Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
CHỦ QUYỀN VN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:26' 04-05-2024
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 30
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:26' 04-05-2024
Dung lượng: 5.8 MB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích:
0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
ThS. PHẠM THỊ THINH
Biên tập nội dung:
TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
ThS. BÙI THỊ ÁNH HỒNG
TRẦN PHAN BÍCH LIỄU
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
DUY THÁI
PHẠM THU HÀ
TRẦN MINH NGỌC
BÙI BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/3-301/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 4999-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020.
Mã số ISBN: 978-604-57-5656-0.
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Hµ Minh Hång
Chñ quyÒn ViÖt Nam trªn BiÓn §«ng / Hµ Minh Hång ch.b. H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2019. - 324tr. ; 21cm
1. Chñ quyÒn quèc gia 2. BiÓn §«ng 3. ViÖt Nam
320.1509597 - dc23
CTL0214p-CIP
TẬP THỂ TÁC GIẢ
PGS.TS. HÀ MINH HỒNG (Chủ biên)
PGS.TS. TRẦN NAM TIẾN
TS. NGUYỄN KIM HOÀNG
TS. NGÔ HỮU PHƯỚC
NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
PGS.TS. ĐINH ĐỨC ANH VŨ
TS. NGUYỄN QUỐC CHÍNH
TS. LÊ THỊ KIM THOA
TS. LÊ THỊ QUỲNH HÀ
PGS.TS. NGUYỄN THÀNH VẤN
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN
ThS. NGUYỄN THỊ THU TRANG
PGS.TS. BÀNH QUỐC TUẤN
PGS.TS. ĐINH NGỌC THẠCH
ThS. NGUYỄN THANH HẰNG
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
4
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Biển Đông là cửa ngõ thông ra Thái Bình Dương - đại
dương lớn nhất thế giới, là vùng biển có vị trí đặc biệt quan
trọng trong giao thông, giao thương quốc tế và an ninh chiến
lược, không chỉ đối với các quốc gia trong khu vực mà cả đối
với nhiều quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là các nước lớn.
Chính vì vậy, nơi đây trở thành tâm điểm trong quan hệ quốc
tế tại châu Á - Thái Bình Dương.
Xuất phát từ vị trí đặc biệt liên quan đến Biển Đông,
cùng với lịch sử xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc trên vùng
biển này, cũng như những căn cứ pháp lý mà Công ước Liên
hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định, Việt Nam khẳng
định đầy đủ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
của mình theo luật pháp và các công ước quốc tế đối với vùng
biển này và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Để khái quát quá trình xác lập và thực thi chủ quyền
biển, đảo của Việt Nam với đầy đủ cơ sở khoa học và pháp lý,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản cuốn sách:
Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông.
5
Cuốn sách là tài liệu có ý nghĩa, góp phần cung cấp những
luận cứ khoa học xác đáng về vấn đề chủ quyền của Việt Nam
trên Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Dù các tác giả đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu,
thu thập tư liệu, song cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế,
thiếu sót. Rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các
chuyên gia, các nhà nghiên cứu cùng đông đảo bạn đọc để lần
xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
Việt Nam là quốc gia ven biển, đứng thứ 27/156 quốc
gia có biển trên thế giới. Thứ hạng ấy được xác định bởi
chiều dài bờ biển (hơn 3.260 km) và diện tích mặt biển
(hơn 1 triệu km2); nhưng hơn thế, biển Việt Nam còn có
hàng nghìn đảo gần bờ và xa bờ, trong đó có quần đảo
Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
Việt Nam trên không gian biển, đảo không chỉ được lưu trữ
đầy đủ trong tư liệu ở 28 tỉnh, thành phố có biển, mà có ở
toàn bộ 63 tỉnh, thành phố và hầu khắp cơ quan, đơn vị,
viện nghiên cứu khoa học và văn hóa cả Trung ương và
địa phương; không chỉ gần 100 triệu dân trong nước
luôn nhắc nhớ, mà hàng triệu đồng bào Việt Nam đang
sinh sống ở hơn 100 quốc gia trên thế giới cũng đều hiểu
rõ. Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
Việt Nam với biển, đảo phù hợp với Công ước của Liên
hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 và các văn bản
pháp lý khác của quốc tế. Trên thực tế, Việt Nam đã thực
hiện đầy đủ các quyền của mình đối với biển, đảo.
Với mỗi quốc gia, chủ quyền đất nước là thiêng liêng,
bất khả xâm phạm, quan hệ láng giềng thân thiện, hữu
nghị và hợp tác là tài sản quý giá. Việt Nam có biên giới
7
đất liền tiếp giáp với 3 nước Trung Quốc, Lào, Campuchia
và biên giới biển, đảo với 9 quốc gia và vùng lãnh thổ
khác. Như vậy, Việt Nam đã và đang đứng giữa một cộng
đồng rộng lớn, đang chung sức phát triển trong một khối
cố kết lợi ích từ Đông Nam Á nhân rộng ra bốn phương.
Trong phần của đại dương và được tạo hóa ban cho,
Việt Nam mấy chục năm nay đã quen với niềm tin định
hướng quốc gia “mạnh về biển”; đảo Việt Nam đã và đang
gắn chặt với phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và an
ninh - quốc phòng của quốc gia, gắn liền với chiến lược
phát triển của đất nước cả ở hiện tại và trong tương lai.
Ý thức được vị trí và tầm quan trọng của biển, đảo
Việt Nam, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
biên soạn cuốn sách Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông
làm tài liệu học tập dành cho sinh viên đại học và sau đại
học. Hơn nữa đây là “giáo trình mở” cho người giảng dạy,
nghiên cứu, học tập, đồng thời là tác giả điều chỉnh, bổ sung,
viết tiếp cho cuốn sách ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Hy vọng cuốn sách gợi mở cho người đọc, người học,
người sử dụng tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và phát triển
những nội dung kiến thức mới về vấn đề này, chung với
trách nhiệm và niềm tin yêu vào sự nghiệp đào tạo những
công dân Việt Nam ái quốc.
Trân trọng giới thiệu cuốn sách với cán bộ, giảng viên,
sinh viên, học viên và đông đảo bạn đọc.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019
T/M TẬP THỂ TÁC GIẢ
PGS.TS. Hà Minh Hồng
8
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
I- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
1. Vị trí Biển Đông
Biển Đông là tên gọi của người Việt Nam đặt cho vùng
biển nằm ở phía tây Thái Bình Dương và phía đông bán
đảo Đông Dương. Đây là một vùng biển tương đối kín và là
một trong 4 biển lớn nhất thế giới. Chiều dài Biển Đông
khoảng 3.000 km, rộng tới 1.000 km; nằm ở vĩ độ 30 vĩ bắc
đến 260 vĩ bắc, 1000 kinh đông đến 1210 kinh đông; diện
tích khoảng 3,5 triệu km2, độ sâu trung bình khoảng 1.140 m
và độ sâu cực đại là 5.016 m. Các quốc gia và vùng lãnh
thổ tiếp giáp với Biển Đông là: Việt Nam, Trung Quốc,
Philíppin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Xingapo, Thái
Lan, Campuchia và Đài Loan (Trung Quốc).
Biển Đông được ví như "ngã ba đường" của thế giới;
nối liền hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương, có khả năng trao đổi nước với các biển và đại
dương lân cận qua các eo biển, tạo nên vị trí chiến lược
9
quan trọng trong khu vực: phía tây nam giao với Ấn Độ
Dương qua eo biển Karimata và eo biển Malắcca; phía
bắc và phía đông trao đổi nước thuận lợi với Thái Bình
Dương qua các eo biển sâu và rộng như eo biển Đài
Loan và eo biển Bashi.
Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới, các tuyến
đường hàng không và hàng hải quốc tế chủ yếu giữa
Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều đi qua Biển
Đông với khối lượng hàng hoá vận chuyển rất lớn.
Tuyến đường hàng hải quốc tế có tính huyết mạch nối
liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn Độ Dương, đến Đông
Nam Á qua Biển Đông và đi Đông Bắc Á, với hai hải
cảng lớn của thế giới án ngữ hai đầu là cảng Hồng Kông ở
phía bắc và cảng Xingapo ở phía nam. Vì vậy, Biển Đông
được xem là tuyến giao thông đường biển nhộn nhịp thứ
hai thế giới sau Địa Trung Hải. Nhiều quốc gia ở Đông
Nam Á có nền kinh tế phụ thuộc vào các tuyến hàng hải
đi qua Biển Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo,
Trung Quốc,... Vị trí địa - chính trị của Biển Đông
không chỉ quan trọng đối với khu vực mà còn với các
quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, Biển Đông đã từ
lâu luôn là yếu tố không thể thiếu trong chiến lược phát
triển của một số cường quốc hàng hải trên thế giới,
trong đó có Mỹ.
Biển Đông có hai vịnh lớn là vịnh Thái Lan và vịnh
Bắc Bộ. Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc của Biển Đông,
10
rộng khoảng 126.250 km2, chiều dài khoảng 403 km, nơi
rộng nhất là 320 km. Bờ vịnh khúc khuỷu với khoảng
hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ. Khối nước vịnh Bắc Bộ chủ
yếu giao lưu với Biển Đông qua cửa phía nam rộng
khoảng 230 km và sâu hơn 100 m; một phần nước được
trao đổi qua eo biển hẹp (18 km) và không sâu (20 m) ở
Quỳnh Châu. Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng
cả về kinh tế và quốc phòng - an ninh.
Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía bờ tây nam của
Biển Đông, có bờ biển chung với Việt Nam, Campuchia,
Thái Lan và Malaixia. Vịnh có diện tích 293.000 km2,
chiều dài lớn nhất là khoảng 628 km, rộng khoảng 290
km và là một vịnh nông, nơi sâu nhất là 80 m, trung bình
60 m. Vịnh này không có nhiều đảo, bên phía vùng biển
ven bờ Việt Nam có khoảng 165 đảo với 613 km2, nhưng
có nhiều đảo lớn; đảo Phú Quốc rộng hơn 567 km2 là đảo
lớn nhất ven bờ Việt Nam.
2. Vị trí của biển, đảo Việt Nam
Điều 1, khoản 1, Luật biển Việt Nam năm 2013
quy định: "Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh
hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định
theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới
lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
11
là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp
quốc về Luật biển năm 1982".
Từ Điều 8 đến Điều 21 Luật biển năm 2013 quy
định cụ thể về cách xác định và chế độ pháp lý của
từng vùng biển:
Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Ở
những khu vực chưa có đường cơ sở sẽ được Chính phủ
xác định và công bố sau khi được Ủy ban thường vụ
Quốc hội phê chuẩn.
Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía
trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.
Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính
từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh
hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và
nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý
tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và
nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành
một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường
cơ sở.
Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới
đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam,
trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất
liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép
12
ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của
rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì
thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ
đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục
địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì
thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý
tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ
đường đẳng sâu 2.500m.
Biển Việt Nam có khoảng hơn 3.000 đảo, trong đó
có 2.773 đảo ven bờ, gồm các tuyến, cụm đảo tập trung
ở vùng biển ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng và hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tổng diện tích các đảo
khoảng 1.700 km2, trong đó 3 đảo có diện tích hơn 100 km2
là Phú Quốc (Kiên Giang), Cái Bàu (Quảng Ninh) và
Cát Bà (Hải Phòng).
Các đảo của Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng, chủ quyền của đất nước.
Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands, có nghĩa là
Cát vàng hay Bãi cát vàng) có trên 36 đảo đá, cồn san
hô, đá ngầm, được chia làm hai nhóm: An Vĩnh ở phía
đông và Lưỡi Liềm ở phía tây. Quần đảo Hoàng Sa
cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý (315 km) về phía
đông, cách cù lao Ré (đảo Lý Sơn) 120 hải lý (222 km),
cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) ở nơi gần nhất
khoảng 140 hải lý (259 km). Diện tích phần nổi của
13
quần đảo này khoảng 10 km2 bao gồm 3 nhóm đảo
chính: Tuyên Đức (Amphitrite) ở phía bắc, Nguyệt
Thiềm hay Lưỡi Liềm (Croissant) ở phía tây nam và
Linh Côn ở phía đông nam.
Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) là một nhóm
gồm khoảng 130 đảo, đá, cồn san hô, bãi ngầm, bãi cát,
rạn san hô phân bố trong diện tích khoảng 163.000 km2;
chiều dài từ tây sang đông khoảng 800 km, từ bắc xuống
nam khoảng 600 km. Quần đảo Trường Sa gồm 8 cụm
đảo là: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn,
Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên. Có 9 đảo, bãi
quan trọng là: Trường Sa, An Bang, Ba Bình, Nam Yết,
Loại Ta, Thị Tứ, Song Tử Đông, Song Tử Tây và bãi An
Nhơn. Tổng diện tích phần đất nổi tự nhiên của quần
đảo Trường Sa khoảng 5 km2 nhưng trải trên vùng biển
rộng gấp nhiều lần quần đảo Hoàng Sa. Trường Sa Lớn
là đảo gần đất liền nhất, cách Cam Ranh 248 hải lý1.
II- TÀI NGUYÊN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
1. Tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái biển
Vị trí địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho Biển
Đông có sự đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế
_______________
1. Xem Phạm Văn Ninh (Chủ biên): Biển Đông, tập II: Khí
tượng thủy văn động lực biển, Nxb. Khoa học tự nhiên và Công
nghệ, Hà Nội, 2009.
14
giới cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và
nguồn gen.
a) Tài nguyên sinh vật biển
Hiện nay, đã phát hiện hơn 11.000 loài sinh vật
thủy sinh và 1.300 loài sinh vật trên đảo được biết đến
trong các vùng biển, đảo Việt Nam, trong đó có khoảng
6.000 loài động vật đáy và hơn 2.000 loài cá. Có 83 loài
sinh vật biển được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (37 loài
cá, 6 loài san hô, 5 loài da gai, 4 loài tôm rồng, 1 loài
sam, 21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3 loài
mực). Ngoài ra, còn có nhiều loại động vật quý như đồi
mồi, rắn biển, chim biển và thú biển.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, trong các vùng
biển Việt Nam còn có các hệ sinh thái: rừng ngập mặn,
thảm cỏ biển, rạn san hô, v.v.. Trong các hệ sinh thái
này, tính đa dạng sinh học rất cao.
Tiềm năng nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ
trong các vùng cửa sông, đầm, vũng, vịnh và vùng biển
ven bờ rất lớn. Diện tích nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
hiện nay khoảng 2 triệu hécta, bao gồm ba loại hình
mặt nước là nước ngọt, nước lợ và nước mặn ven bờ, có
thể nuôi trồng tôm, cua, rong câu, cá lồng,... Nuôi trồng
sinh vật biển cũng đã đóng góp sản lượng lớn thủy sản
cho thực phẩm, dược phẩm, vật liệu thủ công, mỹ nghệ,
v.v. phục vụ cho cuộc sống.
Nguồn lợi cá biển
Biển Việt Nam có khoảng 2.458 loài cá, đã xác định
ở ba vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 110 loài có
15
giá trị kinh tế, trong đó chỉ có 30 loài tập trung ở vùng
biển sâu trên 50 m. Tổng trữ lượng cá biển Việt Nam
khoảng 5,3 triệu tấn, khả năng khai thác bền vững là
2,3 triệu tấn mỗi năm1. Nguồn lợi cá nổi nhỏ chiếm
51%, cá nổi lớn chiếm 21%, cá đáy chiếm khoảng 27%.
Có 15 bãi cá lớn, quan trọng trong đó có 12 bãi cá ở
vùng ven bờ và 3 bãi cá ở gò nổi ngoài khơi2.
Trong vùng biển ven bờ Việt Nam có các ngư
trường truyền thống gồm: Cát Bà, Cô Tô, Bạch Long
Vĩ, Hòn Mê - Hòn Mát, Cồn Cỏ (vịnh Bắc Bộ); đầm phá
Thừa Thiên Huế, Quy Nhơn, Khánh Hòa, Phan Rang,
Phan Thiết và các gò nổi ngoài khơi (vùng biển miền
Trung); cù lao Thu, Nam Côn Sơn, cửa sông Cửu Long
(vùng biển Nam Trung Bộ); tây nam Phú Quốc (vùng
biển Tây Nam Bộ).
Nguồn lợi tôm
Tôm biển Việt Nam đa dạng về loài, đặc trưng cho
vùng biển nhiệt đới, được coi là loài hải sản có giá trị
xuất khẩu hàng đầu hiện nay. Các loài tôm biển có giá
trị kinh tế cao gồm có tôm he, tôm hùm, tôm vỗ, tôm
moi, tôm bề bề,... Tôm he có khoảng 30 loài sống ở vùng
nước nông ven bờ (dưới 50 m) và 10 loài sống ở vùng
_______________
1. https://kinhtetrungương.vn/web/guest/kinh-te-nganh/
2. Ban Tuyên giáo Trung ương: 100 câu hỏi - đáp về biển,
đảo Việt Nam dành cho tuổi trẻ, Nxb. Thông tin - Truyền thông,
Hà Nội, 2013, tr.56.
16
nước sâu 50 - 200 m. Tôm hùm có 7 loài thường gặp,
sống ở vùng nước ven đảo ở độ sâu 10 - 20 m.
Trữ lượng tôm và khả năng khai thác ở vùng vịnh
Bắc Bộ là 1.408 tấn và 704 tấn; vùng biển miền Trung
là 2.300 tấn và 1.150 tấn; vùng biển Đông Nam Bộ là
3.983 tấn và 1.946 tấn; vùng biển Tây Nam Bộ là 3.383
tấn và 1.946 tấn. Về phân bố, tôm xa bờ chiếm tỷ trọng
lớn nhất nhưng chưa được khai thác nhiều; vùng biển
gần bờ chiếm 19.000 - 24.000 tấn. Ngày nay, tôm được
khai thác không chỉ từ biển mà còn được nuôi trong
các bãi triều ven biển và cửa sông, cung cấp mỗi năm
hàng chục ngàn tấn. Trong sản lượng xuất khẩu, tôm
nuôi chiếm tỷ trọng lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong đó miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
có diện tích và sản lượng nuôi tôm lớn nhất1.
Nguồn lợi thân mềm
Nguồn lợi thân mềm ở vùng biển Việt Nam có
khoảng 2.500 loài, trong đó có trên 100 loài có giá trị
kinh tế lớn, ước tính trữ lượng các loài thân mềm ở Việt
Nam khoảng 1.000.000 tấn, khả năng khai thác là
500.000 tấn mỗi năm2. Trong đó, các loài mực, trai (43
_______________
1. Xem Nguyễn Tác An, Hoàng Trung Du: Hóa học biển,
năng suất sinh học và các vấn đề môi trường trong vùng biển
Việt Nam, Nxb. Khoa học tự nhiên và công nghệ, 2009.
2. Xem Phạm Văn Linh, Đặng Công Minh (Chủ biên): Việt
Nam - Quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2012.
17
loài), ốc biển (43 loài), hàu và sò được ngư dân ven biển
khai thác hằng ngày.
Nguồn lợi đặc sản khác
Ngoài các nguồn lợi cá, tôm, thân mềm, các loài đặc
sản biển có giá trị kinh tế cao như chim yến, cá rạn san
hô, động vật đáy, da gai, các loài động vật dược liệu, ở
vùng biển này tuy không nhiều song rất đặc trưng của
biểu Việt Nam.
Cá rạn san hô là nhóm cá biển sống trong hệ sinh
thái rạn san hô với 600 loài trong vùng biển Việt Nam,
trong đó vùng biển miền Trung là 470 loài, Tây Nam Bộ
120 loài, phía Bắc 50 loài, vùng biển Trường Sa 300 loài.
Nhóm cá rạn san hô vãng lai có khoảng 35 loài, có trọng
lượng lớn, giá trị cao như cá mú, cá hồng, cá chình,...
Nhóm cá cảnh có kích thước nhỏ sống thành đàn, rất đa
dạng, nhiều màu sắc, di chuyển nhanh, nổi tiếng như cá
mao tiên, cá bướm, cá thia, cá nàng đào,... khoảng 300
loài; riêng khu vực biển rạn san hô miền Trung có 60
loài, hằng năm khai thác 80.000 - 100.000 con.
Nguồn dược liệu từ động vật biển ở Biển Đông
phong phú, nhiều loài đang là đối tượng tìm kiếm của
ngành dược học biển thế giới với số lượng lớn như hải
miên, san hô mềm, san hô sừng, giun nhiều tơ, sam
biển, rắn biển, cá ngựa,...
Nói chung, tiềm năng nguồn lợi hải sản của Việt
Nam rất lớn nhưng khả năng khai thác còn hạn chế; chỉ
18
mới tập trung khai thác ở ven bờ, gây nên sự mất cân đối
làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt.
b) Hệ sinh thái biển
Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn (Mangrove) thường phát triển ở
vùng cửa sông ven biển nhiệt đới có thủy triều. Đường bờ
biển Việt Nam dài và khúc khuỷu, tạo nên nhiều đầm,
phá, vũng, vịnh, có hàng trăm cửa sông đổ ra biển với
khối lượng lớn phù sa. Vùng ven bờ Quảng Ninh - Hải
Phòng có trên 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, tạo nên vịnh Bái
Tử Long, vịnh Hạ Long Cát Bà. Vùng ven bờ châu thổ
sông Hồng có hệ thống sông Hồng tải ra biển 114 triệu
tấn phù sa hằng năm, độ cao thủy triều 2,5 - 4,0 m,
thuận lợi cho rừng ngập mặn phát triển. Vùng ven bờ
Nam Bộ có hệ thống sông Cửu Long tải ra biển hàng
triệu tấn phù sa hằng năm, độ cao thủy triều 2,5 - 3,5 m,
quanh năm nắng ấm, nhiệt độ trung bình 26°C, không có
mùa đông, rừng ngập mặn cũng phát triển rất thuận lợi.
Rừng ngập mặn là nơi cung cấp dinh dưỡng khởi
nguồn cho nhiều chuỗi thức ăn, là nơi sinh sản, nuôi
dưỡng và phát tán nguồn gen sinh vật cho biển khơi và lân
cận. Hệ sinh thái rừng ngập mặn còn được coi là vùng đệm
giữa biển và đất liền. Ở đới gần biển thường phát triển loài
mắm đước, tiếp theo về phía lục địa là cây vẹt và bần.
Theo thống kê, đến năm 2015 diện tích rừng ngập
mặn tự nhiên ở Việt Nam 19.500 ha, rừng ngập mặn
19
trồng là khoảng 37.600 ha1. Từ đó đến nay, diện tích
rừng ngập mặn luôn bị thu hẹp và chất lượng rừng bị
suy thoái. Hiện tượng phá rừng ngập mặn nuôi tôm,
mở đường, mở rộng diện tích trồng lúa nước,... liên tục
diễn ra.
Vai trò của rừng ngập mặn đối với đời sống dân cư
vùng ven biển
- Rừng ngập mặn điều hòa không khí trong vùng,
làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và
biên độ nhiệt. Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ
được ví như là “lá phổi” điều tiết khí hậu Cần Giờ, đem
lại cho Thành phố Hồ Chí Minh vùng sinh quyển mới.
- Chống xói lở và phát triển bãi bồi ven biển. Khi hệ
thực vật ngập mặn phát triển, rừng sẽ là nơi cư trú và
phát triển của nhiều loài sinh vật, từ sinh vật phù du,
động vật đáy, đến các loài sinh vật trên cạn bậc cao, tạo
nên một hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình, đặc
trưng nhất là ở Cần Giờ và ven bờ Nam Bộ.
Nguồn lợi đem lại từ rừng ngập mặn
- Nguồn lợi hải sản: rừng ngập mặn là nguồn cung
cấp chất hữu cơ để tăng năng suất vùng ven biển, là nơi
sinh đẻ, nuôi dưỡng hoặc cư trú lâu dài cho nhiều loài
hải sản có giá trị kinh tế cao như: cá, tôm, cua, sò,...
Như vậy, rừng ngập mặn là trung tâm cư trú và phát
_______________
1. Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường của
nhóm tác giả.
20
tán nhiều loài sinh vật cho các vùng biển lân cận và
cũng là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng của tôm, cua
và một số loài sò, cá khác. Ở vùng rừng ngập mặn đồng
bằng sông Cửu Long có 69 loài cá, 30 loài tôm, 6 loài
lưỡng cư, 34 loài bò sát, 171 loài chim, 28 loài thú1.
- Nguồn lợi động vật trên cạn: Nhiều động vật trên
cạn có cuộc sống gắn liền với bãi triều, thường xuất hiện
đông đúc khi triều xuống. Những lạch triều cạn, những
vũng nước sót lại và các bãi bùn,... là nơi tập trung của
các loài như gà nước, choi choi, choắt, cà kheo, cò bợ,
diệc; sát mép nước là vịt trời, mòng biển, ngỗng trời, rắn
biển; cầy, lợn rừng,... từ trên cao cũng xuống bãi kiếm
thức ăn.
Rừng ngập mặn có tầm quan trọng trong bảo tồn đa
dạng sinh học cho đới ven bờ và duy trì nguồn lợi sinh
vật tiềm tàng như rừng ngập mặn Cà Mau, Lâm Viên ở
Cần Giờ. Rừng ngập mặn là nơi cư trú, làm tổ hoặc
kiếm thức ăn của hơn 200 loài chim, trong đó có loài
quý hiếm như cò lạo xám, cò quắm cánh xanh, sếu cổ
trụi khá phổ biến ở Đông Nam Á. Các động vật trên cạn
sống trong rừng ngập mặn hằng ngày cung cấp lượng
lớn các chất thải là nguồn dinh dưỡng cho cây rừng và
sinh vật sống trong các kênh rạch.
_______________
1. Nguyễn Chu Hồi: “Kinh tế biển Việt Nam nhìn từ góc độ
tài nguyên môi trường”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2013,
tr.30-41.
21
- Sản phẩm nông nghiệp: Lá cây ngập mặn nhất là
lá mắm có nhiều đạm là nguồn thức ăn giàu chất dinh
dưỡng cho gia súc, gia cầm và cá nuôi lồng, bè. Lá cây
rừng ngập mặn có hàm lượng muối và iốt cao; lá một số
cây, đặc biệt là lá mắm được làm men ủ tạo nguồn phân
xanh cho sản xuất nông nghiệp. Rừng ngập mặn đem
lại nguồn mật ong rừng có giá trị kinh tế; có sự quần tụ
của nhiều loài sinh vật khác từ những loài động vật
không xương sống kích thước nhỏ đến xương sống kích
thước lớn, từ những loài sống dưới nước đến sống trên
cạn. Rừng ngập mặn vừa là nơi cư trú, nơi cung cấp
nguồn dinh dưỡng cho sự tồn tại và phát triển của các
quần thể cửa sông ven biển vừa là nơi ươm ấp các cơ thể
non trẻ, duy trì đa dạng sinh học biển1.
Hệ sinh thái thảm cỏ biển
Hệ sinh thái thảm cỏ biển tiếp nối hệ sinh thái rừng
ngập mặn ở đường bờ nhiệt đới. Cỏ biển sống trong môi
trường nước biển trong ở độ sâu 3 - 30 m, ít chịu tác
động mạnh của sóng gió, bám trên nền đáy là trầm tích
bùn mịn và xốp nhẹ. Hệ sinh thái thảm cỏ biển cũng là
nơi cư trú, sinh sản và nuôi dưỡng nhiều loài thủy sản.
Nhiều loài động vật sử dụng nguồn thức ăn từ hoa cỏ
biển và cây cỏ biển khi già đi tự phân hủy thành các
chất mùn bã hữu cơ.
_______________
1. Xem Đặng Ngọc Thanh (Chủ biên): Biển Đông, Tập IV:
Sinh vật và sinh thái biển, Sđd.
22
Ở Việt Nam, cỏ biển có 15 loài, phân bố từ Bắc vào
Nam và ven các đảo. Thảm cỏ biển ở Phú Quốc (Kiên
Giang) đa dạng nhất với 9 loài, tổng diện tích phân bố
hơn 10.000 ha. Vùng triều ven bờ là môi trường sống
thuận lợi cho cỏ biển, thường phát triển thành các bãi
rộng hàng trăm hécta và phong phú về thành phần loài.
Sống trong hệ sinh thái cỏ biển ở nước ta có 155 loài
động vật đáy, 158 loài rong biển. Ở vùng Bắc Bộ đã
phát hiện 82 động vật đáy (16 loài giun nhiều tơ, 20 loài
ốc, 26 loài trai, 20 loài giáp xác); Nam Trung Bộ có 62
loài động vật đáy (37 loài trai ốc, 8 loài giáp xác, 12 loài
da gai); Nam Bộ có 88 loài, trong đó tôm và cá bống
trắng có giá trị kinh tế cao chiếm đa số1.
Hệ sinh thái rạn san hô2
Ở vùng biển Việt Nam có khoảng 370 loài, 80
giống, 17 họ thuộc nhóm san hô cứng Scleractinia;
trong đó, có 355 loài, 74 giống san hô tạo rạn. Trong số
17 họ, họ Acroporidae có số loài tập trung đông nhất
(32 loài) chiếm 61% tổng số loài chung. Thành phần
giống san hô biển Việt Nam được xem là phong phú
trên thế giới, tương đương Inđônêxia (75 giống) và
Philíppin (71 giống). Sự phát triển của san hô trong
_______________
1. Theo Nguyễn Văn Tiến: Nguồn lợi thảm cỏ biển Việt
Nam, Nxb. Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội, 2013.
2. Xem Đặng Ngọc Thanh (Chủ biên): Biển Đông, Tập IV:
Sinh vật và sinh thái biển, Sđd.
23
từng vùng biển: Bắc Bộ có 195 loài, 55 giống; miền
Trung và Đông Nam Bộ có 320 loài, 73 giống; Tây Nam
bộ có 264 loài, 64 giống; quần đảo Trường Sa và Hoàng
Sa có 259 loài, 65 giống,...
Ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, san hô
phát triển đến độ sâu 30 m, có nơi đến 40 - 50 m; độ che
phủ san hô sống nhiều nơi đạt 100%. San hô phát triển
thành các rạn viền bờ và rạn vòng rất điển hình.
Vùng biển miền Trung và Nam Trung Bộ có điều
kiện tự nhiên thuận lợi: nước ấm quanh năm, nhiệt độ
luôn trên 20oC, độ muối cao trên 32‰, độ trong suốt
của nước lớn nên san hô có thể phát triển đến độ sâu
15 - 20 m hoặc sâu hơn (Vũng Rô) và phát triển ở các bờ
đá ven bờ đảo từ cù lao Chàm đến Côn Đảo.
Vùng biển vịnh Bắc Bộ kém thuận lợi hơn, san hô chỉ
phát triển ở các tuyến xa bờ của vịnh Hạ Long, Bái Tử
Long, quần đảo Cô Tô, Long Châu, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ,
Hải Vân - Sơn Trà. Các rạn san hô vừa ngắn lại hẹp, chỉ có
thể đến độ sâu 5 - 7 m; đảo Bạch Long Vĩ có thể tới 20 m.
Vùng biển Tây Nam Bộ, các rạn san hô chỉ phát
triển ở vùng ven các đảo xa bờ như ở Nam Du, Thổ Chu,
Phú Quốc,... thường theo kiểu viền bờ với khoảng 264
loài, 64 giống san hô phân bố ở độ sâu 10 m.
Trong hệ sinh thái rạn san hô, có rất nhiều loài cá
cảnh nhiều màu sắc và hình thức rất hấp dẫn như cá hải
quỳ, cá bướm, cá thần tiên thường có màu sắc sặc sỡ.
24
Trong các rạn san hô thường gặp các loài cá có giá
trị thực phẩm cao như cá ngừ, cá hoàng đế, cá hồng, cá
mú, cá mó, cá bàng chài.
Hệ sinh thái nước trồi
Khu vực ven bờ nam Khánh Hòa - Bình Thuận có
hệ sinh thái nước trồi xuất hiện theo gió mùa tây nam
từ tháng 5 đến tháng 9, hoạt động mạnh vào tháng 7,
nhiệt độ nước tầng mặt dưới 27°C, tại vùng tâm là
24,5 - 25,5°C, nước tầng mặt tại vùng tâm nước trồi
mạnh 21,76°C; dị thường nhiệt độ nước mặt là - 4°C và
độ mặn là +1,2‰.
Trong thời kỳ nước trồi gió mùa, thực vật phù du ở
Nam Trung Bộ đạt 375 loài, trong đó ngành tảo Silic
chiếm ưu thế. Các loại sinh vật trong khu vực nước trồi
gió mùa tây nam gồm có:
Động vật phù du xác định được 290 loài, mật độ 161
con/m², sinh vật lượng là 60 mg/m³ đạt giá trị cao nhất
của vùng biển.
Động vật đáy có 402 loài với 4 nhóm chính: thân
mềm, giáp xác, giun nhiều tơ và da gai. Trong đó, nhóm
thân mềm (các loài mực, trai, ốc, điệp,...) có số loài nhiều
nhất (128 loài), nhóm giáp xác chiếm 28,11% tổng số loài
sinh vật đáy và nhóm da gai có số loài ít nhất, 49 loài.
Sinh vật lượng của động vật đáy có hàm lượng 19,15
g/m2 và mật độ là 206 con/m²; trong đó da gai chiếm tỷ
lệ cao nhất (56,55%).
Trong thời kỳ nước trồi gió mùa tây nam, nguồn
thức ăn dồi dào đã thu hút các loài cá đến kiếm mồi,
25
vỗ béo và sinh sản. Đây là một ngư trường giàu
nguồn lợi hải sản. Bên cạnh đó còn có hệ sinh thái
đầm, phá; hệ sinh thái vũng, vịnh; hệ sinh thái cửa
sông và bãi triều; hệ sinh thái cồn cát ven biển; hệ
sinh thái đáy cứng.
2. Tài nguyên khoáng sản
a) Dầu khí
Việt Nam có vùng thềm lục địa rộng lớn, từ lâu đã
được đánh giá là có triển vọng dầu khí lớn, trữ lượng
tiềm năng khoảng 4 - 8 tỉ m3 dầu quy đổi. Dầu khí ở
Việt Nam được chia làm 17 lô với nhiều tầng chứa dầu
khí khác nhau.
Kết quả tìm kiếm và thăm dò đã xác định được 8
bồn trũng có triển vọng dầu khí gồm: Sông Hồng, Phú
Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Tư Chính - Vũng
Mây, Hoàng Sa, Trường Sa, Mã Lai - Thổ Chu; trong
đó, các bồn trũng Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn
Sơn, Mã Lai - Thổ Chu đang khai thác dầu khí, được
xác định là các bồn trũng chứa dầu khí với đặc trưng
như sau:
- Bồn trũng Sông Hồng: Phát hiện chủ yếu là khí, có
một mỏ khí đang khai thác, một số phát hiện khác ở phía
nam bồn trũng (vùng biển miền Trung) có hàm lượng
CO2 cao (60 - 90%). Trữ lượng và tài nguyên dự báo
khoảng 550 - 700 triệu mét khối quy ra dầu, chủ yếu là
khí (khoảng 14% tổng tiềm năng dầu khí Việt Nam).
26
- Bồn trũng Phú Khánh: Ít được nghiên cứu. Mặc
dù tầng sinh chưa được xác định nhưng trầm tích
trong bồn trũng này có bề dày lớn được đánh giá là có
triển vọng dầu khí. Tài nguyên dự báo khoảng 300 700 triệu mét khối quy ra dầu (10% tổng tiềm năng
dầu khí Việt Nam).
- Bồn trũng Cửu Long: Chủ yếu phát hiện dầu, có 4
mỏ đang khai thác, một số phát hiện khác đang được
thẩm lượng. Đây là bồn trũng chứa dầu chủ yếu ở thềm
lục địa Việt Nam. Trữ lượng và tài nguyên dự báo
khoảng 700 - 800 triệu mét khối dầu chủ yếu tập trung
ở móng bị phong hóa, nứt nẻ.
- Bồn trũng Nam Côn Sơn: Đây là bồn trũng chứa
dầu và khí đã được nghiên cứu từ trước năm 1975, là
vùng có nhiều lỗ khoan thăm dò nhất. Có một mỏ dầu
đang khai thác, một số mỏ khí cũng đang được khai
thác. Trữ lượng và tài nguyên dự báo 650 - 850 triệu
mét khối quy ra dầu (17% tổng tiềm năng dầu khí
Việt Nam).
- Bồn trũng Mã Lai - Thổ Chu: Phát hiện cả dầu và
khí. Phần phía bắc của bồn trũng (giáp với thềm lục địa
Thái Lan), chủ yếu phát hiện khí, khí - condensate. Trữ
lượng và tài nguyên dự báo có thể đạt 250 - 350 triệu mét
khối quy ra dầu (5% tổng tiềm năng dầu khí Việt Nam).
Nhìn chung, dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam
thường là các mỏ nhiều tầng chứa dầu khí có tuổi khác
nhau từ Oligocen đến Pliocen dưới và đá móng bị
27
phong hóa nứt nẻ với cấu trúc địa chất rất phức tạp.
Liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí Vietsovpetro
phát hiện và khai thác dầu trong đá móng ở mỏ Bạch
Hổ thuộc bồn trũng Cửu Long từ tháng 6/1986, không
chỉ làm thay đổi phân bố trữ lượng và đối tượng khai
thác ở mỏ này, mà còn tạo ra quan điểm địa chất mới
cho tìm kiếm và thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Việt
Nam. Nhờ đó, đã phát hiện dầu trong đá móng bị
phong hóa nứt nẻ ở mỏ Rồng, Hồng Ngọc (Ruby), Rạng
Đông, Sư Tử Đen (bồn trũng Cửu Long), B11 (bồn
trũng Hà Nội). Đến ...
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
ThS. PHẠM THỊ THINH
Biên tập nội dung:
TS. HOÀNG MẠNH THẮNG
ThS. BÙI THỊ ÁNH HỒNG
TRẦN PHAN BÍCH LIỄU
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
DUY THÁI
PHẠM THU HÀ
TRẦN MINH NGỌC
BÙI BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/3-301/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 4999-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020.
Mã số ISBN: 978-604-57-5656-0.
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm
cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Hµ Minh Hång
Chñ quyÒn ViÖt Nam trªn BiÓn §«ng / Hµ Minh Hång ch.b. H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2019. - 324tr. ; 21cm
1. Chñ quyÒn quèc gia 2. BiÓn §«ng 3. ViÖt Nam
320.1509597 - dc23
CTL0214p-CIP
TẬP THỂ TÁC GIẢ
PGS.TS. HÀ MINH HỒNG (Chủ biên)
PGS.TS. TRẦN NAM TIẾN
TS. NGUYỄN KIM HOÀNG
TS. NGÔ HỮU PHƯỚC
NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
PGS.TS. ĐINH ĐỨC ANH VŨ
TS. NGUYỄN QUỐC CHÍNH
TS. LÊ THỊ KIM THOA
TS. LÊ THỊ QUỲNH HÀ
PGS.TS. NGUYỄN THÀNH VẤN
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN
ThS. NGUYỄN THỊ THU TRANG
PGS.TS. BÀNH QUỐC TUẤN
PGS.TS. ĐINH NGỌC THẠCH
ThS. NGUYỄN THANH HẰNG
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
4
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Biển Đông là cửa ngõ thông ra Thái Bình Dương - đại
dương lớn nhất thế giới, là vùng biển có vị trí đặc biệt quan
trọng trong giao thông, giao thương quốc tế và an ninh chiến
lược, không chỉ đối với các quốc gia trong khu vực mà cả đối
với nhiều quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là các nước lớn.
Chính vì vậy, nơi đây trở thành tâm điểm trong quan hệ quốc
tế tại châu Á - Thái Bình Dương.
Xuất phát từ vị trí đặc biệt liên quan đến Biển Đông,
cùng với lịch sử xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc trên vùng
biển này, cũng như những căn cứ pháp lý mà Công ước Liên
hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định, Việt Nam khẳng
định đầy đủ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
của mình theo luật pháp và các công ước quốc tế đối với vùng
biển này và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Để khái quát quá trình xác lập và thực thi chủ quyền
biển, đảo của Việt Nam với đầy đủ cơ sở khoa học và pháp lý,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản cuốn sách:
Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông.
5
Cuốn sách là tài liệu có ý nghĩa, góp phần cung cấp những
luận cứ khoa học xác đáng về vấn đề chủ quyền của Việt Nam
trên Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Dù các tác giả đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu,
thu thập tư liệu, song cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế,
thiếu sót. Rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các
chuyên gia, các nhà nghiên cứu cùng đông đảo bạn đọc để lần
xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2019
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI GIỚI THIỆU
Việt Nam là quốc gia ven biển, đứng thứ 27/156 quốc
gia có biển trên thế giới. Thứ hạng ấy được xác định bởi
chiều dài bờ biển (hơn 3.260 km) và diện tích mặt biển
(hơn 1 triệu km2); nhưng hơn thế, biển Việt Nam còn có
hàng nghìn đảo gần bờ và xa bờ, trong đó có quần đảo
Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
Việt Nam trên không gian biển, đảo không chỉ được lưu trữ
đầy đủ trong tư liệu ở 28 tỉnh, thành phố có biển, mà có ở
toàn bộ 63 tỉnh, thành phố và hầu khắp cơ quan, đơn vị,
viện nghiên cứu khoa học và văn hóa cả Trung ương và
địa phương; không chỉ gần 100 triệu dân trong nước
luôn nhắc nhớ, mà hàng triệu đồng bào Việt Nam đang
sinh sống ở hơn 100 quốc gia trên thế giới cũng đều hiểu
rõ. Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
Việt Nam với biển, đảo phù hợp với Công ước của Liên
hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 và các văn bản
pháp lý khác của quốc tế. Trên thực tế, Việt Nam đã thực
hiện đầy đủ các quyền của mình đối với biển, đảo.
Với mỗi quốc gia, chủ quyền đất nước là thiêng liêng,
bất khả xâm phạm, quan hệ láng giềng thân thiện, hữu
nghị và hợp tác là tài sản quý giá. Việt Nam có biên giới
7
đất liền tiếp giáp với 3 nước Trung Quốc, Lào, Campuchia
và biên giới biển, đảo với 9 quốc gia và vùng lãnh thổ
khác. Như vậy, Việt Nam đã và đang đứng giữa một cộng
đồng rộng lớn, đang chung sức phát triển trong một khối
cố kết lợi ích từ Đông Nam Á nhân rộng ra bốn phương.
Trong phần của đại dương và được tạo hóa ban cho,
Việt Nam mấy chục năm nay đã quen với niềm tin định
hướng quốc gia “mạnh về biển”; đảo Việt Nam đã và đang
gắn chặt với phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và an
ninh - quốc phòng của quốc gia, gắn liền với chiến lược
phát triển của đất nước cả ở hiện tại và trong tương lai.
Ý thức được vị trí và tầm quan trọng của biển, đảo
Việt Nam, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
biên soạn cuốn sách Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông
làm tài liệu học tập dành cho sinh viên đại học và sau đại
học. Hơn nữa đây là “giáo trình mở” cho người giảng dạy,
nghiên cứu, học tập, đồng thời là tác giả điều chỉnh, bổ sung,
viết tiếp cho cuốn sách ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Hy vọng cuốn sách gợi mở cho người đọc, người học,
người sử dụng tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và phát triển
những nội dung kiến thức mới về vấn đề này, chung với
trách nhiệm và niềm tin yêu vào sự nghiệp đào tạo những
công dân Việt Nam ái quốc.
Trân trọng giới thiệu cuốn sách với cán bộ, giảng viên,
sinh viên, học viên và đông đảo bạn đọc.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019
T/M TẬP THỂ TÁC GIẢ
PGS.TS. Hà Minh Hồng
8
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
I- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
1. Vị trí Biển Đông
Biển Đông là tên gọi của người Việt Nam đặt cho vùng
biển nằm ở phía tây Thái Bình Dương và phía đông bán
đảo Đông Dương. Đây là một vùng biển tương đối kín và là
một trong 4 biển lớn nhất thế giới. Chiều dài Biển Đông
khoảng 3.000 km, rộng tới 1.000 km; nằm ở vĩ độ 30 vĩ bắc
đến 260 vĩ bắc, 1000 kinh đông đến 1210 kinh đông; diện
tích khoảng 3,5 triệu km2, độ sâu trung bình khoảng 1.140 m
và độ sâu cực đại là 5.016 m. Các quốc gia và vùng lãnh
thổ tiếp giáp với Biển Đông là: Việt Nam, Trung Quốc,
Philíppin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Xingapo, Thái
Lan, Campuchia và Đài Loan (Trung Quốc).
Biển Đông được ví như "ngã ba đường" của thế giới;
nối liền hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương, có khả năng trao đổi nước với các biển và đại
dương lân cận qua các eo biển, tạo nên vị trí chiến lược
9
quan trọng trong khu vực: phía tây nam giao với Ấn Độ
Dương qua eo biển Karimata và eo biển Malắcca; phía
bắc và phía đông trao đổi nước thuận lợi với Thái Bình
Dương qua các eo biển sâu và rộng như eo biển Đài
Loan và eo biển Bashi.
Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới, các tuyến
đường hàng không và hàng hải quốc tế chủ yếu giữa
Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều đi qua Biển
Đông với khối lượng hàng hoá vận chuyển rất lớn.
Tuyến đường hàng hải quốc tế có tính huyết mạch nối
liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn Độ Dương, đến Đông
Nam Á qua Biển Đông và đi Đông Bắc Á, với hai hải
cảng lớn của thế giới án ngữ hai đầu là cảng Hồng Kông ở
phía bắc và cảng Xingapo ở phía nam. Vì vậy, Biển Đông
được xem là tuyến giao thông đường biển nhộn nhịp thứ
hai thế giới sau Địa Trung Hải. Nhiều quốc gia ở Đông
Nam Á có nền kinh tế phụ thuộc vào các tuyến hàng hải
đi qua Biển Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo,
Trung Quốc,... Vị trí địa - chính trị của Biển Đông
không chỉ quan trọng đối với khu vực mà còn với các
quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, Biển Đông đã từ
lâu luôn là yếu tố không thể thiếu trong chiến lược phát
triển của một số cường quốc hàng hải trên thế giới,
trong đó có Mỹ.
Biển Đông có hai vịnh lớn là vịnh Thái Lan và vịnh
Bắc Bộ. Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc của Biển Đông,
10
rộng khoảng 126.250 km2, chiều dài khoảng 403 km, nơi
rộng nhất là 320 km. Bờ vịnh khúc khuỷu với khoảng
hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ. Khối nước vịnh Bắc Bộ chủ
yếu giao lưu với Biển Đông qua cửa phía nam rộng
khoảng 230 km và sâu hơn 100 m; một phần nước được
trao đổi qua eo biển hẹp (18 km) và không sâu (20 m) ở
Quỳnh Châu. Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng
cả về kinh tế và quốc phòng - an ninh.
Vịnh Thái Lan nằm sâu vào phía bờ tây nam của
Biển Đông, có bờ biển chung với Việt Nam, Campuchia,
Thái Lan và Malaixia. Vịnh có diện tích 293.000 km2,
chiều dài lớn nhất là khoảng 628 km, rộng khoảng 290
km và là một vịnh nông, nơi sâu nhất là 80 m, trung bình
60 m. Vịnh này không có nhiều đảo, bên phía vùng biển
ven bờ Việt Nam có khoảng 165 đảo với 613 km2, nhưng
có nhiều đảo lớn; đảo Phú Quốc rộng hơn 567 km2 là đảo
lớn nhất ven bờ Việt Nam.
2. Vị trí của biển, đảo Việt Nam
Điều 1, khoản 1, Luật biển Việt Nam năm 2013
quy định: "Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh
hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định
theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới
lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
11
là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp
quốc về Luật biển năm 1982".
Từ Điều 8 đến Điều 21 Luật biển năm 2013 quy
định cụ thể về cách xác định và chế độ pháp lý của
từng vùng biển:
Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Ở
những khu vực chưa có đường cơ sở sẽ được Chính phủ
xác định và công bố sau khi được Ủy ban thường vụ
Quốc hội phê chuẩn.
Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía
trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.
Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính
từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh
hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và
nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý
tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và
nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành
một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường
cơ sở.
Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới
đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam,
trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất
liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép
12
ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của
rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì
thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ
đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục
địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì
thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý
tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ
đường đẳng sâu 2.500m.
Biển Việt Nam có khoảng hơn 3.000 đảo, trong đó
có 2.773 đảo ven bờ, gồm các tuyến, cụm đảo tập trung
ở vùng biển ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng và hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tổng diện tích các đảo
khoảng 1.700 km2, trong đó 3 đảo có diện tích hơn 100 km2
là Phú Quốc (Kiên Giang), Cái Bàu (Quảng Ninh) và
Cát Bà (Hải Phòng).
Các đảo của Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng, chủ quyền của đất nước.
Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands, có nghĩa là
Cát vàng hay Bãi cát vàng) có trên 36 đảo đá, cồn san
hô, đá ngầm, được chia làm hai nhóm: An Vĩnh ở phía
đông và Lưỡi Liềm ở phía tây. Quần đảo Hoàng Sa
cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý (315 km) về phía
đông, cách cù lao Ré (đảo Lý Sơn) 120 hải lý (222 km),
cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) ở nơi gần nhất
khoảng 140 hải lý (259 km). Diện tích phần nổi của
13
quần đảo này khoảng 10 km2 bao gồm 3 nhóm đảo
chính: Tuyên Đức (Amphitrite) ở phía bắc, Nguyệt
Thiềm hay Lưỡi Liềm (Croissant) ở phía tây nam và
Linh Côn ở phía đông nam.
Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) là một nhóm
gồm khoảng 130 đảo, đá, cồn san hô, bãi ngầm, bãi cát,
rạn san hô phân bố trong diện tích khoảng 163.000 km2;
chiều dài từ tây sang đông khoảng 800 km, từ bắc xuống
nam khoảng 600 km. Quần đảo Trường Sa gồm 8 cụm
đảo là: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn,
Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên. Có 9 đảo, bãi
quan trọng là: Trường Sa, An Bang, Ba Bình, Nam Yết,
Loại Ta, Thị Tứ, Song Tử Đông, Song Tử Tây và bãi An
Nhơn. Tổng diện tích phần đất nổi tự nhiên của quần
đảo Trường Sa khoảng 5 km2 nhưng trải trên vùng biển
rộng gấp nhiều lần quần đảo Hoàng Sa. Trường Sa Lớn
là đảo gần đất liền nhất, cách Cam Ranh 248 hải lý1.
II- TÀI NGUYÊN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
1. Tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái biển
Vị trí địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho Biển
Đông có sự đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế
_______________
1. Xem Phạm Văn Ninh (Chủ biên): Biển Đông, tập II: Khí
tượng thủy văn động lực biển, Nxb. Khoa học tự nhiên và Công
nghệ, Hà Nội, 2009.
14
giới cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và
nguồn gen.
a) Tài nguyên sinh vật biển
Hiện nay, đã phát hiện hơn 11.000 loài sinh vật
thủy sinh và 1.300 loài sinh vật trên đảo được biết đến
trong các vùng biển, đảo Việt Nam, trong đó có khoảng
6.000 loài động vật đáy và hơn 2.000 loài cá. Có 83 loài
sinh vật biển được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (37 loài
cá, 6 loài san hô, 5 loài da gai, 4 loài tôm rồng, 1 loài
sam, 21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3 loài
mực). Ngoài ra, còn có nhiều loại động vật quý như đồi
mồi, rắn biển, chim biển và thú biển.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, trong các vùng
biển Việt Nam còn có các hệ sinh thái: rừng ngập mặn,
thảm cỏ biển, rạn san hô, v.v.. Trong các hệ sinh thái
này, tính đa dạng sinh học rất cao.
Tiềm năng nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ
trong các vùng cửa sông, đầm, vũng, vịnh và vùng biển
ven bờ rất lớn. Diện tích nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
hiện nay khoảng 2 triệu hécta, bao gồm ba loại hình
mặt nước là nước ngọt, nước lợ và nước mặn ven bờ, có
thể nuôi trồng tôm, cua, rong câu, cá lồng,... Nuôi trồng
sinh vật biển cũng đã đóng góp sản lượng lớn thủy sản
cho thực phẩm, dược phẩm, vật liệu thủ công, mỹ nghệ,
v.v. phục vụ cho cuộc sống.
Nguồn lợi cá biển
Biển Việt Nam có khoảng 2.458 loài cá, đã xác định
ở ba vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 110 loài có
15
giá trị kinh tế, trong đó chỉ có 30 loài tập trung ở vùng
biển sâu trên 50 m. Tổng trữ lượng cá biển Việt Nam
khoảng 5,3 triệu tấn, khả năng khai thác bền vững là
2,3 triệu tấn mỗi năm1. Nguồn lợi cá nổi nhỏ chiếm
51%, cá nổi lớn chiếm 21%, cá đáy chiếm khoảng 27%.
Có 15 bãi cá lớn, quan trọng trong đó có 12 bãi cá ở
vùng ven bờ và 3 bãi cá ở gò nổi ngoài khơi2.
Trong vùng biển ven bờ Việt Nam có các ngư
trường truyền thống gồm: Cát Bà, Cô Tô, Bạch Long
Vĩ, Hòn Mê - Hòn Mát, Cồn Cỏ (vịnh Bắc Bộ); đầm phá
Thừa Thiên Huế, Quy Nhơn, Khánh Hòa, Phan Rang,
Phan Thiết và các gò nổi ngoài khơi (vùng biển miền
Trung); cù lao Thu, Nam Côn Sơn, cửa sông Cửu Long
(vùng biển Nam Trung Bộ); tây nam Phú Quốc (vùng
biển Tây Nam Bộ).
Nguồn lợi tôm
Tôm biển Việt Nam đa dạng về loài, đặc trưng cho
vùng biển nhiệt đới, được coi là loài hải sản có giá trị
xuất khẩu hàng đầu hiện nay. Các loài tôm biển có giá
trị kinh tế cao gồm có tôm he, tôm hùm, tôm vỗ, tôm
moi, tôm bề bề,... Tôm he có khoảng 30 loài sống ở vùng
nước nông ven bờ (dưới 50 m) và 10 loài sống ở vùng
_______________
1. https://kinhtetrungương.vn/web/guest/kinh-te-nganh/
2. Ban Tuyên giáo Trung ương: 100 câu hỏi - đáp về biển,
đảo Việt Nam dành cho tuổi trẻ, Nxb. Thông tin - Truyền thông,
Hà Nội, 2013, tr.56.
16
nước sâu 50 - 200 m. Tôm hùm có 7 loài thường gặp,
sống ở vùng nước ven đảo ở độ sâu 10 - 20 m.
Trữ lượng tôm và khả năng khai thác ở vùng vịnh
Bắc Bộ là 1.408 tấn và 704 tấn; vùng biển miền Trung
là 2.300 tấn và 1.150 tấn; vùng biển Đông Nam Bộ là
3.983 tấn và 1.946 tấn; vùng biển Tây Nam Bộ là 3.383
tấn và 1.946 tấn. Về phân bố, tôm xa bờ chiếm tỷ trọng
lớn nhất nhưng chưa được khai thác nhiều; vùng biển
gần bờ chiếm 19.000 - 24.000 tấn. Ngày nay, tôm được
khai thác không chỉ từ biển mà còn được nuôi trong
các bãi triều ven biển và cửa sông, cung cấp mỗi năm
hàng chục ngàn tấn. Trong sản lượng xuất khẩu, tôm
nuôi chiếm tỷ trọng lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong đó miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
có diện tích và sản lượng nuôi tôm lớn nhất1.
Nguồn lợi thân mềm
Nguồn lợi thân mềm ở vùng biển Việt Nam có
khoảng 2.500 loài, trong đó có trên 100 loài có giá trị
kinh tế lớn, ước tính trữ lượng các loài thân mềm ở Việt
Nam khoảng 1.000.000 tấn, khả năng khai thác là
500.000 tấn mỗi năm2. Trong đó, các loài mực, trai (43
_______________
1. Xem Nguyễn Tác An, Hoàng Trung Du: Hóa học biển,
năng suất sinh học và các vấn đề môi trường trong vùng biển
Việt Nam, Nxb. Khoa học tự nhiên và công nghệ, 2009.
2. Xem Phạm Văn Linh, Đặng Công Minh (Chủ biên): Việt
Nam - Quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2012.
17
loài), ốc biển (43 loài), hàu và sò được ngư dân ven biển
khai thác hằng ngày.
Nguồn lợi đặc sản khác
Ngoài các nguồn lợi cá, tôm, thân mềm, các loài đặc
sản biển có giá trị kinh tế cao như chim yến, cá rạn san
hô, động vật đáy, da gai, các loài động vật dược liệu, ở
vùng biển này tuy không nhiều song rất đặc trưng của
biểu Việt Nam.
Cá rạn san hô là nhóm cá biển sống trong hệ sinh
thái rạn san hô với 600 loài trong vùng biển Việt Nam,
trong đó vùng biển miền Trung là 470 loài, Tây Nam Bộ
120 loài, phía Bắc 50 loài, vùng biển Trường Sa 300 loài.
Nhóm cá rạn san hô vãng lai có khoảng 35 loài, có trọng
lượng lớn, giá trị cao như cá mú, cá hồng, cá chình,...
Nhóm cá cảnh có kích thước nhỏ sống thành đàn, rất đa
dạng, nhiều màu sắc, di chuyển nhanh, nổi tiếng như cá
mao tiên, cá bướm, cá thia, cá nàng đào,... khoảng 300
loài; riêng khu vực biển rạn san hô miền Trung có 60
loài, hằng năm khai thác 80.000 - 100.000 con.
Nguồn dược liệu từ động vật biển ở Biển Đông
phong phú, nhiều loài đang là đối tượng tìm kiếm của
ngành dược học biển thế giới với số lượng lớn như hải
miên, san hô mềm, san hô sừng, giun nhiều tơ, sam
biển, rắn biển, cá ngựa,...
Nói chung, tiềm năng nguồn lợi hải sản của Việt
Nam rất lớn nhưng khả năng khai thác còn hạn chế; chỉ
18
mới tập trung khai thác ở ven bờ, gây nên sự mất cân đối
làm cho nguồn hải sản ven bờ nhanh chóng bị cạn kiệt.
b) Hệ sinh thái biển
Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn (Mangrove) thường phát triển ở
vùng cửa sông ven biển nhiệt đới có thủy triều. Đường bờ
biển Việt Nam dài và khúc khuỷu, tạo nên nhiều đầm,
phá, vũng, vịnh, có hàng trăm cửa sông đổ ra biển với
khối lượng lớn phù sa. Vùng ven bờ Quảng Ninh - Hải
Phòng có trên 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, tạo nên vịnh Bái
Tử Long, vịnh Hạ Long Cát Bà. Vùng ven bờ châu thổ
sông Hồng có hệ thống sông Hồng tải ra biển 114 triệu
tấn phù sa hằng năm, độ cao thủy triều 2,5 - 4,0 m,
thuận lợi cho rừng ngập mặn phát triển. Vùng ven bờ
Nam Bộ có hệ thống sông Cửu Long tải ra biển hàng
triệu tấn phù sa hằng năm, độ cao thủy triều 2,5 - 3,5 m,
quanh năm nắng ấm, nhiệt độ trung bình 26°C, không có
mùa đông, rừng ngập mặn cũng phát triển rất thuận lợi.
Rừng ngập mặn là nơi cung cấp dinh dưỡng khởi
nguồn cho nhiều chuỗi thức ăn, là nơi sinh sản, nuôi
dưỡng và phát tán nguồn gen sinh vật cho biển khơi và lân
cận. Hệ sinh thái rừng ngập mặn còn được coi là vùng đệm
giữa biển và đất liền. Ở đới gần biển thường phát triển loài
mắm đước, tiếp theo về phía lục địa là cây vẹt và bần.
Theo thống kê, đến năm 2015 diện tích rừng ngập
mặn tự nhiên ở Việt Nam 19.500 ha, rừng ngập mặn
19
trồng là khoảng 37.600 ha1. Từ đó đến nay, diện tích
rừng ngập mặn luôn bị thu hẹp và chất lượng rừng bị
suy thoái. Hiện tượng phá rừng ngập mặn nuôi tôm,
mở đường, mở rộng diện tích trồng lúa nước,... liên tục
diễn ra.
Vai trò của rừng ngập mặn đối với đời sống dân cư
vùng ven biển
- Rừng ngập mặn điều hòa không khí trong vùng,
làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và
biên độ nhiệt. Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ
được ví như là “lá phổi” điều tiết khí hậu Cần Giờ, đem
lại cho Thành phố Hồ Chí Minh vùng sinh quyển mới.
- Chống xói lở và phát triển bãi bồi ven biển. Khi hệ
thực vật ngập mặn phát triển, rừng sẽ là nơi cư trú và
phát triển của nhiều loài sinh vật, từ sinh vật phù du,
động vật đáy, đến các loài sinh vật trên cạn bậc cao, tạo
nên một hệ sinh thái rừng ngập mặn điển hình, đặc
trưng nhất là ở Cần Giờ và ven bờ Nam Bộ.
Nguồn lợi đem lại từ rừng ngập mặn
- Nguồn lợi hải sản: rừng ngập mặn là nguồn cung
cấp chất hữu cơ để tăng năng suất vùng ven biển, là nơi
sinh đẻ, nuôi dưỡng hoặc cư trú lâu dài cho nhiều loài
hải sản có giá trị kinh tế cao như: cá, tôm, cua, sò,...
Như vậy, rừng ngập mặn là trung tâm cư trú và phát
_______________
1. Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường của
nhóm tác giả.
20
tán nhiều loài sinh vật cho các vùng biển lân cận và
cũng là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng của tôm, cua
và một số loài sò, cá khác. Ở vùng rừng ngập mặn đồng
bằng sông Cửu Long có 69 loài cá, 30 loài tôm, 6 loài
lưỡng cư, 34 loài bò sát, 171 loài chim, 28 loài thú1.
- Nguồn lợi động vật trên cạn: Nhiều động vật trên
cạn có cuộc sống gắn liền với bãi triều, thường xuất hiện
đông đúc khi triều xuống. Những lạch triều cạn, những
vũng nước sót lại và các bãi bùn,... là nơi tập trung của
các loài như gà nước, choi choi, choắt, cà kheo, cò bợ,
diệc; sát mép nước là vịt trời, mòng biển, ngỗng trời, rắn
biển; cầy, lợn rừng,... từ trên cao cũng xuống bãi kiếm
thức ăn.
Rừng ngập mặn có tầm quan trọng trong bảo tồn đa
dạng sinh học cho đới ven bờ và duy trì nguồn lợi sinh
vật tiềm tàng như rừng ngập mặn Cà Mau, Lâm Viên ở
Cần Giờ. Rừng ngập mặn là nơi cư trú, làm tổ hoặc
kiếm thức ăn của hơn 200 loài chim, trong đó có loài
quý hiếm như cò lạo xám, cò quắm cánh xanh, sếu cổ
trụi khá phổ biến ở Đông Nam Á. Các động vật trên cạn
sống trong rừng ngập mặn hằng ngày cung cấp lượng
lớn các chất thải là nguồn dinh dưỡng cho cây rừng và
sinh vật sống trong các kênh rạch.
_______________
1. Nguyễn Chu Hồi: “Kinh tế biển Việt Nam nhìn từ góc độ
tài nguyên môi trường”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2013,
tr.30-41.
21
- Sản phẩm nông nghiệp: Lá cây ngập mặn nhất là
lá mắm có nhiều đạm là nguồn thức ăn giàu chất dinh
dưỡng cho gia súc, gia cầm và cá nuôi lồng, bè. Lá cây
rừng ngập mặn có hàm lượng muối và iốt cao; lá một số
cây, đặc biệt là lá mắm được làm men ủ tạo nguồn phân
xanh cho sản xuất nông nghiệp. Rừng ngập mặn đem
lại nguồn mật ong rừng có giá trị kinh tế; có sự quần tụ
của nhiều loài sinh vật khác từ những loài động vật
không xương sống kích thước nhỏ đến xương sống kích
thước lớn, từ những loài sống dưới nước đến sống trên
cạn. Rừng ngập mặn vừa là nơi cư trú, nơi cung cấp
nguồn dinh dưỡng cho sự tồn tại và phát triển của các
quần thể cửa sông ven biển vừa là nơi ươm ấp các cơ thể
non trẻ, duy trì đa dạng sinh học biển1.
Hệ sinh thái thảm cỏ biển
Hệ sinh thái thảm cỏ biển tiếp nối hệ sinh thái rừng
ngập mặn ở đường bờ nhiệt đới. Cỏ biển sống trong môi
trường nước biển trong ở độ sâu 3 - 30 m, ít chịu tác
động mạnh của sóng gió, bám trên nền đáy là trầm tích
bùn mịn và xốp nhẹ. Hệ sinh thái thảm cỏ biển cũng là
nơi cư trú, sinh sản và nuôi dưỡng nhiều loài thủy sản.
Nhiều loài động vật sử dụng nguồn thức ăn từ hoa cỏ
biển và cây cỏ biển khi già đi tự phân hủy thành các
chất mùn bã hữu cơ.
_______________
1. Xem Đặng Ngọc Thanh (Chủ biên): Biển Đông, Tập IV:
Sinh vật và sinh thái biển, Sđd.
22
Ở Việt Nam, cỏ biển có 15 loài, phân bố từ Bắc vào
Nam và ven các đảo. Thảm cỏ biển ở Phú Quốc (Kiên
Giang) đa dạng nhất với 9 loài, tổng diện tích phân bố
hơn 10.000 ha. Vùng triều ven bờ là môi trường sống
thuận lợi cho cỏ biển, thường phát triển thành các bãi
rộng hàng trăm hécta và phong phú về thành phần loài.
Sống trong hệ sinh thái cỏ biển ở nước ta có 155 loài
động vật đáy, 158 loài rong biển. Ở vùng Bắc Bộ đã
phát hiện 82 động vật đáy (16 loài giun nhiều tơ, 20 loài
ốc, 26 loài trai, 20 loài giáp xác); Nam Trung Bộ có 62
loài động vật đáy (37 loài trai ốc, 8 loài giáp xác, 12 loài
da gai); Nam Bộ có 88 loài, trong đó tôm và cá bống
trắng có giá trị kinh tế cao chiếm đa số1.
Hệ sinh thái rạn san hô2
Ở vùng biển Việt Nam có khoảng 370 loài, 80
giống, 17 họ thuộc nhóm san hô cứng Scleractinia;
trong đó, có 355 loài, 74 giống san hô tạo rạn. Trong số
17 họ, họ Acroporidae có số loài tập trung đông nhất
(32 loài) chiếm 61% tổng số loài chung. Thành phần
giống san hô biển Việt Nam được xem là phong phú
trên thế giới, tương đương Inđônêxia (75 giống) và
Philíppin (71 giống). Sự phát triển của san hô trong
_______________
1. Theo Nguyễn Văn Tiến: Nguồn lợi thảm cỏ biển Việt
Nam, Nxb. Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội, 2013.
2. Xem Đặng Ngọc Thanh (Chủ biên): Biển Đông, Tập IV:
Sinh vật và sinh thái biển, Sđd.
23
từng vùng biển: Bắc Bộ có 195 loài, 55 giống; miền
Trung và Đông Nam Bộ có 320 loài, 73 giống; Tây Nam
bộ có 264 loài, 64 giống; quần đảo Trường Sa và Hoàng
Sa có 259 loài, 65 giống,...
Ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, san hô
phát triển đến độ sâu 30 m, có nơi đến 40 - 50 m; độ che
phủ san hô sống nhiều nơi đạt 100%. San hô phát triển
thành các rạn viền bờ và rạn vòng rất điển hình.
Vùng biển miền Trung và Nam Trung Bộ có điều
kiện tự nhiên thuận lợi: nước ấm quanh năm, nhiệt độ
luôn trên 20oC, độ muối cao trên 32‰, độ trong suốt
của nước lớn nên san hô có thể phát triển đến độ sâu
15 - 20 m hoặc sâu hơn (Vũng Rô) và phát triển ở các bờ
đá ven bờ đảo từ cù lao Chàm đến Côn Đảo.
Vùng biển vịnh Bắc Bộ kém thuận lợi hơn, san hô chỉ
phát triển ở các tuyến xa bờ của vịnh Hạ Long, Bái Tử
Long, quần đảo Cô Tô, Long Châu, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ,
Hải Vân - Sơn Trà. Các rạn san hô vừa ngắn lại hẹp, chỉ có
thể đến độ sâu 5 - 7 m; đảo Bạch Long Vĩ có thể tới 20 m.
Vùng biển Tây Nam Bộ, các rạn san hô chỉ phát
triển ở vùng ven các đảo xa bờ như ở Nam Du, Thổ Chu,
Phú Quốc,... thường theo kiểu viền bờ với khoảng 264
loài, 64 giống san hô phân bố ở độ sâu 10 m.
Trong hệ sinh thái rạn san hô, có rất nhiều loài cá
cảnh nhiều màu sắc và hình thức rất hấp dẫn như cá hải
quỳ, cá bướm, cá thần tiên thường có màu sắc sặc sỡ.
24
Trong các rạn san hô thường gặp các loài cá có giá
trị thực phẩm cao như cá ngừ, cá hoàng đế, cá hồng, cá
mú, cá mó, cá bàng chài.
Hệ sinh thái nước trồi
Khu vực ven bờ nam Khánh Hòa - Bình Thuận có
hệ sinh thái nước trồi xuất hiện theo gió mùa tây nam
từ tháng 5 đến tháng 9, hoạt động mạnh vào tháng 7,
nhiệt độ nước tầng mặt dưới 27°C, tại vùng tâm là
24,5 - 25,5°C, nước tầng mặt tại vùng tâm nước trồi
mạnh 21,76°C; dị thường nhiệt độ nước mặt là - 4°C và
độ mặn là +1,2‰.
Trong thời kỳ nước trồi gió mùa, thực vật phù du ở
Nam Trung Bộ đạt 375 loài, trong đó ngành tảo Silic
chiếm ưu thế. Các loại sinh vật trong khu vực nước trồi
gió mùa tây nam gồm có:
Động vật phù du xác định được 290 loài, mật độ 161
con/m², sinh vật lượng là 60 mg/m³ đạt giá trị cao nhất
của vùng biển.
Động vật đáy có 402 loài với 4 nhóm chính: thân
mềm, giáp xác, giun nhiều tơ và da gai. Trong đó, nhóm
thân mềm (các loài mực, trai, ốc, điệp,...) có số loài nhiều
nhất (128 loài), nhóm giáp xác chiếm 28,11% tổng số loài
sinh vật đáy và nhóm da gai có số loài ít nhất, 49 loài.
Sinh vật lượng của động vật đáy có hàm lượng 19,15
g/m2 và mật độ là 206 con/m²; trong đó da gai chiếm tỷ
lệ cao nhất (56,55%).
Trong thời kỳ nước trồi gió mùa tây nam, nguồn
thức ăn dồi dào đã thu hút các loài cá đến kiếm mồi,
25
vỗ béo và sinh sản. Đây là một ngư trường giàu
nguồn lợi hải sản. Bên cạnh đó còn có hệ sinh thái
đầm, phá; hệ sinh thái vũng, vịnh; hệ sinh thái cửa
sông và bãi triều; hệ sinh thái cồn cát ven biển; hệ
sinh thái đáy cứng.
2. Tài nguyên khoáng sản
a) Dầu khí
Việt Nam có vùng thềm lục địa rộng lớn, từ lâu đã
được đánh giá là có triển vọng dầu khí lớn, trữ lượng
tiềm năng khoảng 4 - 8 tỉ m3 dầu quy đổi. Dầu khí ở
Việt Nam được chia làm 17 lô với nhiều tầng chứa dầu
khí khác nhau.
Kết quả tìm kiếm và thăm dò đã xác định được 8
bồn trũng có triển vọng dầu khí gồm: Sông Hồng, Phú
Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Tư Chính - Vũng
Mây, Hoàng Sa, Trường Sa, Mã Lai - Thổ Chu; trong
đó, các bồn trũng Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn
Sơn, Mã Lai - Thổ Chu đang khai thác dầu khí, được
xác định là các bồn trũng chứa dầu khí với đặc trưng
như sau:
- Bồn trũng Sông Hồng: Phát hiện chủ yếu là khí, có
một mỏ khí đang khai thác, một số phát hiện khác ở phía
nam bồn trũng (vùng biển miền Trung) có hàm lượng
CO2 cao (60 - 90%). Trữ lượng và tài nguyên dự báo
khoảng 550 - 700 triệu mét khối quy ra dầu, chủ yếu là
khí (khoảng 14% tổng tiềm năng dầu khí Việt Nam).
26
- Bồn trũng Phú Khánh: Ít được nghiên cứu. Mặc
dù tầng sinh chưa được xác định nhưng trầm tích
trong bồn trũng này có bề dày lớn được đánh giá là có
triển vọng dầu khí. Tài nguyên dự báo khoảng 300 700 triệu mét khối quy ra dầu (10% tổng tiềm năng
dầu khí Việt Nam).
- Bồn trũng Cửu Long: Chủ yếu phát hiện dầu, có 4
mỏ đang khai thác, một số phát hiện khác đang được
thẩm lượng. Đây là bồn trũng chứa dầu chủ yếu ở thềm
lục địa Việt Nam. Trữ lượng và tài nguyên dự báo
khoảng 700 - 800 triệu mét khối dầu chủ yếu tập trung
ở móng bị phong hóa, nứt nẻ.
- Bồn trũng Nam Côn Sơn: Đây là bồn trũng chứa
dầu và khí đã được nghiên cứu từ trước năm 1975, là
vùng có nhiều lỗ khoan thăm dò nhất. Có một mỏ dầu
đang khai thác, một số mỏ khí cũng đang được khai
thác. Trữ lượng và tài nguyên dự báo 650 - 850 triệu
mét khối quy ra dầu (17% tổng tiềm năng dầu khí
Việt Nam).
- Bồn trũng Mã Lai - Thổ Chu: Phát hiện cả dầu và
khí. Phần phía bắc của bồn trũng (giáp với thềm lục địa
Thái Lan), chủ yếu phát hiện khí, khí - condensate. Trữ
lượng và tài nguyên dự báo có thể đạt 250 - 350 triệu mét
khối quy ra dầu (5% tổng tiềm năng dầu khí Việt Nam).
Nhìn chung, dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam
thường là các mỏ nhiều tầng chứa dầu khí có tuổi khác
nhau từ Oligocen đến Pliocen dưới và đá móng bị
27
phong hóa nứt nẻ với cấu trúc địa chất rất phức tạp.
Liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí Vietsovpetro
phát hiện và khai thác dầu trong đá móng ở mỏ Bạch
Hổ thuộc bồn trũng Cửu Long từ tháng 6/1986, không
chỉ làm thay đổi phân bố trữ lượng và đối tượng khai
thác ở mỏ này, mà còn tạo ra quan điểm địa chất mới
cho tìm kiếm và thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Việt
Nam. Nhờ đó, đã phát hiện dầu trong đá móng bị
phong hóa nứt nẻ ở mỏ Rồng, Hồng Ngọc (Ruby), Rạng
Đông, Sư Tử Đen (bồn trũng Cửu Long), B11 (bồn
trũng Hà Nội). Đến ...
 





