyện viên, sinh viên hay
đơn thuần là ý kiến của số đông. Đa phần cách chúng ta nghiên cứu và học
hỏi đều là sự pha trộn của các lý luận, học thuyết và trực giác. Nhưng trong
khoảng 40 năm trở lại đây và thậm chí có thể còn kéo dài hơn nữa, các nhà
tâm lý học nhận thức đã nghiên cứu và xây dựng nên một hệ thống các bằng
chứng giúp làm sáng tỏ tác nhân nào trong số các yếu tố kể trên đóng vai
trò ảnh hưởng cũng như phát hiện ra các chiến lược mang lại kết quả.
Tâm lý học nhận thức là bộ môn khoa học nền tảng tiến hành tìm hiểu về
quá trình bộ não của chúng ta làm việc, cũng như thực hiện các nghiên cứu
thực chứng về cách con người nhận thức, ghi nhớ và suy nghĩ. Nhiều ngành
khoa học khác cũng tham gia vào lý giải những bí ẩn của quá trình lĩnh hội
tri thức. Các nhà tâm lý học phát triển và các nhà giáo dục đều quan tâm tới
những lý thuyết về phát triển con người cũng như phương án ứng dụng
những lý thuyết này vào quá trình xây dựng các công cụ giáo dục – như các
phương pháp kiểm chứng, tổ chức hướng dẫn (đề cương, minh họa dưới
dạng đồ thị, v.v…) và nguồn tài liệu cho từng nhóm học viên đặc biệt
(chương trình đào tạo dành cho các học viên yếu kém hay các học viên
năng khiếu). Các chuyên gia thần kinh học, với việc sử dụng các kỹ thuật và
công cụ mới có tính hình tượng, đã đạt được những bước tiến mới trong
việc khám phá ra cơ chế hoạt động của não bộ, cơ quan tiền đề quyết định
kết quả của quá trình học hỏi. Nhưng chúng ta vẫn còn một chặng đường
dài phải trải qua trước khi các nhà thần kinh học có thể đưa ra phương án
cải thiện nền giáo dục hiện tại.
Vậy mỗi cá nhân phải làm gì để biết chắc rằng chỉ dẫn nào sẽ mang lại kết
quả tốt nhất cho sự học hỏi của bản thân khi chúng được áp dụng đúng
cách?
Luôn hoài nghi là một phương án khôn ngoan. Tìm ra những lời khuyên
chẳng có gì là khó, bạn chỉ cần vài cú nhấp chuột. Nhưng không phải mọi
chỉ dẫn đều bắt nguồn từ kết quả của những nghiên cứu, nếu không muốn
nói là rất ít. Cũng như không phải tất cả những chỉ dẫn đó đều là kết quả
của các cuộc điều tra, những nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn khoa học,
như là các điều kiện giám sát thích hợp để đảm bảo tính khách quan và khái
quát. Những nghiên cứu thực chứng tốt nhất, về bản chất, chính là các thí
nghiệm: nhà nghiên cứu phát triển một giả thuyết và kiểm chứng nó qua hệ
thống các thí nghiệm, những thí nghiệm này phải đáp ứng các tiêu chuẩn
ngặt nghèo về cơ cấu và tính khách quan. Trong chương tiếp theo, chúng tôi
sẽ đúc kết những phát hiện của một số lượng không nhỏ các nghiên cứu.
Các nghiên cứu này là kết quả của quá trình nghiền ngẫm và xem xét của cả
cộng đồng khoa học trước khi được công bố trên các ấn phẩm chuyên
ngành. Chúng tôi đã cùng tham gia vào một số công trình khoa học nhưng
số đó không nhiều. Những công trình đó, như chúng tôi thường nói, chỉ là
nơi đưa ra những lý thuyết thay vì những kết quả có giá trị khoa học. Để thể
hiện quan điểm của mình, bên cạnh những thành quả khoa học đã được
kiểm chứng, chúng tôi còn viện tới giai thoại về những con người như Matt
Brown, những cá nhân mà công việc của họ đòi hỏi sự thông thạo cả về
kiến thức lẫn kỹ năng. Những câu chuyện làm dẫn chứng cho các nguyên
tắc cơ bản về cách học hỏi và ghi nhớ cũng được chúng tôi sử dụng triệt để.
Chúng ta vẫn đang lầm tưởng về sự tiếp thu
Hóa ra phần nhiều những gì chúng ta vẫn áp dụng với tư cách người giảng
dạy hay người học tập lại không mấy hiệu quả, song chỉ một vài điều chỉnh
nhỏ có thể mang lại những thay đổi bất ngờ. Mọi người thường nghĩ nếu
như bản thân tiếp xúc với một tài liệu nào đó đủ lâu, ví như một đoạn bài
giảng hay một hệ thống các thuật ngữ trong cuốn sách giáo khoa Sinh học
lớp 8, họ có thể ghi nhớ chúng. Nhưng điều đó hoàn toàn sai lầm. Thêm
nữa, nhiều giáo viên vẫn tin rằng quá trình học tập sẽ hiệu quả hơn nếu như
họ khiến nó trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn. Nhưng phần lớn các
nghiên cứu lại chỉ ra điều ngược lại: hành trình tiếp thu càng khó khăn,
thành quả tiếp thu càng vững chắc. Nhiều giáo viên hay huấn luyện viên
vẫn tin rằng cách hiệu quả nhất để thuần thục một kỹ năng mới là tăng
cường nắm bắt, tập trung cao độ và lặp lại liên tục chỉ một kỹ năng đơn nhất
cho đến khi bạn làm chủ được nó. Điều đó đã bám rễ trong niềm tin của
chúng ta, vì chúng ta chỉ thấy thành quả tức thì của việc thực hành một cách
tập trung và dồn dập. Nghiên cứu này đã chỉ ra một điều rõ ràng rằng,
những thành quả đạt được nhờ phương pháp rèn luyện tập trung chỉ có tính
tạm thời và dễ dàng tan biến.
Phát hiện về sự vô ích của việc đọc lại sách giáo khoa đã giội một gáo nước
lạnh lên các nhà giáo dục và các học viên, vì đó là chiến lược số một của
hầu hết mọi người – trong đó có hơn 80% sinh viên đại học tham gia khảo
sát. Bản thân việc đọc lại cũng là nhiệm vụ trọng tâm chiếm phần lớn quỹ
thời gian mà chúng ta dành cho việc học tập. Đọc lại gây ra ba tác hại đối
với quá trình tiếp thu. Thứ nhất, nó hoàn toàn chỉ tiêu tốn thời gian. Thứ
hai, kiến thức thu được từ việc đọc lại không được lưu giữ lâu trong trí nhớ.
Thứ ba, việc đọc lại dễ khiến người học rơi vào trạng thái tự lừa dối mình
một cách vô thức, nói cách khác họ dễ lầm tưởng rằng bản thân đã nắm bắt
được kiến thức trong khi thực sự họ lại chỉ đang học vẹt. Hàng giờ liền
chìm đắm trong việc đọc đi đọc lại dường như khá giống với biểu hiện của
sự chuyên cần, nhưng khối lượng thời gian dành cho việc học lại không hề
quyết định mức độ tinh thông của người học.
Bạn chẳng cần phải nhìn đâu xa để tìm những trung tâm giáo dục hoạt động
dựa trên quan niệm cho rằng sự tiếp xúc đơn thuần với tần suất lớn và mức
độ tập trung cao độ có thể tạo nên tính hiệu quả trong quá trình tiếp thu tri
thức. Hãy cùng xem xét trường hợp của Matt Brown, người phi công, trong
ví dụ trước đây. Matt Brown đã nắm bắt khối lượng kiến thức đủ để được
thừa nhận bởi bất kỳ hãng kinh doanh hàng không nào sẽ thuê ông làm phi
công và chúng tôi đã đề nghị ông mô tả toàn bộ quá trình. Người chủ mới
đã gửi ông tới tham dự một khóa huấn luyện kéo dài mười giờ mỗi ngày
trong mười tám ngày liên tục. Matt gọi đó là phương pháp hướng dẫn “vòi
cứu hỏa”. Bảy ngày đầu tiên, mọi thứ chỉ diễn ra trong phòng học. Ông
được chỉ dẫn về tất cả các hệ thống của máy bay: điện, nhiên liệu, không
khí, v.v…; cơ chế hoạt động và tương tác của các hệ thống này; cũng như
các mức độ an toàn – hỏng hóc của chúng dưới tác động của các yếu tố như
áp suất, trọng lực, nhiệt độ và vận tốc. Matt được yêu cầu phải sẵn sàng cho
việc tuân theo những mệnh lệnh tức thì về 80 “hành vi trí nhớ”. Các hành
động này phải được thực hiện không do dự, không đắn đo để giữ cho máy
bay được ổn định trong trường hợp một trong số hàng tá những sự cố bất
thình lình có thể xảy ra như áp suất giảm đột ngột, bộ phận thổi ngược bật
mở giữa chuyến bay, một động cơ nào đó bị hỏng hóc hay một vụ chập cháy
điện.
Matt và các bạn đồng học phải dành hàng giờ chăm chú quan sát những
hình minh họa trình chiếu PowerPoint, với bộ não gần như tê liệt, về những
hệ thống cơ bản của máy bay. Và rồi một điều thú vị đã xảy ra.
Matt kể: “Vào khoảng giữa ngày thứ năm, họ chiếu lên màn hình một sơ đồ
về hệ thống nhiên liệu, với cảm biến áp suất, van khóa, bơm phụt, đường
vòng, v.v... Bạn phải rất chật vật mới có thể tập trung. Sau đó, một người
hướng dẫn hỏi chúng tôi: 'Đã ai trong số các bạn từng gặp trường hợp đèn
cảnh báo bộ lọc nhiên liệu của ống phụt bật sáng trong một chuyến bay
rồi?'. Một phi công phía bên kia phòng giơ tay. Người hướng dẫn tiếp: 'Kể
cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra?' và thoạt nhiên bạn nghĩ, chà, sẽ ra
sao nếu người đó là mình?
Anh ta đang bay trên độ cao hơn 900m, và sắp sửa mất cả hai động cơ vì đã
nạp loại nhiên liệu không có chất chống đông trong khi bộ lọc của máy bay
đang tắc nghẽn vì băng tuyết. Bạn dõi theo câu chuyện, và tin tôi đi, các
hình vẽ phác họa cứ như có sức sống, bám chặt lấy tâm trí bạn vậy. Nhiên
liệu bay thường có thành phần nước, và khi gặp không khí lạnh ở một độ
cao nhất định, nước sẽ đông đặc lại, đóng băng và làm tắc đường dẫn. Do
đó, bất cứ khi nào nạp nhiên liệu, bạn phải chọn loại tốt và chắc chắn rằng
bạn có thể tìm thấy trên xe chở nhiên liệu một ký hiệu cho biết nó có chứa
Prist, hoạt chất chống đông. Và nếu như có bất ngờ nhìn thấy đèn cảnh báo
bật sáng giữa hành trình bay, bạn phải nhanh chóng hạ thấp độ cao để
xuống vùng không khí ấm hơn.” Sự tiếp thu trở nên mạnh mẽ hơn trong
một ngữ cảnh đáng lo ngại, khi mà lý thuyết trừu tượng được cụ thể hóa và
cá nhân hóa.
Kể từ đó, tính chất của khóa hướng dẫn thay đổi. Mười một ngày sau là sự
kết hợp giữa các bài học trên lớp và thực hành trong môi trường mô phỏng
bay. Matt đã mô tả một hình thức tham gia chủ động được triển khai tại đây,
điều làm gia tăng tính lâu bền của những kiến thức được học. Người phi
công ...
BÍ QUYẾT HỌC ĐÂU NHỚ ĐÓ
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Alpha, 2015
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.sachvui.com
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch
và Nhà Xuất Bản
“Trí nhớ là cội nguồn của mọi sự thông thái.”
— Aeschylus, Prometheus bị xiềng
Lời tựa
Phần lớn chúng ta thường tiếp cận quá trình học hỏi theo những cách thức
sai lầm. Nghiên cứu thực nghiệm về phương pháp tiếp thu và ghi nhớ đã chỉ
ra rằng, hầu hết những gì vẫn được cho là cẩm nang hữu ích về học tập hóa
ra lại chỉ làm hao tổn công sức của chúng ta. Ngay cả những người dành
phần lớn thời gian của họ để nghiên cứu như các sinh viên cao đẳng hay
sinh viên y khoa cũng áp dụng những kỹ năng còn xa mới được gọi là tối
ưu. Trong khi đó, ngành khoa học nhận thức, với 125 năm lịch sử nhưng chỉ
thực sự phát triển vài năm gần đây, đã khơi mở một viễn cảnh tươi sáng khi
đúc rút ra những chiến lược thực chứng ưu việt nhằm thay thế những thói
quen nghiên cứu kém hiệu quả song vẫn được chấp nhận và truyền bá rộng
rãi, vốn bắt rễ từ lâu vào các học thuyết, giáo điều và cả tiềm thức con
người. Song trên tất cả, điều mấu chốt ở đây là những chiến lược học tập
hiệu quả nhất đều không thể dựa vào trực giác.
Chúng tôi, Henry Roediger và Mark McDaniel, là những nhà khoa học nhận
thức đã dành cả sự nghiệp của mình để nghiên cứu về bản chất của trí tuệ.
Cùng với cây bút Peter Brown, chúng tôi đã lập thành nhóm tìm hiểu về
cách thức vận hành của trí nhớ và khả năng học hỏi, phần lớn là thông qua
những câu chuyện có thật về những cá nhân đã thành công trong cuộc chinh
phục tri thức và kỹ năng, hơn là chỉ đơn thuần trích dẫn hay tường thuật lại
quá trình nghiên cứu. Những dẫn chứng này đã giúp chúng tôi làm sáng tỏ
được tính hiệu quả vượt trội của những nguyên lý học tập được đúc rút từ
các công trình nghiên cứu. Cuốn sách này là kết quả từ sự cộng tác của
mười một nhà tâm lý học nhận thức. Năm 2002, trong nỗ lực lồng ghép
những hiểu biết về phương pháp học tập góp nhặt được trong nghiên cứu
tâm lý học nhận thức vào công cuộc giáo dục, tổ chức James S. McDonnell
tại thành phố St. Louis, bang Missouri đã trao giải thưởng “Áp dụng tâm lý
học nhận thức vào củng cố thực tiễn giáo dục” cho công trình nghiên cứu
của Roediger và McDaniel cùng chín học giả khác, trong đó Roediger đóng
vai trò chủ đạo. Các cá nhân đã cùng hợp tác trong mười năm với nỗ lực tìm
kiếm cũng như khẳng định tiếng nói chung giữa khoa học nhận thức và
khoa học giáo dục, và kết quả trực tiếp của công trình đó đã được phản ánh
trong nhiều khía cạnh của cuốn sách này. Các nhà nghiên cứu cũng như tác
phẩm của họ được trích dẫn trong cuốn sách đều được chú giải rõ ràng.
Công trình của Roediger và McDonnell cũng nhận được sự ủng hộ của
nhiều nhà gây quỹ khác, trong đó có Trung tâm Nghiên cứu hợp nhất về
Nhận thức và Trí nhớ trực thuộc Đại học Washington, nơi mà McDonnell là
đồng giám đốc.
Hầu hết các cuốn sách đều thảo luận chủ đề theo từng kỳ, kỳ này một vấn
đề, kỳ sau là vấn đề kế tiếp và tuần tự như thế. Không nằm ngoài chiến lược
chung đó, mỗi chương của chúng tôi cũng sẽ đề cập đến các vấn đề mới.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng áp dụng hai nguyên tắc nghiên cứu cơ bản trong
cuốn sách này: các ý chính được nhắc lại đều đặn đan xen với các đề tài
mới nhưng có liên quan. Sau khi nắm bắt một vấn đề, nếu người học ôn lại
vấn đề đó một cách định kỳ, họ sẽ ghi nhớ nó tốt hơn. Tương tự, nếu họ
lồng vào quá trình đó các vấn đề mới, việc tiếp thu sẽ dễ dàng hơn là nghiên
cứu các vấn đề theo một trình tự đơn thuần. Do đó, chúng tôi không hề do
dự khi đề cập đến các ý tưởng chính nhiều hơn một lần, lặp lại các nguyên
lý với các ngữ cảnh khác nhau trong toàn bộ cuốn sách. Điều đó sẽ giúp độc
giả ghi nhớ lâu hơn cũng như áp dụng chính những nguyên tắc đó hiệu quả
hơn.
Với cuốn sách này, ngay từ bây giờ mỗi người chúng ta có thể tự học hỏi tốt
hơn và ghi nhớ lâu hơn. Những giáo viên hay người hướng dẫn hoàn toàn
có thể thúc đẩy quá trình học hỏi của người học bằng cách giúp họ nắm
vững các nguyên tắc và áp dụng chúng vào thực tiễn nghiên cứu. Cuốn sách
này không hề đề cập đến vấn đề cải cách các chính sách giáo dục hay hệ
thống trường lớp nhưng rõ ràng, điều đó vẫn hàm ẩn bên trong nội dung.
Một ví dụ thực tế là các giảng viên tiên phong trong việc áp dụng các
nguyên lý này vào giảng dạy đã nghiêm túc thử nghiệm chúng ở chính các
sinh viên tiềm năng của mình. Dưới sự dẫn dắt đó, các sinh viên này đã ứng
dụng các nguyên tắc trên vào công cuộc rút ngắn khoảng cách dẫn tới
những thành tựu khoa học. Và thành quả đạt được thật đáng ngạc nhiên.
Chúng tôi dành tặng cuốn sách này cho các sinh viên và cả những giáo viên
cũng như cho mọi độc giả, những người luôn coi việc tiếp thu tri thức một
cách hiệu quả là ưu tiên hàng đầu. Đó là những người giữ vai trò đào tạo
trong các doanh nghiệp, ngành nghề, hay quân đội; những người lãnh đạo
trong các tổ chức chuyên nghiệp với vai trò dẫn dắt các thành viên của
mình; và cả những huấn luyện viên. Chúng tôi cũng hướng tới những độc
giả trung niên và cao tuổi với châm ngôn học tập là sự nghiệp trọn đời.
Chừng nào vẫn còn những ẩn số về năng lực học tập đang chờ được giải
đáp, chừng đó vẫn còn vô số những nghiên cứu luôn sẵn sàng cung cấp các
nguyên tắc và chiến lược thực tiễn có thể áp dụng ngay lập tức, không tốn
chi phí mà mang lại hiệu quả tuyệt vời.
Chương 1. Những lầm tưởng về sự
tiếp thu
Matt Brown phát hiện ra áp suất dầu của động cơ bên phải tụt đột ngột khi
đang điều khiển một chiếc phi cơ động cơ hai thì của hãng Cessna trên bầu
trời Harlingen, bang Texas. Đó là một trong những năm đầu trong sự nghiệp
phi công của ông. Ông đang đơn độc bay xuyên màn đêm ở độ cao 3.353m
để vận chuyển một chuyến hàng khẩn cấp cho một nhà máy ở Kentucky.
Nhà máy này đã phải tạm ngừng dây chuyền sản xuất để chờ các bộ phận
còn thiếu trong quá trình lắp ráp.
Ông hạ độ cao và theo dõi đồng hồ đo dầu, hy vọng có thể đến kịp trạm
dừng tiếp nhiên liệu ở Lousiana theo kế hoạch, tại đó máy bay có thể được
sửa. Nhưng áp suất dầu vẫn tiếp tục sụt. Matt đã xoay xở với các động cơ
pít tông từ lúc ông đủ lớn để cầm một cái cờ lê. Nhờ đó ông biết mình thực
sự đang gặp rắc rối. Ông liệt kê và lướt nhanh trong đầu một loạt các
phương án. Nếu ông để mặc áp suất dầu tụt xuống quá thấp, động cơ sẽ bị
kẹt. Liệu ông có thể bay bao xa trước khi chuyện đó xảy ra? Điều gì sẽ xảy
ra nếu ông để mất động cơ? Ông có thể giảm tải phía bên cánh phải? Nhưng
liệu ông có thể giữ máy bay ở trên không như thế mãi? Ông hồi tưởng lại
những giờ phút chịu đựng trên chiếc Cessna 401. Phải, điều tốt nhất bạn có
thể làm khi chỉ còn một động cơ là hạ thấp độ cao. Nhưng ông vẫn còn một
lô hàng nhẹ cần chở và máy bay sắp cạn nhiên liệu. Ông tắt động cơ đã tàn
tạ bên cánh phải, quay cánh quạt nhằm giảm sức kéo, cùng lúc tăng động cơ
cánh trái, bay bằng bánh lái đối diện và lê thêm được mười dặm nữa về phía
điểm dừng đã định. Thế đấy, ông đã tiếp đất bằng một cú xoay cánh trái
rộng, bởi một lý do đơn giản nhưng cực kỳ mấu chốt: thiếu lực cánh phải,
cách duy nhất khiến máy bay có đủ lực nâng để duy trì một độ cao thấp
trước khi hạ cánh là thực hiện một cú xoay cánh trái.
Trong khi chúng ta không cần thiết phải tường tận từng hành động của Matt
thì dĩ nhiên ông phải hiểu rõ hành vi của mình. Và khả năng tự cứu mình
thoát khỏi thảm họa của ông đã làm sáng tỏ điều chúng tôi vẫn luôn muốn
đề cập đến trong cuốn sách này khi bàn về vấn đề học hỏi: thu thập kiến
thức cũng như kỹ năng và lưu giữ chúng trong trí nhớ để sẵn sàng đối phó
với những tình huống trong tương lai: bao gồm cả thách thức và cơ hội.
Chúng ta có thể có cùng chung ý kiến về một số khía cạnh bất biến khi đề
cập đến vấn đề tiếp thu tri thức:
Trước hết, quá trình học tập có hiệu quả luôn đòi hỏi sự ghi nhớ. Có như thế
kiến thức thu thập được trong hiện tại mới hữu ích trong tương lai.
Hai là, việc học hỏi và ghi nhớ cần được duy trì suốt cuộc đời. Chúng ta
không thể hoàn tất bậc giáo dục trung học khi chưa nắm vững các tri thức
về ngôn ngữ, toán học, khoa học, cũng như xã hội. Thăng tiến trong sự
nghiệp lại tiếp tục đòi hỏi ở chúng ta các kỹ năng chuyên môn và kiến thức
đại học. Khi giã từ sự nghiệp, chúng ta kiếm tìm vài sở thích mới. Lúc về
già lẩm cẩm, chúng ta chuyển đến những ngôi nhà giản đơn và dễ thích
nghi hơn. Khả năng tiếp thu tốt sẽ luôn là một lợi thế cho chúng ta trong
mọi giai đoạn của cuộc đời.
Thứ ba, học hỏi cũng là một kỹ năng đòi hỏi sự trau dồi và những chiến
lược hiệu quả nhất nhiều khi lại trái với lẽ thường.
ĐỀ XUẤT CỦA CHÚNG TÔI
Có lẽ bạn không đồng tình với chúng tôi ở khía cạnh thứ ba, nhưng hy vọng
cuốn sách này sẽ thuyết phục bạn tin vào điều đó. Một số điều dưới đây,
không ít thì nhiều, chưa được sắp xếp theo một danh sách tuần tự, nhưng đó
là những đề xuất cơ bản hỗ trợ cho lập luận của chúng tôi và sẽ được đề cập
đầy đủ hơn trong những chương sau.
Kiến thức sẽ trở nên sâu sắc và được lưu giữ lâu hơn chỉ khi có sự nỗ lực
trong quá trình hàm thụ. Học hỏi mà dễ dàng thì chẳng khác gì viết chữ trên
nền cát, nay còn mai mất.
Chúng ta còn yếu kém trong việc đánh giá khi nào chúng ta ở trạng thái tiếp
thu tốt nhất và khi nào không. Khi mọi thứ trở nên khó khăn, chậm chạp và
kém hiệu quả, chúng ta thường bị thôi thúc chuyển hướng sang các chiến
lược tưởng như hữu ích mà không hề biết rằng kết quả thu được từ việc áp
dụng những chiến lược đó nhiều khi chỉ mang tính nhất thời.
Cho đến nay, đọc lại bài khóa (rereading text) và ôn tập một cách tập trung
(massed practice) một kỹ năng hay kiến thức mới là phương pháp học tập
vẫn được người học trong mọi lĩnh vực ưu tiên áp dụng. Nhưng kỳ thực đó
cũng là một trong những chiến lược kém hiệu quả nhất. Ôn tập một cách tập
trung ở đây hàm nghĩa sự lặp lại liên tục, không ngừng, chuyên chú vào một
kiến thức duy nhất nhằm khắc sâu nó vào trí nhớ. Đây là phương pháp kiểu
“luyện tập-luyện tập-luyện tập” rất kinh điển. Nhồi nhét kiến thức trước kỳ
thi là một ví dụ tiêu biểu. Đọc đi đọc lại hay ôn tập không ngừng làm gia
tăng cảm giác về sự nhuần nhuyễn, trôi chảy, điều có thể tạm coi là dấu hiệu
của sự tinh thông. Nhưng xét đến tính lưu giữ lâu dài và sự thành thạo đích
thực thì chiến lược này chỉ làm hao tổn thời gian.
Phương pháp luyện tập thông qua hồi tưởng (retrieval practice) – khơi gợi
lại ký ức về sự việc, khái niệm hay sự kiện – là phương pháp hiệu quả hơn
nhiều so với đọc lại. Một ví dụ đơn giản là thẻ học thông minh (flashcard).
Quá trình hồi tưởng lại tri thức củng cố khả năng ghi nhớ và hạn chế sự
quên lãng. Giải một câu đố đơn giản sau khi đọc bài khóa hay nghe thuyết
trình thúc đẩy sự lĩnh hội và ghi nhớ tốt hơn nhiều so với xem lại bài giảng
hay các ghi chú về buổi thuyết trình. Não bộ không thể được tăng cường
bằng các bài tập thể dục như cơ bắp, nhưng các dây thần kinh tham gia vào
quá trình xúc tiến sự tiếp thu sẽ được củng cố khi trí nhớ được triệu hồi và
kiến thức được ôn tập. Ôn tập theo chu kỳ sẽ loại bỏ khả năng lãng quên, hỗ
trợ khả năng gợi nhớ và đặc biệt thiết yếu nếu bạn muốn nắm bắt hay làm
chủ kiến thức.
Trong một bài tập, khi bạn tạo khoảng cách giữa những lần luyện tập (space
out practice) và đối mặt với chút ít căng thẳng giữa những lần cách quãng,
hay xen vào đó hai hay nhiều đối tượng luyện tập khác, quá trình gợi nhớ sẽ
trở nên khó khăn và tưởng chừng kém hiệu quả hơn. Nhưng những nỗ lực
nhằm khắc phục các trở ngại đó sẽ gia tăng sức sống lâu bền cũng như tính
linh hoạt ở khả năng ứng dụng thành quả luyện tập trong những tình huống
tương lai.
Cố gắng giải quyết khó khăn trước khi được chỉ ra giải pháp cũng là một
cách học hỏi hiệu quả, bất chấp những sai lầm có thể xảy ra.
Có một quan niệm phổ biến rằng kiến thức sẽ được hấp thụ dễ dàng hơn
nếu được truyền đạt phù hợp với cách thức lĩnh hội (learning style) của
người học, bằng âm thanh hoặc hình ảnh chẳng hạn. Những nghiên cứu
thực nghiệm không hề ủng hộ điều đó. Con người phát triển nhiều loại hình
trí tuệ để thích nghi với việc học hỏi, và chúng ta sẽ nâng cao khả năng học
hỏi nếu chịu khó mở rộng giới hạn dạng thức truyền đạt, huy động mọi khả
năng và nguồn lực, hơn là bó hẹp sự truyền đạt hay trải nghiệm trong những
dạng thức mà chúng ta cảm thấy dễ chấp nhận nhất.
Khi thành thạo hơn trong việc đúc rút những nguyên lý hay nguyên tắc cơ
bản, những điều tạo nên sự khác biệt giữa các loại vấn đề, bạn sẽ thấy bớt
phần khó khăn khi phải đưa ra giải pháp đúng đắn trong những tình huống
xa lạ. Luyện tập đan xen và lồng ghép nhiều nội dung đa dạng (interleaved
and varied practice) sẽ giúp bạn làm chủ kỹ năng hay kiến thức hơn so với
luyện tập liên tục và chuyên chú vào một nội dung. Giả dụ, khi bạn đang ôn
tập kỹ năng tính toán khối lượng, dung tích, v.v… bạn chen vào đó các kiến
thức về hình khối. Điều này sẽ giúp bạn khỏi bối rối khi gặp một bài tập
tính toán liên quan đến một dạng hình học nào đó. Một minh họa khác, kết
hợp rèn luyện khả năng nhận dạng các loài chim với năng lực cảm thụ các
tác phẩm tranh sơn dầu sẽ giúp bạn trau dồi được vốn hiểu biết cả về sự
thống nhất giữa các thuộc tính trong cùng một loại thể lẫn sự khác biệt giữa
các loại thể, từ đó củng cố kỹ năng phân loại mà rất có thể sau này bạn sẽ
cần tới.
Tất cả chúng ta đều dễ sa vào những ảo tưởng. Những ảo tưởng này có thể
làm thui chột năng lực đánh giá của chúng ta về những gì ta biết và những
gì ta có thể làm. Quá trình kiểm tra thẩm định khả năng khái quát của chúng
ta về những gì đã học được. Một phi công đang đối mặt với động cơ bị hỏng
trong thiết bị mô phỏng điều kiện bay sẽ nhanh chóng phát hiện ra liệu
mình có đang thực hiện đúng quy trình sửa chữa hay không. Gần như trong
mọi lĩnh vực, người học có thể đạt tới trình độ thông thạo khi họ sử dụng
các bài kiểm tra như một công cụ để xác định và khắc phục điểm yếu.
Mọi tri thức mới đều đòi hỏi phải được xây dựng trên nền tảng từ những
hiểu biết trước đó. Bạn cần biết làm thế nào để hạ cánh một chiếc máy bay
động cơ hai thì với đủ hai động cơ trước khi học cách tiếp đất chỉ với một
trong số chúng còn hoạt động. Để học lượng giác, bạn nhất thiết phải nhớ
kiến thức về đại số và hình học. Để biết cách đóng tủ, bạn phải thông hiểu
đặc tính của gỗ và các vật liệu cấu thành, cũng như cách ráp ván, bào rãnh,
phay mặt, làm mộng.
Trong một tác phẩm của Gary Larson, tác giả của loạt tranh biếm họa Far
Side, một cậu bé với đôi mắt ốc nhồi đã xin phép thầy giáo: “Thưa thầy
Oxborne, em có thể xin nghỉ được không ạ? Em không thể nhét thêm bất kỳ
thứ gì vào đầu nữa ạ!” Nếu như bạn chỉ học hỏi như một cái máy sao chép
nhắc lại kiến thức một cách đơn thuần, đúng là chẳng mấy chốc khả năng
tập trung chú ý và lưu giữ thông tin của bạn sẽ tới mức giới hạn. Tuy nhiên,
nếu bạn học hỏi với một sự diễn giải tỉ mỉ (elaboration), khả năng tiếp thu
của bạn sẽ là vô hạn. Sự diễn giải tỉ mỉ ở đây ám chỉ quá trình chúng ta diễn
đạt lại ý nghĩa của những tài liệu mới bằng ngôn ngữ và cách thức của
chính mình cũng như quá trình chúng ta liên hệ chúng với những kiến thức
bản thân đã có. Bạn càng diễn giải được nhiều mối liên hệ giữa hiểu biết
mới với những kiến thức cũ, bạn càng thấu hiểu triệt để vấn đề, những mối
liên hệ bạn tự tạo ra sẽ giúp bạn ghi nhớ chúng lâu hơn. Luồng không khí
nóng lưu giữ nhiều hơi ẩm hơn không khí lạnh; để liên hệ điều đó với trải
nghiệm thực tế của bản thân, bạn có thể liên tưởng tới phần sau điều hòa
luôn bị rỏ nước, hay khí trời mùa hè oi bức luôn trở nên mát mẻ sau một
cơn giông bất chợt. Sự bay hơi có tác dụng làm mát: hẳn là bạn biết điều
này vì bạn cảm thấy nhà người chú ở Atlanta nóng nực hơn vào một ngày
trời nồm so với một ngày khô hanh tại nhà người anh họ ở Phoenix, nơi mà
bạn phải cất áo len đi ngay cả trước khi da mình kịp dấp dính. Khi nghiên
cứu nguyên lý dẫn truyền nhiệt, bạn cảm nhận được sự truyền nhiệt khi làm
ấm bàn tay quanh một cốc ca cao nóng, nhìn ra sự bức xạ trong cách mặt
trời ẩn đi trong những ngày đông giá, cắt nghĩa sự đối lưu qua tiếng còi cứu
hộ khi chú bạn âm thầm chậm rãi dõi theo bạn qua những con hẻm ưa thích
của ông ở Atlanta.
Lồng nội dung kiến thức mới vào một ngữ cảnh rộng hơn (larger context)
cũng là một phương pháp hàm thụ hữu ích. Càng biết nhiều chuyện bên lề
sử sách, bạn càng hiểu thêm nhiều về lịch sử. Và bạn có thể lý giải ý nghĩa
của những câu chuyện đó theo càng nhiều cách, ví như nếu kết nối chúng
với những hiểu biết của mình về hoài bão con người và số phận éo le, thì
câu chuyện đó càng tồn tại lâu dài trong tâm trí bạn. Tương tự, nếu bạn
đang cố gắng tìm hiểu một khái niệm trừu tượng, như nguyên lý về mô men
động lượng chẳng hạn, sẽ dễ dàng hơn khi bạn đặt nó vào một trạng huống
cụ thể mà bạn đã biết, trong trường hợp này là cách một vận động viên trượt
băng nghệ thuật tăng vận tốc xoay tròn khi cô xếp tay lên ngực.
Khi một cá nhân học cách rút ra các ý tưởng chính từ một tài liệu mới, tổ
chức chúng thành một mô hình tư duy giả định (mental model) và liên hệ
mô hình đó với những hiểu biết sẵn có, cá nhân đó tỏ ra có lợi thế đặc biệt
trong việc lĩnh hội những kỹ năng phức tạp. Mô hình tư duy giả định nói
trên là một phương pháp, trong đó người học xây dựng một mô hình tưởng
tượng trong đầu về những sự kiện ngoại cảnh. Hãy thử tưởng tượng trong
một trận bóng chày, cầu thủ đánh bóng (batter) đang chờ đợi một cú ném.
Anh ta gần như không có lấy một giây để đoán định xem liệu đó là một cú
ném vòng cung (curveball), cú ném lừa (changeup) hay bất kỳ thứ gì khác.
Vậy anh ta sẽ xử trí thế nào? Trong trường hợp này, vài dấu hiệu tinh vi tỏ
ra hữu ích: hướng quay, cách ném của người ném bóng (pitcher) hay vòng
xoáy của những đường viền nổi trên quả bóng. Một người đánh bóng giỏi sẽ
sàng lọc và loại ra các dấu hiệu cảm quan không cần thiết hay gây xao lãng,
chỉ tập trung vào sự biến đổi đường ném bóng và nhờ quá trình luyện tập,
anh ta có thể xây dựng những mô hình tưởng tượng đặc trưng tương ứng
với các nhóm tín hiệu khác nhau về mỗi cách ném bóng. Anh ta sẽ liên kết
các mô hình này với những kiến thức đã có về tư thế đánh bóng, khu vực
đập bóng và di chuyển đến đúng điểm đến của bóng. Từ những điều này,
anh ta tiếp tục liên hệ tới mô hình về vị trí của các cầu thủ trong đội: nếu có
cầu thủ khác ở vị trí số một và số hai, có thể anh ta sẽ hy sinh để nhường lợi
thế cho những người chạy gôn (runner). Nếu có hai người đánh bóng ở vị trí
số một và số ba và một người bị loại, anh ta sẽ cố gắng để không người
chạy gôn nào tiếp theo bị loại (double play) trong khi vẫn đánh được bóng
để người chạy gôn về đích và ghi điểm. Mô hình về vị trí các đồng đội lại
được liên kết với mô hình vị trí các cầu thủ đội bạn (họ đang ở vị trí cao hay
thấp) cũng như kết nối với các tín hiệu xung quanh từ khu vực dành cho các
thành viên trong đội (dugout) tới các điểm mốc (base), từ chỗ các huấn
luyện viên đến vị trí của anh ta. Trong một cú đánh bóng tuyệt vời, các
mảnh ghép đó được ráp nối hoàn hảo: người đánh bóng kết nối được với
trái bóng và hướng nó về một lỗ xa gôn, câu giờ cho đồng đội chạy về gôn.
Tóm lại, một cầu thủ chuyên nghiệp sẽ loại ra tất cả các chi tiết gây xao
lãng ngoại trừ những yếu tố quan trọng nhất quyết định loại đường ném
bóng và cách đối phó với từng loại, xây dựng những mô hình tư duy giả
định từ các yếu tố đó đồng thời liên hệ các mô hình này với hiểu biết của
mình về các nhân tố thiết yếu khác trong một trận đấu phức tạp. Nhờ đó anh
ta sẽ có cơ hội ghi điểm tốt hơn so với một cầu thủ thiếu kinh nghiệm, một
người không thể cắt nghĩa một khối lượng thông tin khổng lồ và biến đổi
liên tục mà anh ta phải xử lý mỗi khi bước lên gôn nhà (plate).
Nhiều người tin rằng khả năng tư duy đã được ấn định ngay từ lúc lọt lòng
và khả năng bẩm sinh bị giới hạn của họ phải chịu trách nhiệm cho mọi thất
bại trước những thử thách về mặt trí tuệ. Nhưng mỗi khi bạn học được thêm
một điều mới là bạn đã thay đổi bộ não của mình – nơi lưu giữ lại những gì
được sàng lọc từ trải nghiệm của bạn. Chúng ta bắt đầu cuộc đời của mình
với món quà của bộ gen sinh học, điều đó không sai. Nhưng cũng không hề
sai khi chúng ta trở nên giỏi giang hơn nhờ quá trình học hỏi và phát triển
các mô hình tư duy, thứ mang đến cho chúng ta khả năng suy luận, giải
quyết và sáng tạo. Nói một cách khác, ở một mức độ tương đối bất ngờ, các
yếu tố hình thành nên năng lực trí tuệ của chúng ta lại nằm ngay trong tầm
kiểm soát của chính chúng ta. Thấu triệt được điều đó sẽ giúp bạn nhìn
nhận thất bại như một dấu hiệu của nỗ lực cũng như một nguồn thông tin
hữu ích – từ đó khơi gợi nhu cầu đào sâu vấn đề hay áp dụng một chiến
lược mới. Nhu cầu xác định khi nào việc tiếp thu trở nên khó khăn cũng rất
quan trọng. Để vượt qua trình độ hiện tại của chính mình và hướng tới sự
tinh thông đích thực, bạn cần hiểu rằng mọi sự đấu tranh và thất bại là thiết
yếu, như trong mọi game hành động hay buổi quảng cáo một chiếc BMX
mới. Mắc sai lầm và nỗ lực sửa chữa sai lầm chính là nấc thang dẫn tới một
trình độ nhận thức cao hơn.
CHỨNG CỨ THỰC NGHIỆM TRONG CUỘC ĐỐI ĐẦU VỚI LÝ
LUẬN, HỌC THUYẾT VÀ TRỰC GIÁC
Phần lớn cách chúng ta cấu trúc nền giáo dục và đào tạo đều dựa trên các lý
thuyết được truyền lại. Các lý thuyết được quyết định bởi sự thừa nhận của
chúng ta về điều gì có tác động lớn hơn, những hiểu biết rút ra từ kinh
nghiệm cá nhân trên tư cách là các giáo viên, huấn luyện viên, sinh viên hay
đơn thuần là ý kiến của số đông. Đa phần cách chúng ta nghiên cứu và học
hỏi đều là sự pha trộn của các lý luận, học thuyết và trực giác. Nhưng trong
khoảng 40 năm trở lại đây và thậm chí có thể còn kéo dài hơn nữa, các nhà
tâm lý học nhận thức đã nghiên cứu và xây dựng nên một hệ thống các bằng
chứng giúp làm sáng tỏ tác nhân nào trong số các yếu tố kể trên đóng vai
trò ảnh hưởng cũng như phát hiện ra các chiến lược mang lại kết quả.
Tâm lý học nhận thức là bộ môn khoa học nền tảng tiến hành tìm hiểu về
quá trình bộ não của chúng ta làm việc, cũng như thực hiện các nghiên cứu
thực chứng về cách con người nhận thức, ghi nhớ và suy nghĩ. Nhiều ngành
khoa học khác cũng tham gia vào lý giải những bí ẩn của quá trình lĩnh hội
tri thức. Các nhà tâm lý học phát triển và các nhà giáo dục đều quan tâm tới
những lý thuyết về phát triển con người cũng như phương án ứng dụng
những lý thuyết này vào quá trình xây dựng các công cụ giáo dục – như các
phương pháp kiểm chứng, tổ chức hướng dẫn (đề cương, minh họa dưới
dạng đồ thị, v.v…) và nguồn tài liệu cho từng nhóm học viên đặc biệt
(chương trình đào tạo dành cho các học viên yếu kém hay các học viên
năng khiếu). Các chuyên gia thần kinh học, với việc sử dụng các kỹ thuật và
công cụ mới có tính hình tượng, đã đạt được những bước tiến mới trong
việc khám phá ra cơ chế hoạt động của não bộ, cơ quan tiền đề quyết định
kết quả của quá trình học hỏi. Nhưng chúng ta vẫn còn một chặng đường
dài phải trải qua trước khi các nhà thần kinh học có thể đưa ra phương án
cải thiện nền giáo dục hiện tại.
Vậy mỗi cá nhân phải làm gì để biết chắc rằng chỉ dẫn nào sẽ mang lại kết
quả tốt nhất cho sự học hỏi của bản thân khi chúng được áp dụng đúng
cách?
Luôn hoài nghi là một phương án khôn ngoan. Tìm ra những lời khuyên
chẳng có gì là khó, bạn chỉ cần vài cú nhấp chuột. Nhưng không phải mọi
chỉ dẫn đều bắt nguồn từ kết quả của những nghiên cứu, nếu không muốn
nói là rất ít. Cũng như không phải tất cả những chỉ dẫn đó đều là kết quả
của các cuộc điều tra, những nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn khoa học,
như là các điều kiện giám sát thích hợp để đảm bảo tính khách quan và khái
quát. Những nghiên cứu thực chứng tốt nhất, về bản chất, chính là các thí
nghiệm: nhà nghiên cứu phát triển một giả thuyết và kiểm chứng nó qua hệ
thống các thí nghiệm, những thí nghiệm này phải đáp ứng các tiêu chuẩn
ngặt nghèo về cơ cấu và tính khách quan. Trong chương tiếp theo, chúng tôi
sẽ đúc kết những phát hiện của một số lượng không nhỏ các nghiên cứu.
Các nghiên cứu này là kết quả của quá trình nghiền ngẫm và xem xét của cả
cộng đồng khoa học trước khi được công bố trên các ấn phẩm chuyên
ngành. Chúng tôi đã cùng tham gia vào một số công trình khoa học nhưng
số đó không nhiều. Những công trình đó, như chúng tôi thường nói, chỉ là
nơi đưa ra những lý thuyết thay vì những kết quả có giá trị khoa học. Để thể
hiện quan điểm của mình, bên cạnh những thành quả khoa học đã được
kiểm chứng, chúng tôi còn viện tới giai thoại về những con người như Matt
Brown, những cá nhân mà công việc của họ đòi hỏi sự thông thạo cả về
kiến thức lẫn kỹ năng. Những câu chuyện làm dẫn chứng cho các nguyên
tắc cơ bản về cách học hỏi và ghi nhớ cũng được chúng tôi sử dụng triệt để.
Chúng ta vẫn đang lầm tưởng về sự tiếp thu
Hóa ra phần nhiều những gì chúng ta vẫn áp dụng với tư cách người giảng
dạy hay người học tập lại không mấy hiệu quả, song chỉ một vài điều chỉnh
nhỏ có thể mang lại những thay đổi bất ngờ. Mọi người thường nghĩ nếu
như bản thân tiếp xúc với một tài liệu nào đó đủ lâu, ví như một đoạn bài
giảng hay một hệ thống các thuật ngữ trong cuốn sách giáo khoa Sinh học
lớp 8, họ có thể ghi nhớ chúng. Nhưng điều đó hoàn toàn sai lầm. Thêm
nữa, nhiều giáo viên vẫn tin rằng quá trình học tập sẽ hiệu quả hơn nếu như
họ khiến nó trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn. Nhưng phần lớn các
nghiên cứu lại chỉ ra điều ngược lại: hành trình tiếp thu càng khó khăn,
thành quả tiếp thu càng vững chắc. Nhiều giáo viên hay huấn luyện viên
vẫn tin rằng cách hiệu quả nhất để thuần thục một kỹ năng mới là tăng
cường nắm bắt, tập trung cao độ và lặp lại liên tục chỉ một kỹ năng đơn nhất
cho đến khi bạn làm chủ được nó. Điều đó đã bám rễ trong niềm tin của
chúng ta, vì chúng ta chỉ thấy thành quả tức thì của việc thực hành một cách
tập trung và dồn dập. Nghiên cứu này đã chỉ ra một điều rõ ràng rằng,
những thành quả đạt được nhờ phương pháp rèn luyện tập trung chỉ có tính
tạm thời và dễ dàng tan biến.
Phát hiện về sự vô ích của việc đọc lại sách giáo khoa đã giội một gáo nước
lạnh lên các nhà giáo dục và các học viên, vì đó là chiến lược số một của
hầu hết mọi người – trong đó có hơn 80% sinh viên đại học tham gia khảo
sát. Bản thân việc đọc lại cũng là nhiệm vụ trọng tâm chiếm phần lớn quỹ
thời gian mà chúng ta dành cho việc học tập. Đọc lại gây ra ba tác hại đối
với quá trình tiếp thu. Thứ nhất, nó hoàn toàn chỉ tiêu tốn thời gian. Thứ
hai, kiến thức thu được từ việc đọc lại không được lưu giữ lâu trong trí nhớ.
Thứ ba, việc đọc lại dễ khiến người học rơi vào trạng thái tự lừa dối mình
một cách vô thức, nói cách khác họ dễ lầm tưởng rằng bản thân đã nắm bắt
được kiến thức trong khi thực sự họ lại chỉ đang học vẹt. Hàng giờ liền
chìm đắm trong việc đọc đi đọc lại dường như khá giống với biểu hiện của
sự chuyên cần, nhưng khối lượng thời gian dành cho việc học lại không hề
quyết định mức độ tinh thông của người học.
Bạn chẳng cần phải nhìn đâu xa để tìm những trung tâm giáo dục hoạt động
dựa trên quan niệm cho rằng sự tiếp xúc đơn thuần với tần suất lớn và mức
độ tập trung cao độ có thể tạo nên tính hiệu quả trong quá trình tiếp thu tri
thức. Hãy cùng xem xét trường hợp của Matt Brown, người phi công, trong
ví dụ trước đây. Matt Brown đã nắm bắt khối lượng kiến thức đủ để được
thừa nhận bởi bất kỳ hãng kinh doanh hàng không nào sẽ thuê ông làm phi
công và chúng tôi đã đề nghị ông mô tả toàn bộ quá trình. Người chủ mới
đã gửi ông tới tham dự một khóa huấn luyện kéo dài mười giờ mỗi ngày
trong mười tám ngày liên tục. Matt gọi đó là phương pháp hướng dẫn “vòi
cứu hỏa”. Bảy ngày đầu tiên, mọi thứ chỉ diễn ra trong phòng học. Ông
được chỉ dẫn về tất cả các hệ thống của máy bay: điện, nhiên liệu, không
khí, v.v…; cơ chế hoạt động và tương tác của các hệ thống này; cũng như
các mức độ an toàn – hỏng hóc của chúng dưới tác động của các yếu tố như
áp suất, trọng lực, nhiệt độ và vận tốc. Matt được yêu cầu phải sẵn sàng cho
việc tuân theo những mệnh lệnh tức thì về 80 “hành vi trí nhớ”. Các hành
động này phải được thực hiện không do dự, không đắn đo để giữ cho máy
bay được ổn định trong trường hợp một trong số hàng tá những sự cố bất
thình lình có thể xảy ra như áp suất giảm đột ngột, bộ phận thổi ngược bật
mở giữa chuyến bay, một động cơ nào đó bị hỏng hóc hay một vụ chập cháy
điện.
Matt và các bạn đồng học phải dành hàng giờ chăm chú quan sát những
hình minh họa trình chiếu PowerPoint, với bộ não gần như tê liệt, về những
hệ thống cơ bản của máy bay. Và rồi một điều thú vị đã xảy ra.
Matt kể: “Vào khoảng giữa ngày thứ năm, họ chiếu lên màn hình một sơ đồ
về hệ thống nhiên liệu, với cảm biến áp suất, van khóa, bơm phụt, đường
vòng, v.v... Bạn phải rất chật vật mới có thể tập trung. Sau đó, một người
hướng dẫn hỏi chúng tôi: 'Đã ai trong số các bạn từng gặp trường hợp đèn
cảnh báo bộ lọc nhiên liệu của ống phụt bật sáng trong một chuyến bay
rồi?'. Một phi công phía bên kia phòng giơ tay. Người hướng dẫn tiếp: 'Kể
cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra?' và thoạt nhiên bạn nghĩ, chà, sẽ ra
sao nếu người đó là mình?
Anh ta đang bay trên độ cao hơn 900m, và sắp sửa mất cả hai động cơ vì đã
nạp loại nhiên liệu không có chất chống đông trong khi bộ lọc của máy bay
đang tắc nghẽn vì băng tuyết. Bạn dõi theo câu chuyện, và tin tôi đi, các
hình vẽ phác họa cứ như có sức sống, bám chặt lấy tâm trí bạn vậy. Nhiên
liệu bay thường có thành phần nước, và khi gặp không khí lạnh ở một độ
cao nhất định, nước sẽ đông đặc lại, đóng băng và làm tắc đường dẫn. Do
đó, bất cứ khi nào nạp nhiên liệu, bạn phải chọn loại tốt và chắc chắn rằng
bạn có thể tìm thấy trên xe chở nhiên liệu một ký hiệu cho biết nó có chứa
Prist, hoạt chất chống đông. Và nếu như có bất ngờ nhìn thấy đèn cảnh báo
bật sáng giữa hành trình bay, bạn phải nhanh chóng hạ thấp độ cao để
xuống vùng không khí ấm hơn.” Sự tiếp thu trở nên mạnh mẽ hơn trong
một ngữ cảnh đáng lo ngại, khi mà lý thuyết trừu tượng được cụ thể hóa và
cá nhân hóa.
Kể từ đó, tính chất của khóa hướng dẫn thay đổi. Mười một ngày sau là sự
kết hợp giữa các bài học trên lớp và thực hành trong môi trường mô phỏng
bay. Matt đã mô tả một hình thức tham gia chủ động được triển khai tại đây,
điều làm gia tăng tính lâu bền của những kiến thức được học. Người phi
công ...
 





