TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    8.jpg 7.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 1.jpg KHKT3.jpg KHKT6.jpg KHKT7.jpg

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi Quý thầy cô và các em học sinh thân mến, Thư viện trân trọng giới thiệu Trang học liệu số – một kho tài nguyên tri thức phong phú được tuyển chọn dành riêng cho cộng đồng nhà trường. Tại đây, thầy cô và các em có thể truy cập sách điện tử, bài giảng tham khảo, tài liệu học tập theo chủ đề, video hướng dẫn kỹ năng đọc – tìm kiếm – sử dụng thông tin, cùng nhiều nguồn học liệu bổ ích khác. Việc khai thác trang học liệu là một cách mở rộng không gian học tập vượt ra ngoài lớp học, giúp các em rèn luyện tư duy, phát triển kỹ năng tự học và nuôi dưỡng niềm đam mê khám phá tri thức. Thầy cô có thể sử dụng các tài nguyên này để bổ trợ bài giảng, thiết kế hoạt động đọc hiệu quả và truyền cảm hứng học tập cho học sinh. Xin mời thầy cô và các em truy cập ngay hôm nay để trải nghiệm và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này. Mỗi trang học là một cơ hội để chúng ta cùng lớn lên về kiến thức và tư duy.

    💕💕Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với những bộ óc vĩ đại nhất của các thế kỷ đã qua.” – Descartes💕Điều chúng ta biết chỉ là giọt nước, điều chúng ta chưa biết là đại dương💕

    Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh 15 - Xây dựng nhà Lý

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 23h:48' 17-11-2024
    Dung lượng: 3.0 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    1

    Tái bản lần thứ 4

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
    Đồ họa vi tính: Đặng Kim Ngân
    Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Xây đắp nhà Lý/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn; họa sĩ Nguyễn
    Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
    112tr. ; 21cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.15).
    1. Việt Nam - Lịch sử - Triều nhà Lý, 1009-1225-Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ
    Quỳnh Trân. III. Ts. Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam - History - Lý Dynasty, 1009-1225 - Picture books.
    959.7023 -- dc 22
    X149

    LỜI GIỚI THIỆU
    Vua Lý Thái Tổ băng, nhà Lý gặp họa anh em tranh
    đoạt vương quyền, cảnh thoán đoạt và nguy cơ đại loạn
    trở thành họa cho việc suy vong. Nhưng vốn là người cơ
    trí, uy dũng, tài năng, lại có tôi hiền là tướng Lê Phụng
    Hiếu phù trợ, Thái tử Lý Phật Mã dẹp yên được cảnh
    anh em chia cắt, nhanh chóng ổn định tình hình chính
    trị, lên ngôi vua, tức vua Lý Thái Tông.
    Trong suốt gần 30 năm trị vì, bên cạnh việc cai trị
    sáng suốt, lại thông lục nghệ, tinh thao lược, gặp buổi
    trong nước giặc giã nhiễu nhương vua Lý Thái Tông
    không ít lần thân chinh cầm quân đánh dẹp phản loạn,
    dùng đức thu phục lòng người, xóa bỏ nguy cơ chia cắt,
    xâm lấn, giúp cho Đại Việt trở nên hùng mạnh.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 15
    của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Xây dựng nhà Lý”
    phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình
    ảnh do họa sĩ Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 15
    của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    Dựng nên nhà Lý là vua Lý Thái Tổ, phát triển mạnh
    mẽ xã hội Việt Nam dưới thời Lý là Lý Thái Tông. Cả hai
    vua ở trên ngôi 45 năm, thời gian đủ để thi thố các chính
    sách bình trị đất nước. Người đời sau đánh giá: gần nửa
    thế kỷ này cực kỳ quan trọng với lịch sử nước ta bởi nó tạo
    lập những nền tảng quan trọng cho việc phát triển đất nước.
    Vua sáng có tôi hiền, nhà Lý mở đầu theo chiều hướng
    đó.
    Tập này xin giới thiệu vị minh quân thứ hai của nhà Lý.

    4

    Vào mùa xuân năm Mậu Thìn (1028), sau 19 năm trị vì, đưa đất
    nước đến chỗ ổn định và thanh bình, vua Lý Thái Tổ lâm bệnh nặng
    rồi từ trần. Theo lệ cha truyền con nối, nhà vua đã chuẩn bị người kế
    vị từ trước. Đó là Lý Phật Mã, người con trưởng, được phong làm Thái
    tử vào năm 1012.

    5

    Lý Phật Mã còn có tên
    húy nữa là Đức Chính, sinh
    vào năm 1000 tại Hoa Lư, lúc
    ấy Lý Công Uẩn còn đang làm
    quan trong đội cấm quân của vua
    Lê Đại Hành. Tương truyền
    rằng vào lúc Lý Phật Mã
    ra đời, tự dưng bao nhiêu
    trâu bò trong phủ đều thay
    sừng. Thấy thế, có nhà tiên
    tri nói rằng: “Người này ắt
    hẳn sẽ làm thiên tử”. Nhưng ai cũng
    cho đó là lời xằng bậy chẳng đáng tin.

    6

    Từ khi được phong làm Thái tử, Lý Phật Mã không được ở tại chốn
    cung điện tráng lệ, êm đềm trong vòng thành Thăng Long mà phải sống
    ở ngoài thành, gần gũi và hiểu rõ dân chúng để sau này cai trị cho hợp
    với lòng người. Chỗ ở của Thái tử được gọi là cung Long Đức, cũng
    đơn sơ, giản dị như nhà của người trung lưu.

    7

    Mỗi khi trong nước có loạn lạc, Thái tử phải trèo đèo, lội suối, chịu
    đựng gian khổ, cầm quân đánh dẹp và lập nên được nhiều chiến công.
    Nhờ được rèn luyện như thế, Thái tử Phật Mã trở thành một trang nam
    tử thông tuệ, uy dũng. Dân chúng và triều thần đều kính phục.

    8

    Ngoài Lý Phật Mã, vua Lý Thái Tổ còn có bốn người con trai là Dực
    Thánh vương, Đông Chính vương, Võ Đức vương, Khai Quốc vương.
    Các hoàng tử này ai cũng nuôi mộng làm vua. Vì vậy, khi vua cha mới
    băng hà, họ lợi dụng việc Thái tử phải ở ngoài thành nên ngấm ngầm
    liên kết cùng nhau, chuẩn bị ngăn chặn Lý Phật Mã lên ngôi.

    9

    Linh cữu vua Lý Thái Tổ đặt ở điện Long An, triều thần theo di
    chiếu tới cung Long Đức mời Thái tử đến để tuyên chiếu truyền ngôi.
    Đoán trước việc đó, hoàng tử Võ Đức vương, Dực Thánh vương và
    Đông Chính vương đem quân cả ba phủ tập kích ở cổng thành. Vì thế,
    lúc Thái tử cùng các tướng tâm phúc là Lý Nhân Nghĩa, Lê Phụng Hiểu
    đến cửa thì bị cản không vào được.

    10

    Trước tình cảnh ấy, Thái tử than:
    - Ta không làm điều gì phụ lòng anh em mà sao ba vương lại làm
    điều bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế (tức là vua Lý Thái Tổ). Các
    khanh nghĩ thế nào?
    Lý Nhân Nghĩa tâu:
    - Anh em thì phải hòa hiệp, nay ba vương làm phản liệu có còn là
    anh em không? Ta phải bỏ tình riêng mà nghĩ đến nghĩa công. Tôi xin
    ra quyết chiến một trận.

    11

    Thái tử bảo:
    - Ta lấy làm xấu hổ. Tiên đế
    vừa mất chưa chôn cất mà anh
    em ruột thịt đã giết hại lẫn nhau. Há
    chẳng để cho đời sau chê cười sao?
    Lý Nhân Nghĩa tâu:
    - Tiên đế thấy Điện hạ là người đủ đức tài để
    nối nghiệp nên đã đem cả thiên hạ phó thác cho.
    Nay giặc đến cửa cung mà không quyết thì thật là
    phụ lòng Tiên đế.

    12

    Thái tử vẫn chần chừ:
    - Ta muốn che giấu tội của ba vương khiến họ
    tự ý rút quân về để trọn tình anh em.
    Nhưng ngay lúc ấy, tình hình hết sức nguy cấp. Ba
    hoàng tử thúc quân đánh gấp. Lý Phật Mã không còn lần
    chần được nữa, đành phải quyết định:
    - Tình thế đã đến như thế này thì ta giao thác hết cho các
    ngươi. Còn ta, ta sẽ đến chầu bên linh cữu Tiên đế mà thôi.

    13

    Lý Nhân Nghĩa cùng Lê Phụng Hiểu đồng thanh trả lời:
    - Chúng tôi xin hết lòng.
    Rồi cả hai tả xung hữu đột giữa đám phản loạn. Lê Phụng Hiểu chỉ
    vào Võ Đức vương thét lớn:
    - Các người dòm ngó ngôi cao, khinh rẻ Thái tử; trên quên ơn Tiên
    đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này.

    14

    Với sức mạnh phi thường, ánh gươm của Phụng Hiểu chỉ vừa loáng
    lên là Võ Đức vương đã gục chết dưới chân ngựa trong chớp mắt. Quân
    ba phủ tan vỡ. Hai hoàng tử còn lại hốt hoảng bỏ chạy, Phụng Hiểu vội
    cùng Lý Nhân Nghĩa đi thẳng đến trước linh cữu Lý Thái Tổ
    bẩm báo. Thái tử vô cùng cảm động, úy lạo:
    - Các ông thật là trung thành còn Phụng Hiểu thật là uy
    dũng.

    15

    Thái tử Phật Mã lên ngôi (1028), tức Lý Thái Tông*, đổi niên hiệu
    là Thiên Thành. Nhà vua là người nhân từ, liền ra lệnh đại xá kẻ tù tội.
    Vua cũng thường miễn thuế cho dân chúng mỗi khi trong nước gặp nạn
    mất mùa hoặc chiến tranh, loạn lạc. Hai hoàng tử đã từng nổi loạn về
    xin tha tội cũng được vua bỏ qua và phục lại chức tước như cũ.

      Có sách gọi là Tôn.

    *

    16

    Nhưng hoàng tử thứ tư là Khai Quốc vương lại chiếm Trường Yên
    (Hoa Lư) làm căn cứ, buộc nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp. Vốn
    là người từng quen trận mạc, chẳng mấy chốc, nhà vua vây khốn thành
    Hoa Lư. Thấy không chống cự nổi, Khai Quốc vương đầu hàng. Nhà
    vua xuống chiếu tha tội cho em. Trước tấm lòng cao cả ấy, mấy người
    em cảm động, từ đó hết lòng giúp đỡ anh trong việc trị nước, dẹp loạn.

    17

    Tuy sẵn sàng tha thứ cho các em, nhưng nhà vua vẫn không quên
    giáo dục họ cùng các quan lại biết tôn trọng lòng trung nghĩa. Một hôm,
    vua kể rằng, vào đêm trước khi ba vương nổi loạn, thần Đồng Cổ đã
    báo mộng cho biết trước, nhờ thế ngài để phòng sẵn nên không bị hại.
    Đồng Cổ có nghĩa là trống đồng. Người Việt vốn tôn sùng trống đồng
    từ thời mới dựng nước nên đã thần linh hóa trống đồng, gán cho trống
    đồng là một vị thần, gọi là thần Đồng Cổ.

    18

    Tục truyền rằng núi Khả Phong ở Thanh Hóa là nơi ngự trị của thần
    Đồng Cổ. Thần rất linh thiêng, đã từng giúp vua Lý Thái Tổ dẹp yên
    nhiều cuộc nổi loạn. Nay lấy cớ trả ơn thần đã báo mộng, nhà vua sắc
    phong cho thần Đồng Cổ tước vương và cho dựng đền thờ ở trong kinh
    thành, phía sau chùa Thánh Thọ, rồi làm lễ rước thần từ núi Khả Phong
    về Thăng Long.

    19

    Xong xuôi, nhà vua cho tiến hành lễ thề ở đấy. Lễ thề được cử hành
    rất trang nghiêm. Đàn cao được dựng lên trong đền Đồng Cổ, cờ xí đủ
    màu rực rỡ cắm trên đàn, còn gươm giáo thì treo trước thần vị. Quần
    thần, hoàng tử, áo mũ chỉnh tề, từ cửa phía đông đi vào đền, đến quỳ
    trước đài, cùng uống máu và đọc lời thề: “Làm con phải hiếu, làm
    tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin thần minh trị tội”.

    20

    21

    Từ đó hàng năm, vào ngày 4 tháng 4 âm lịch, lễ thề ở đền Đồng Cổ
    được tiến hành đều đặn. Không một ai được quyền vắng mặt. Ai trốn
    dự lễ sẽ bị phạt 50 trượng. Việc làm này cũng góp phần ổn định trật tự
    trong triều đình cũng như trong hoàng gia. Ai nấy lo làm phận sự của
    mình, không dám có ý tiếm đoạt, sợ thần Đồng Cổ quở phạt.

    22

    Tục truyền rằng lên ngôi vua được chừng một năm, một hôm, vua
    chợt thấy rồng xuất hiện ở điện Càn Nguyên. Điện Càn Nguyên vốn
    là nơi coi chầu của vua Lý Thái Tổ và đã bị bỏ phế vì sét
    đánh hỏng vào năm 1017. Cho rằng rồng xuất hiện
    là điềm tốt, nhà vua ra lệnh trùng tu và mở
    rộng điện, đổi tên là Thiên An. Phía trái còn
    dựng thêm điện Tuyên Đức, phía phải
    xây thêm điện Diên Phúc. Trước điện
    Thiên An là thềm Rồng (Long Trì),
    phía đông thềm Rồng có điện Văn
    Minh, phía tây có điện Quảng Võ.

    23

    24

    Nhà vua còn cho xây hai lầu chuông đối nhau hai bên thềm Rồng
    để dân có việc đến kêu oan. Xung quanh thềm Rồng có hành lang để
    quan lại hội họp và quân lính canh gác. Đằng trước thềm Rồng làm thêm
    điện Phụng Thiên, trên điện xây lầu Chánh Dương để làm nơi xem giờ
    khắc. Ngoài ra ở phía sau còn có điện Trường Xuân với gác Long Đồ
    dùng làm chỗ nghỉ ngơi, ngắm cảnh cho nhà vua sau những buổi lâm
    triều căng thẳng.

    25

    Năm sau (1030), vua lại cho dựng điện Thiên Khánh, cất thêm lầu
    Phượng Hoàng. Điện Thiên Khánh là nơi vua lâm triều làm việc với
    các quan. Đất nước càng ngày càng hưng thịnh, vua lại cho mở ba khu
    vườn Quỳnh Lâm, Thắng Cảnh, Xuân Quang (1048). Rồi để tô điểm
    cho cảnh quan thêm phong phú, vào năm 1050, vua lại cho đào hồ bán
    nguyệt Thụy Thanh và ao Ứng Minh tại vườn Thắng Cảnh.

    26

    Một lần vào năm 1049, thợ đang đào hồ tại vườn Thượng Uyển thì
    bỗng nhiên một khối vàng sáng chói trồi lên. Khối vàng nặng đến 50
    lượng. Hân hoan trước việc lạ, nhà vua đặt tên cho hồ là Kim Minh Vạn
    Tuế (vàng sáng vạn năm). Để cho hồ thêm sinh động, nghệ nhân lại xây
    ba chỏm núi đá ở trên rồi bắc một chiếc cầu uốn lượn qua, gọi là cầu
    Vũ Phượng, trông chẳng khác gì chốn bồng lai tiên cảnh, chứng tỏ tâm
    hồn nghệ thuật phong phú của người Việt thời ấy.

    27

    Vua thường đến Hoan châu thăm thú tình hình dân chúng nên cho
    xây tại đó một hành cung* và đổi tên Hoan châu thành Nghệ An. Từ
    đấy danh xưng Nghệ An xuất hiện. Nhà vua cũng chú ý đến việc xây
    cất phục vụ đời sống dân chúng. Ngài cho bắc cầu Thái Hòa ở sông Tô
    Lịch, cất chợ Tây và chợ Trường Lan (1035), lại còn mở chợ ở phía
    đông kinh thành. Hàng quán chen chúc sát tới bên đền Bạch Mã, tạo ra
    một cảnh phồn thịnh chưa từng có.
      Hành cung là ngôi điện dựng lên ở các địa phương để vua nghỉ ngơi khi
    có dịp đi qua.
    *

    28

    29

    Quan tâm đến việc giao thông, năm 1042 nhà vua xuống chiếu cho
    các lộ đặt trạm gác mỗi nơi, chia đường ra từng đoạn để việc liên lạc,
    đi lại được dễ dàng. Vua lại cho đóng mấy trăm chiếc thuyền lớn, các
    thuyền đều có trang trí hình rồng, phượng, cọp, cá, rắn và chim anh vũ
    (1043). Ngoài ra còn cho chế tạo xe Thái bình, sơn son, thếp vàng, mui
    lợp lụa, do voi kéo.

    30

    Để cai trị đất nước, vua có đông đảo quan lại tài giỏi giúp sức. Vua
    đặt ra các cuộc sát hạch để chọn người có năng lực. Sau đó, nếu không
    đủ, mới dùng đến con cái của các quan. Tuy nhiên, việc tuyển chọn vẫn
    còn nhiều điều không hợp lý. Chẳng hạn như con cháu của thợ thuyền
    hay con hát dù tài giỏi cũng không được sử dụng, trong khi người có
    tiền thì được mua chức, hoặc hễ là thân thích của hoàng hậu là được
    mang chức tước.
    31

    Vua phân loại các quan ra làm hai lĩnh vực: quan trong và quan
    ngoài. Quan trong lo việc quản lý dân chúng với các chức vụ như Thái
    sư, Thái phó, Thái bảo, Khu mật, Tả tham tri, Trung thư Thị lang, Hữu
    tâm phúc. Thời đó có các quan nổi tiếng như Hữu tâm phúc Lý Nhân
    Nghĩa, Thái sư Lương Nhiệm Văn, Thái phó Đinh Thượng Ngộ...
    32

    Quan ngoài thì phục trách về quân sự, binh
    bị. Mỗi khi trong nước xảy ra chinh chiến,
    các quan ngoài là người phải xông pha hòn
    tên mũi đạn để giữ an cho đất nước. Chức Đô
    thống là để gọi các quan ngoài. Nổi tiếng nhất
    là Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng
    Hiểu. Ông có sức mạnh phi thường, không
    ai sánh kịp.

    33

    Để cai quản các vùng biên cương, vua
    đặt ra chức Châu mục và cử những người
    dân tộc tại chỗ giữ các chức ấy. Các quan
    Châu mục cai trị những nơi xa xôi thường
    hay có ý tự lập, muốn tách ra khỏi triều
    đình trung ương, khiến cho nhà vua vẫn
    thường phải cất quân đánh dẹp. Nhằm giữ
    hòa bình, có khi vua phải đem con gái của
    mình gả cho họ để tạo mối quan hệ thân
    thiết. Năm Kỷ Tỵ (1029), vua gả công chúa
    Bình Dương cho quan Châu mục châu Lạng
    là Thân Thiệu Thái.

    34

    Năm 1036, công chúa Kim Thành lại được gả cho quan Châu
    mục châu Phong là Lê Ninh Thuận, rồi sau đó đến lượt công chúa
    Trường Ninh về làm vợ Tù trưởng Thượng Oai là Hà Thiện Khoan.
    Những nàng công chúa cành vàng lá ngọc này, vì sự thanh bình của đất
    nước, vì quyền uy của triều đại; đã phải hy sinh cảnh lầu son gác tía
    nơi chốn cung đình, về sống nơi xa xôi, hẻo lánh. Sự hy sinh ấy ít người
    biết đến, nhưng lại vô cùng quý giá vì đã giải trừ được nhiều cảnh chiến
    tranh.

    35

    Với nhà Tống bên Trung Hoa, vua Lý Thái Tông giữ quan hệ thuận
    thảo, cũng nhận tước phong là Nam Bình vương và thường cho sứ qua
    thông hiếu. Có khi nhà vua cho đem một con voi đã dạy dỗ thuần thục
    sang tặng vua Tống, vua Tống biết vua Lý sùng đạo Phật, gửi tặng lại
    kinh Đại Tạng. Tuy vậy, để không có mâu thuẫn tại biên giới hai nước,
    vua Lý Thái Tông cho tiến hành việc phân ranh, xác định đất nào là đất
    Tống, đất nào là đất Việt.

    36

    Các nước láng giềng nhỏ như Chân Lạp, Ai Lao cũng thường xuyên
    cho sứ thần đến thông hiếu và cống các sản vật địa phương. Để các sứ
    thần có chỗ lưu trú và nghỉ ngơi sau các cuộc hành trình gian nan, vào
    năm 1044, Lý Thái Tông cho xây sứ quán, gọi là trạm dịch Hoài Viễn,
    ở Gia Lâm (Hà Nội ngày nay). Năm sau, vì nhu cầu ngày càng tăng
    do việc đối ngoại phát triển, vua cho xây đến 7 trạm dịch. Sự chu đáo
    trong tiếp xúc ngoại giao như thế làm cho sứ thần các nước rất kính nể.

    37

    Để dạy dân tôn trọng phép nước và đề phòng quan lại tham ô, cậy
    quyền cậy thế hà hiếp dân lành, vua ra lệnh thành lập một ban biên
    soạn luật pháp. Bộ luật đầu tiên của đất nước được viết ra dưới triều
    Lý Thái Tông (1042), gọi là Hình Thư. Tiếc rằng, bộ luật này hiện nay
    đã thất truyền, ta chỉ còn biết được một số điều của nó nhờ các sách sử
    cũ khác nói đến.

    38

    Theo các sách ấy thì vua phân hình phạt ra nhiều loại, tội nào chịu
    theo hình phạt ấy. Có điều lệ cấm không cho mua bán con trai làm nô
    tỳ*. Ngoài ra, luật thời ấy còn cho phép những người già hay trẻ con
    được chuộc tội bằng tiền khi phạm tội nặng. Đáng kể nhất là luật cấm
    mổ trâu bò ăn thịt vì trâu bò là sức kéo trên đồng ruộng.

      Từ nô tỳ lúc này là chỉ nô lệ cả trai và gái.

    *

    39

    Để đánh dấu sự kiện nước ta có luật pháp, Lý Thái Tông đổi niên
    hiệu* thành Minh Đạo (nghĩa là con đường sáng) và cho đúc tiền mới,
    cũng gọi là tiền Minh Đạo. Bên cạnh bộ luật ấy, vua vẫn duy trì hai
    lầu chuông kêu oan. Không những thế, vào năm 1053, vua lại cho đúc
    thêm chuông kêu oan đặt ở Long Trì và truyền rằng hễ có người dân nào
    đến đánh chuông ấy để bày tỏ, đích thân nhà vua sẽ đứng ra phân xử.

      Các vua triều Lý nhân một sự kiện gì đó thường hay thay đổi niên

    *

    hiệu.

    40

    Nước đã có luật pháp, từ đấy chấm dứt lối cai trị tùy tiện, bất công.
    Mọi người vô cùng hân hoan, an tâm sinh sống. Vua cũng đặt ra luật
    lệ trong cung, định rõ ràng số phi, cung nữ, nhạc kỹ như sau: hậu và
    phi 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người. Các cung nữ
    cũng theo phẩm cấp để có tôn ti trật tự. Những cô gái trẻ
    đẹp này không phải chỉ suốt ngày lo việc điểm trang
    phấn son, sống nhàn rỗi trong cung cấm mà hết thảy
    đều được học nghề dệt nghề thêu.

    41

    Sản phẩm của họ làm ra đẹp không
    kém gì của Trung Hoa. Vua lập ra một
    kho riêng để chứa số lụa gấm ấy, gọi là
    “quyến khố ti” và trực tiếp trông coi.
    Để quan lại và dân chúng hướng tới
    việc dùng hàng hóa trong nước, ngài
    quyết định không dùng gấm vóc nhà
    Tống nữa nên ra lệnh đem hết gấm
    Tống trong kho ra phát cho các quan
    lại. Quan ngũ phẩm trở lên thì được
    áo gấm, dưới ngũ phẩm được áo vóc.

    42

    Sau đó, trong triều đình, từ vua đến quan đều dùng lụa gấm do các
    cung nữ hoặc dân chúng dệt. Nhờ vậy, nghề trồng dâu, dệt lụa trong
    nước phát triển chưa từng có. Những nơi dệt lụa nổi tiếng của thời ấy
    là làng Nghĩa Đô bên bờ sông Tô Lịch, làng Nghi Tàm bên cạnh Hồ
    Tây (Hà Nội ngày nay).

    43

    44

    Để khuyến khích nông dân lo việc đồng ruộng, hàng năm, vào đầu
    vụ mùa, Lý Thái Tông vẫn đi làm lễ Tịch Điền*. Có năm, ruộng vua
    cày cho giống lúa nở đến 9 bông làm ngài hết sức vui mừng. Ngoài ra,
    vua thường đi về các làng quê xem nhân dân cày cấy, gặt hái, nhất là
    vào những năm cả nước đều được mùa.

      Tức là nhà vua cày một đường cày tượng trưng. Lễ này đã được hình

    *

    thành từ thời vua Lê Đại Hành với mục đích khuyến khích nông nghiệp.

    45

    Tuy thế, có những nịnh thần lại muốn can vua đừng làm lễ Tịch
    Điền. Chẳng hạn vào năm 1038, nhà vua ngự ra Bố Hải Khẩu (huyện
    Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình ngày nay) để làm lễ cày ruộng. Sau khi vua tế
    Thần nông xong, đang cầm cày xuống ruộng định cày mấy đường thì
    có quan can rằng:
    - Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì phải làm thế!

    46

    47

    Vua đáp:
    - Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất
    thiên hạ?
    Thế rồi vua tiếp tục thúc trâu kéo cày cho đến khi mệt mới nghỉ.
    Ngoài ra, vua còn lập xã đàn ở ngoài cửa Trường Quảng để làm nơi cầu
    cúng thần Lúa bốn mùa (1048).

    48
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là đầu tư duy nhất càng dùng càng sinh lợi trí tuệ.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TIỀN TIẾN - NAM ĐỒNG - TP HẢI PHÒNG !