Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
Lịch sử Việt Nam bằng tranh 15 - Xây dựng nhà Lý

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:48' 17-11-2024
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 23h:48' 17-11-2024
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
1
Tái bản lần thứ 4
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Đồ họa vi tính: Đặng Kim Ngân
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Xây đắp nhà Lý/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn; họa sĩ Nguyễn
Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112tr. ; 21cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.15).
1. Việt Nam - Lịch sử - Triều nhà Lý, 1009-1225-Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ
Quỳnh Trân. III. Ts. Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam - History - Lý Dynasty, 1009-1225 - Picture books.
959.7023 -- dc 22
X149
LỜI GIỚI THIỆU
Vua Lý Thái Tổ băng, nhà Lý gặp họa anh em tranh
đoạt vương quyền, cảnh thoán đoạt và nguy cơ đại loạn
trở thành họa cho việc suy vong. Nhưng vốn là người cơ
trí, uy dũng, tài năng, lại có tôi hiền là tướng Lê Phụng
Hiếu phù trợ, Thái tử Lý Phật Mã dẹp yên được cảnh
anh em chia cắt, nhanh chóng ổn định tình hình chính
trị, lên ngôi vua, tức vua Lý Thái Tông.
Trong suốt gần 30 năm trị vì, bên cạnh việc cai trị
sáng suốt, lại thông lục nghệ, tinh thao lược, gặp buổi
trong nước giặc giã nhiễu nhương vua Lý Thái Tông
không ít lần thân chinh cầm quân đánh dẹp phản loạn,
dùng đức thu phục lòng người, xóa bỏ nguy cơ chia cắt,
xâm lấn, giúp cho Đại Việt trở nên hùng mạnh.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 15
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Xây dựng nhà Lý”
phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình
ảnh do họa sĩ Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 15
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Dựng nên nhà Lý là vua Lý Thái Tổ, phát triển mạnh
mẽ xã hội Việt Nam dưới thời Lý là Lý Thái Tông. Cả hai
vua ở trên ngôi 45 năm, thời gian đủ để thi thố các chính
sách bình trị đất nước. Người đời sau đánh giá: gần nửa
thế kỷ này cực kỳ quan trọng với lịch sử nước ta bởi nó tạo
lập những nền tảng quan trọng cho việc phát triển đất nước.
Vua sáng có tôi hiền, nhà Lý mở đầu theo chiều hướng
đó.
Tập này xin giới thiệu vị minh quân thứ hai của nhà Lý.
4
Vào mùa xuân năm Mậu Thìn (1028), sau 19 năm trị vì, đưa đất
nước đến chỗ ổn định và thanh bình, vua Lý Thái Tổ lâm bệnh nặng
rồi từ trần. Theo lệ cha truyền con nối, nhà vua đã chuẩn bị người kế
vị từ trước. Đó là Lý Phật Mã, người con trưởng, được phong làm Thái
tử vào năm 1012.
5
Lý Phật Mã còn có tên
húy nữa là Đức Chính, sinh
vào năm 1000 tại Hoa Lư, lúc
ấy Lý Công Uẩn còn đang làm
quan trong đội cấm quân của vua
Lê Đại Hành. Tương truyền
rằng vào lúc Lý Phật Mã
ra đời, tự dưng bao nhiêu
trâu bò trong phủ đều thay
sừng. Thấy thế, có nhà tiên
tri nói rằng: “Người này ắt
hẳn sẽ làm thiên tử”. Nhưng ai cũng
cho đó là lời xằng bậy chẳng đáng tin.
6
Từ khi được phong làm Thái tử, Lý Phật Mã không được ở tại chốn
cung điện tráng lệ, êm đềm trong vòng thành Thăng Long mà phải sống
ở ngoài thành, gần gũi và hiểu rõ dân chúng để sau này cai trị cho hợp
với lòng người. Chỗ ở của Thái tử được gọi là cung Long Đức, cũng
đơn sơ, giản dị như nhà của người trung lưu.
7
Mỗi khi trong nước có loạn lạc, Thái tử phải trèo đèo, lội suối, chịu
đựng gian khổ, cầm quân đánh dẹp và lập nên được nhiều chiến công.
Nhờ được rèn luyện như thế, Thái tử Phật Mã trở thành một trang nam
tử thông tuệ, uy dũng. Dân chúng và triều thần đều kính phục.
8
Ngoài Lý Phật Mã, vua Lý Thái Tổ còn có bốn người con trai là Dực
Thánh vương, Đông Chính vương, Võ Đức vương, Khai Quốc vương.
Các hoàng tử này ai cũng nuôi mộng làm vua. Vì vậy, khi vua cha mới
băng hà, họ lợi dụng việc Thái tử phải ở ngoài thành nên ngấm ngầm
liên kết cùng nhau, chuẩn bị ngăn chặn Lý Phật Mã lên ngôi.
9
Linh cữu vua Lý Thái Tổ đặt ở điện Long An, triều thần theo di
chiếu tới cung Long Đức mời Thái tử đến để tuyên chiếu truyền ngôi.
Đoán trước việc đó, hoàng tử Võ Đức vương, Dực Thánh vương và
Đông Chính vương đem quân cả ba phủ tập kích ở cổng thành. Vì thế,
lúc Thái tử cùng các tướng tâm phúc là Lý Nhân Nghĩa, Lê Phụng Hiểu
đến cửa thì bị cản không vào được.
10
Trước tình cảnh ấy, Thái tử than:
- Ta không làm điều gì phụ lòng anh em mà sao ba vương lại làm
điều bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế (tức là vua Lý Thái Tổ). Các
khanh nghĩ thế nào?
Lý Nhân Nghĩa tâu:
- Anh em thì phải hòa hiệp, nay ba vương làm phản liệu có còn là
anh em không? Ta phải bỏ tình riêng mà nghĩ đến nghĩa công. Tôi xin
ra quyết chiến một trận.
11
Thái tử bảo:
- Ta lấy làm xấu hổ. Tiên đế
vừa mất chưa chôn cất mà anh
em ruột thịt đã giết hại lẫn nhau. Há
chẳng để cho đời sau chê cười sao?
Lý Nhân Nghĩa tâu:
- Tiên đế thấy Điện hạ là người đủ đức tài để
nối nghiệp nên đã đem cả thiên hạ phó thác cho.
Nay giặc đến cửa cung mà không quyết thì thật là
phụ lòng Tiên đế.
12
Thái tử vẫn chần chừ:
- Ta muốn che giấu tội của ba vương khiến họ
tự ý rút quân về để trọn tình anh em.
Nhưng ngay lúc ấy, tình hình hết sức nguy cấp. Ba
hoàng tử thúc quân đánh gấp. Lý Phật Mã không còn lần
chần được nữa, đành phải quyết định:
- Tình thế đã đến như thế này thì ta giao thác hết cho các
ngươi. Còn ta, ta sẽ đến chầu bên linh cữu Tiên đế mà thôi.
13
Lý Nhân Nghĩa cùng Lê Phụng Hiểu đồng thanh trả lời:
- Chúng tôi xin hết lòng.
Rồi cả hai tả xung hữu đột giữa đám phản loạn. Lê Phụng Hiểu chỉ
vào Võ Đức vương thét lớn:
- Các người dòm ngó ngôi cao, khinh rẻ Thái tử; trên quên ơn Tiên
đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này.
14
Với sức mạnh phi thường, ánh gươm của Phụng Hiểu chỉ vừa loáng
lên là Võ Đức vương đã gục chết dưới chân ngựa trong chớp mắt. Quân
ba phủ tan vỡ. Hai hoàng tử còn lại hốt hoảng bỏ chạy, Phụng Hiểu vội
cùng Lý Nhân Nghĩa đi thẳng đến trước linh cữu Lý Thái Tổ
bẩm báo. Thái tử vô cùng cảm động, úy lạo:
- Các ông thật là trung thành còn Phụng Hiểu thật là uy
dũng.
15
Thái tử Phật Mã lên ngôi (1028), tức Lý Thái Tông*, đổi niên hiệu
là Thiên Thành. Nhà vua là người nhân từ, liền ra lệnh đại xá kẻ tù tội.
Vua cũng thường miễn thuế cho dân chúng mỗi khi trong nước gặp nạn
mất mùa hoặc chiến tranh, loạn lạc. Hai hoàng tử đã từng nổi loạn về
xin tha tội cũng được vua bỏ qua và phục lại chức tước như cũ.
Có sách gọi là Tôn.
*
16
Nhưng hoàng tử thứ tư là Khai Quốc vương lại chiếm Trường Yên
(Hoa Lư) làm căn cứ, buộc nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp. Vốn
là người từng quen trận mạc, chẳng mấy chốc, nhà vua vây khốn thành
Hoa Lư. Thấy không chống cự nổi, Khai Quốc vương đầu hàng. Nhà
vua xuống chiếu tha tội cho em. Trước tấm lòng cao cả ấy, mấy người
em cảm động, từ đó hết lòng giúp đỡ anh trong việc trị nước, dẹp loạn.
17
Tuy sẵn sàng tha thứ cho các em, nhưng nhà vua vẫn không quên
giáo dục họ cùng các quan lại biết tôn trọng lòng trung nghĩa. Một hôm,
vua kể rằng, vào đêm trước khi ba vương nổi loạn, thần Đồng Cổ đã
báo mộng cho biết trước, nhờ thế ngài để phòng sẵn nên không bị hại.
Đồng Cổ có nghĩa là trống đồng. Người Việt vốn tôn sùng trống đồng
từ thời mới dựng nước nên đã thần linh hóa trống đồng, gán cho trống
đồng là một vị thần, gọi là thần Đồng Cổ.
18
Tục truyền rằng núi Khả Phong ở Thanh Hóa là nơi ngự trị của thần
Đồng Cổ. Thần rất linh thiêng, đã từng giúp vua Lý Thái Tổ dẹp yên
nhiều cuộc nổi loạn. Nay lấy cớ trả ơn thần đã báo mộng, nhà vua sắc
phong cho thần Đồng Cổ tước vương và cho dựng đền thờ ở trong kinh
thành, phía sau chùa Thánh Thọ, rồi làm lễ rước thần từ núi Khả Phong
về Thăng Long.
19
Xong xuôi, nhà vua cho tiến hành lễ thề ở đấy. Lễ thề được cử hành
rất trang nghiêm. Đàn cao được dựng lên trong đền Đồng Cổ, cờ xí đủ
màu rực rỡ cắm trên đàn, còn gươm giáo thì treo trước thần vị. Quần
thần, hoàng tử, áo mũ chỉnh tề, từ cửa phía đông đi vào đền, đến quỳ
trước đài, cùng uống máu và đọc lời thề: “Làm con phải hiếu, làm
tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin thần minh trị tội”.
20
21
Từ đó hàng năm, vào ngày 4 tháng 4 âm lịch, lễ thề ở đền Đồng Cổ
được tiến hành đều đặn. Không một ai được quyền vắng mặt. Ai trốn
dự lễ sẽ bị phạt 50 trượng. Việc làm này cũng góp phần ổn định trật tự
trong triều đình cũng như trong hoàng gia. Ai nấy lo làm phận sự của
mình, không dám có ý tiếm đoạt, sợ thần Đồng Cổ quở phạt.
22
Tục truyền rằng lên ngôi vua được chừng một năm, một hôm, vua
chợt thấy rồng xuất hiện ở điện Càn Nguyên. Điện Càn Nguyên vốn
là nơi coi chầu của vua Lý Thái Tổ và đã bị bỏ phế vì sét
đánh hỏng vào năm 1017. Cho rằng rồng xuất hiện
là điềm tốt, nhà vua ra lệnh trùng tu và mở
rộng điện, đổi tên là Thiên An. Phía trái còn
dựng thêm điện Tuyên Đức, phía phải
xây thêm điện Diên Phúc. Trước điện
Thiên An là thềm Rồng (Long Trì),
phía đông thềm Rồng có điện Văn
Minh, phía tây có điện Quảng Võ.
23
24
Nhà vua còn cho xây hai lầu chuông đối nhau hai bên thềm Rồng
để dân có việc đến kêu oan. Xung quanh thềm Rồng có hành lang để
quan lại hội họp và quân lính canh gác. Đằng trước thềm Rồng làm thêm
điện Phụng Thiên, trên điện xây lầu Chánh Dương để làm nơi xem giờ
khắc. Ngoài ra ở phía sau còn có điện Trường Xuân với gác Long Đồ
dùng làm chỗ nghỉ ngơi, ngắm cảnh cho nhà vua sau những buổi lâm
triều căng thẳng.
25
Năm sau (1030), vua lại cho dựng điện Thiên Khánh, cất thêm lầu
Phượng Hoàng. Điện Thiên Khánh là nơi vua lâm triều làm việc với
các quan. Đất nước càng ngày càng hưng thịnh, vua lại cho mở ba khu
vườn Quỳnh Lâm, Thắng Cảnh, Xuân Quang (1048). Rồi để tô điểm
cho cảnh quan thêm phong phú, vào năm 1050, vua lại cho đào hồ bán
nguyệt Thụy Thanh và ao Ứng Minh tại vườn Thắng Cảnh.
26
Một lần vào năm 1049, thợ đang đào hồ tại vườn Thượng Uyển thì
bỗng nhiên một khối vàng sáng chói trồi lên. Khối vàng nặng đến 50
lượng. Hân hoan trước việc lạ, nhà vua đặt tên cho hồ là Kim Minh Vạn
Tuế (vàng sáng vạn năm). Để cho hồ thêm sinh động, nghệ nhân lại xây
ba chỏm núi đá ở trên rồi bắc một chiếc cầu uốn lượn qua, gọi là cầu
Vũ Phượng, trông chẳng khác gì chốn bồng lai tiên cảnh, chứng tỏ tâm
hồn nghệ thuật phong phú của người Việt thời ấy.
27
Vua thường đến Hoan châu thăm thú tình hình dân chúng nên cho
xây tại đó một hành cung* và đổi tên Hoan châu thành Nghệ An. Từ
đấy danh xưng Nghệ An xuất hiện. Nhà vua cũng chú ý đến việc xây
cất phục vụ đời sống dân chúng. Ngài cho bắc cầu Thái Hòa ở sông Tô
Lịch, cất chợ Tây và chợ Trường Lan (1035), lại còn mở chợ ở phía
đông kinh thành. Hàng quán chen chúc sát tới bên đền Bạch Mã, tạo ra
một cảnh phồn thịnh chưa từng có.
Hành cung là ngôi điện dựng lên ở các địa phương để vua nghỉ ngơi khi
có dịp đi qua.
*
28
29
Quan tâm đến việc giao thông, năm 1042 nhà vua xuống chiếu cho
các lộ đặt trạm gác mỗi nơi, chia đường ra từng đoạn để việc liên lạc,
đi lại được dễ dàng. Vua lại cho đóng mấy trăm chiếc thuyền lớn, các
thuyền đều có trang trí hình rồng, phượng, cọp, cá, rắn và chim anh vũ
(1043). Ngoài ra còn cho chế tạo xe Thái bình, sơn son, thếp vàng, mui
lợp lụa, do voi kéo.
30
Để cai trị đất nước, vua có đông đảo quan lại tài giỏi giúp sức. Vua
đặt ra các cuộc sát hạch để chọn người có năng lực. Sau đó, nếu không
đủ, mới dùng đến con cái của các quan. Tuy nhiên, việc tuyển chọn vẫn
còn nhiều điều không hợp lý. Chẳng hạn như con cháu của thợ thuyền
hay con hát dù tài giỏi cũng không được sử dụng, trong khi người có
tiền thì được mua chức, hoặc hễ là thân thích của hoàng hậu là được
mang chức tước.
31
Vua phân loại các quan ra làm hai lĩnh vực: quan trong và quan
ngoài. Quan trong lo việc quản lý dân chúng với các chức vụ như Thái
sư, Thái phó, Thái bảo, Khu mật, Tả tham tri, Trung thư Thị lang, Hữu
tâm phúc. Thời đó có các quan nổi tiếng như Hữu tâm phúc Lý Nhân
Nghĩa, Thái sư Lương Nhiệm Văn, Thái phó Đinh Thượng Ngộ...
32
Quan ngoài thì phục trách về quân sự, binh
bị. Mỗi khi trong nước xảy ra chinh chiến,
các quan ngoài là người phải xông pha hòn
tên mũi đạn để giữ an cho đất nước. Chức Đô
thống là để gọi các quan ngoài. Nổi tiếng nhất
là Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng
Hiểu. Ông có sức mạnh phi thường, không
ai sánh kịp.
33
Để cai quản các vùng biên cương, vua
đặt ra chức Châu mục và cử những người
dân tộc tại chỗ giữ các chức ấy. Các quan
Châu mục cai trị những nơi xa xôi thường
hay có ý tự lập, muốn tách ra khỏi triều
đình trung ương, khiến cho nhà vua vẫn
thường phải cất quân đánh dẹp. Nhằm giữ
hòa bình, có khi vua phải đem con gái của
mình gả cho họ để tạo mối quan hệ thân
thiết. Năm Kỷ Tỵ (1029), vua gả công chúa
Bình Dương cho quan Châu mục châu Lạng
là Thân Thiệu Thái.
34
Năm 1036, công chúa Kim Thành lại được gả cho quan Châu
mục châu Phong là Lê Ninh Thuận, rồi sau đó đến lượt công chúa
Trường Ninh về làm vợ Tù trưởng Thượng Oai là Hà Thiện Khoan.
Những nàng công chúa cành vàng lá ngọc này, vì sự thanh bình của đất
nước, vì quyền uy của triều đại; đã phải hy sinh cảnh lầu son gác tía
nơi chốn cung đình, về sống nơi xa xôi, hẻo lánh. Sự hy sinh ấy ít người
biết đến, nhưng lại vô cùng quý giá vì đã giải trừ được nhiều cảnh chiến
tranh.
35
Với nhà Tống bên Trung Hoa, vua Lý Thái Tông giữ quan hệ thuận
thảo, cũng nhận tước phong là Nam Bình vương và thường cho sứ qua
thông hiếu. Có khi nhà vua cho đem một con voi đã dạy dỗ thuần thục
sang tặng vua Tống, vua Tống biết vua Lý sùng đạo Phật, gửi tặng lại
kinh Đại Tạng. Tuy vậy, để không có mâu thuẫn tại biên giới hai nước,
vua Lý Thái Tông cho tiến hành việc phân ranh, xác định đất nào là đất
Tống, đất nào là đất Việt.
36
Các nước láng giềng nhỏ như Chân Lạp, Ai Lao cũng thường xuyên
cho sứ thần đến thông hiếu và cống các sản vật địa phương. Để các sứ
thần có chỗ lưu trú và nghỉ ngơi sau các cuộc hành trình gian nan, vào
năm 1044, Lý Thái Tông cho xây sứ quán, gọi là trạm dịch Hoài Viễn,
ở Gia Lâm (Hà Nội ngày nay). Năm sau, vì nhu cầu ngày càng tăng
do việc đối ngoại phát triển, vua cho xây đến 7 trạm dịch. Sự chu đáo
trong tiếp xúc ngoại giao như thế làm cho sứ thần các nước rất kính nể.
37
Để dạy dân tôn trọng phép nước và đề phòng quan lại tham ô, cậy
quyền cậy thế hà hiếp dân lành, vua ra lệnh thành lập một ban biên
soạn luật pháp. Bộ luật đầu tiên của đất nước được viết ra dưới triều
Lý Thái Tông (1042), gọi là Hình Thư. Tiếc rằng, bộ luật này hiện nay
đã thất truyền, ta chỉ còn biết được một số điều của nó nhờ các sách sử
cũ khác nói đến.
38
Theo các sách ấy thì vua phân hình phạt ra nhiều loại, tội nào chịu
theo hình phạt ấy. Có điều lệ cấm không cho mua bán con trai làm nô
tỳ*. Ngoài ra, luật thời ấy còn cho phép những người già hay trẻ con
được chuộc tội bằng tiền khi phạm tội nặng. Đáng kể nhất là luật cấm
mổ trâu bò ăn thịt vì trâu bò là sức kéo trên đồng ruộng.
Từ nô tỳ lúc này là chỉ nô lệ cả trai và gái.
*
39
Để đánh dấu sự kiện nước ta có luật pháp, Lý Thái Tông đổi niên
hiệu* thành Minh Đạo (nghĩa là con đường sáng) và cho đúc tiền mới,
cũng gọi là tiền Minh Đạo. Bên cạnh bộ luật ấy, vua vẫn duy trì hai
lầu chuông kêu oan. Không những thế, vào năm 1053, vua lại cho đúc
thêm chuông kêu oan đặt ở Long Trì và truyền rằng hễ có người dân nào
đến đánh chuông ấy để bày tỏ, đích thân nhà vua sẽ đứng ra phân xử.
Các vua triều Lý nhân một sự kiện gì đó thường hay thay đổi niên
*
hiệu.
40
Nước đã có luật pháp, từ đấy chấm dứt lối cai trị tùy tiện, bất công.
Mọi người vô cùng hân hoan, an tâm sinh sống. Vua cũng đặt ra luật
lệ trong cung, định rõ ràng số phi, cung nữ, nhạc kỹ như sau: hậu và
phi 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người. Các cung nữ
cũng theo phẩm cấp để có tôn ti trật tự. Những cô gái trẻ
đẹp này không phải chỉ suốt ngày lo việc điểm trang
phấn son, sống nhàn rỗi trong cung cấm mà hết thảy
đều được học nghề dệt nghề thêu.
41
Sản phẩm của họ làm ra đẹp không
kém gì của Trung Hoa. Vua lập ra một
kho riêng để chứa số lụa gấm ấy, gọi là
“quyến khố ti” và trực tiếp trông coi.
Để quan lại và dân chúng hướng tới
việc dùng hàng hóa trong nước, ngài
quyết định không dùng gấm vóc nhà
Tống nữa nên ra lệnh đem hết gấm
Tống trong kho ra phát cho các quan
lại. Quan ngũ phẩm trở lên thì được
áo gấm, dưới ngũ phẩm được áo vóc.
42
Sau đó, trong triều đình, từ vua đến quan đều dùng lụa gấm do các
cung nữ hoặc dân chúng dệt. Nhờ vậy, nghề trồng dâu, dệt lụa trong
nước phát triển chưa từng có. Những nơi dệt lụa nổi tiếng của thời ấy
là làng Nghĩa Đô bên bờ sông Tô Lịch, làng Nghi Tàm bên cạnh Hồ
Tây (Hà Nội ngày nay).
43
44
Để khuyến khích nông dân lo việc đồng ruộng, hàng năm, vào đầu
vụ mùa, Lý Thái Tông vẫn đi làm lễ Tịch Điền*. Có năm, ruộng vua
cày cho giống lúa nở đến 9 bông làm ngài hết sức vui mừng. Ngoài ra,
vua thường đi về các làng quê xem nhân dân cày cấy, gặt hái, nhất là
vào những năm cả nước đều được mùa.
Tức là nhà vua cày một đường cày tượng trưng. Lễ này đã được hình
*
thành từ thời vua Lê Đại Hành với mục đích khuyến khích nông nghiệp.
45
Tuy thế, có những nịnh thần lại muốn can vua đừng làm lễ Tịch
Điền. Chẳng hạn vào năm 1038, nhà vua ngự ra Bố Hải Khẩu (huyện
Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình ngày nay) để làm lễ cày ruộng. Sau khi vua tế
Thần nông xong, đang cầm cày xuống ruộng định cày mấy đường thì
có quan can rằng:
- Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì phải làm thế!
46
47
Vua đáp:
- Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất
thiên hạ?
Thế rồi vua tiếp tục thúc trâu kéo cày cho đến khi mệt mới nghỉ.
Ngoài ra, vua còn lập xã đàn ở ngoài cửa Trường Quảng để làm nơi cầu
cúng thần Lúa bốn mùa (1048).
48
Tái bản lần thứ 4
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Đồ họa vi tính: Đặng Kim Ngân
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Xây đắp nhà Lý/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn; họa sĩ Nguyễn
Huy Khôi. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
112tr. ; 21cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.15).
1. Việt Nam - Lịch sử - Triều nhà Lý, 1009-1225-Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ
Quỳnh Trân. III. Ts. Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam - History - Lý Dynasty, 1009-1225 - Picture books.
959.7023 -- dc 22
X149
LỜI GIỚI THIỆU
Vua Lý Thái Tổ băng, nhà Lý gặp họa anh em tranh
đoạt vương quyền, cảnh thoán đoạt và nguy cơ đại loạn
trở thành họa cho việc suy vong. Nhưng vốn là người cơ
trí, uy dũng, tài năng, lại có tôi hiền là tướng Lê Phụng
Hiếu phù trợ, Thái tử Lý Phật Mã dẹp yên được cảnh
anh em chia cắt, nhanh chóng ổn định tình hình chính
trị, lên ngôi vua, tức vua Lý Thái Tông.
Trong suốt gần 30 năm trị vì, bên cạnh việc cai trị
sáng suốt, lại thông lục nghệ, tinh thao lược, gặp buổi
trong nước giặc giã nhiễu nhương vua Lý Thái Tông
không ít lần thân chinh cầm quân đánh dẹp phản loạn,
dùng đức thu phục lòng người, xóa bỏ nguy cơ chia cắt,
xâm lấn, giúp cho Đại Việt trở nên hùng mạnh.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 15
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Xây dựng nhà Lý”
phần lời do Tôn Nữ Quỳnh Trân biên soạn, phần hình
ảnh do họa sĩ Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 15
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Dựng nên nhà Lý là vua Lý Thái Tổ, phát triển mạnh
mẽ xã hội Việt Nam dưới thời Lý là Lý Thái Tông. Cả hai
vua ở trên ngôi 45 năm, thời gian đủ để thi thố các chính
sách bình trị đất nước. Người đời sau đánh giá: gần nửa
thế kỷ này cực kỳ quan trọng với lịch sử nước ta bởi nó tạo
lập những nền tảng quan trọng cho việc phát triển đất nước.
Vua sáng có tôi hiền, nhà Lý mở đầu theo chiều hướng
đó.
Tập này xin giới thiệu vị minh quân thứ hai của nhà Lý.
4
Vào mùa xuân năm Mậu Thìn (1028), sau 19 năm trị vì, đưa đất
nước đến chỗ ổn định và thanh bình, vua Lý Thái Tổ lâm bệnh nặng
rồi từ trần. Theo lệ cha truyền con nối, nhà vua đã chuẩn bị người kế
vị từ trước. Đó là Lý Phật Mã, người con trưởng, được phong làm Thái
tử vào năm 1012.
5
Lý Phật Mã còn có tên
húy nữa là Đức Chính, sinh
vào năm 1000 tại Hoa Lư, lúc
ấy Lý Công Uẩn còn đang làm
quan trong đội cấm quân của vua
Lê Đại Hành. Tương truyền
rằng vào lúc Lý Phật Mã
ra đời, tự dưng bao nhiêu
trâu bò trong phủ đều thay
sừng. Thấy thế, có nhà tiên
tri nói rằng: “Người này ắt
hẳn sẽ làm thiên tử”. Nhưng ai cũng
cho đó là lời xằng bậy chẳng đáng tin.
6
Từ khi được phong làm Thái tử, Lý Phật Mã không được ở tại chốn
cung điện tráng lệ, êm đềm trong vòng thành Thăng Long mà phải sống
ở ngoài thành, gần gũi và hiểu rõ dân chúng để sau này cai trị cho hợp
với lòng người. Chỗ ở của Thái tử được gọi là cung Long Đức, cũng
đơn sơ, giản dị như nhà của người trung lưu.
7
Mỗi khi trong nước có loạn lạc, Thái tử phải trèo đèo, lội suối, chịu
đựng gian khổ, cầm quân đánh dẹp và lập nên được nhiều chiến công.
Nhờ được rèn luyện như thế, Thái tử Phật Mã trở thành một trang nam
tử thông tuệ, uy dũng. Dân chúng và triều thần đều kính phục.
8
Ngoài Lý Phật Mã, vua Lý Thái Tổ còn có bốn người con trai là Dực
Thánh vương, Đông Chính vương, Võ Đức vương, Khai Quốc vương.
Các hoàng tử này ai cũng nuôi mộng làm vua. Vì vậy, khi vua cha mới
băng hà, họ lợi dụng việc Thái tử phải ở ngoài thành nên ngấm ngầm
liên kết cùng nhau, chuẩn bị ngăn chặn Lý Phật Mã lên ngôi.
9
Linh cữu vua Lý Thái Tổ đặt ở điện Long An, triều thần theo di
chiếu tới cung Long Đức mời Thái tử đến để tuyên chiếu truyền ngôi.
Đoán trước việc đó, hoàng tử Võ Đức vương, Dực Thánh vương và
Đông Chính vương đem quân cả ba phủ tập kích ở cổng thành. Vì thế,
lúc Thái tử cùng các tướng tâm phúc là Lý Nhân Nghĩa, Lê Phụng Hiểu
đến cửa thì bị cản không vào được.
10
Trước tình cảnh ấy, Thái tử than:
- Ta không làm điều gì phụ lòng anh em mà sao ba vương lại làm
điều bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế (tức là vua Lý Thái Tổ). Các
khanh nghĩ thế nào?
Lý Nhân Nghĩa tâu:
- Anh em thì phải hòa hiệp, nay ba vương làm phản liệu có còn là
anh em không? Ta phải bỏ tình riêng mà nghĩ đến nghĩa công. Tôi xin
ra quyết chiến một trận.
11
Thái tử bảo:
- Ta lấy làm xấu hổ. Tiên đế
vừa mất chưa chôn cất mà anh
em ruột thịt đã giết hại lẫn nhau. Há
chẳng để cho đời sau chê cười sao?
Lý Nhân Nghĩa tâu:
- Tiên đế thấy Điện hạ là người đủ đức tài để
nối nghiệp nên đã đem cả thiên hạ phó thác cho.
Nay giặc đến cửa cung mà không quyết thì thật là
phụ lòng Tiên đế.
12
Thái tử vẫn chần chừ:
- Ta muốn che giấu tội của ba vương khiến họ
tự ý rút quân về để trọn tình anh em.
Nhưng ngay lúc ấy, tình hình hết sức nguy cấp. Ba
hoàng tử thúc quân đánh gấp. Lý Phật Mã không còn lần
chần được nữa, đành phải quyết định:
- Tình thế đã đến như thế này thì ta giao thác hết cho các
ngươi. Còn ta, ta sẽ đến chầu bên linh cữu Tiên đế mà thôi.
13
Lý Nhân Nghĩa cùng Lê Phụng Hiểu đồng thanh trả lời:
- Chúng tôi xin hết lòng.
Rồi cả hai tả xung hữu đột giữa đám phản loạn. Lê Phụng Hiểu chỉ
vào Võ Đức vương thét lớn:
- Các người dòm ngó ngôi cao, khinh rẻ Thái tử; trên quên ơn Tiên
đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này.
14
Với sức mạnh phi thường, ánh gươm của Phụng Hiểu chỉ vừa loáng
lên là Võ Đức vương đã gục chết dưới chân ngựa trong chớp mắt. Quân
ba phủ tan vỡ. Hai hoàng tử còn lại hốt hoảng bỏ chạy, Phụng Hiểu vội
cùng Lý Nhân Nghĩa đi thẳng đến trước linh cữu Lý Thái Tổ
bẩm báo. Thái tử vô cùng cảm động, úy lạo:
- Các ông thật là trung thành còn Phụng Hiểu thật là uy
dũng.
15
Thái tử Phật Mã lên ngôi (1028), tức Lý Thái Tông*, đổi niên hiệu
là Thiên Thành. Nhà vua là người nhân từ, liền ra lệnh đại xá kẻ tù tội.
Vua cũng thường miễn thuế cho dân chúng mỗi khi trong nước gặp nạn
mất mùa hoặc chiến tranh, loạn lạc. Hai hoàng tử đã từng nổi loạn về
xin tha tội cũng được vua bỏ qua và phục lại chức tước như cũ.
Có sách gọi là Tôn.
*
16
Nhưng hoàng tử thứ tư là Khai Quốc vương lại chiếm Trường Yên
(Hoa Lư) làm căn cứ, buộc nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp. Vốn
là người từng quen trận mạc, chẳng mấy chốc, nhà vua vây khốn thành
Hoa Lư. Thấy không chống cự nổi, Khai Quốc vương đầu hàng. Nhà
vua xuống chiếu tha tội cho em. Trước tấm lòng cao cả ấy, mấy người
em cảm động, từ đó hết lòng giúp đỡ anh trong việc trị nước, dẹp loạn.
17
Tuy sẵn sàng tha thứ cho các em, nhưng nhà vua vẫn không quên
giáo dục họ cùng các quan lại biết tôn trọng lòng trung nghĩa. Một hôm,
vua kể rằng, vào đêm trước khi ba vương nổi loạn, thần Đồng Cổ đã
báo mộng cho biết trước, nhờ thế ngài để phòng sẵn nên không bị hại.
Đồng Cổ có nghĩa là trống đồng. Người Việt vốn tôn sùng trống đồng
từ thời mới dựng nước nên đã thần linh hóa trống đồng, gán cho trống
đồng là một vị thần, gọi là thần Đồng Cổ.
18
Tục truyền rằng núi Khả Phong ở Thanh Hóa là nơi ngự trị của thần
Đồng Cổ. Thần rất linh thiêng, đã từng giúp vua Lý Thái Tổ dẹp yên
nhiều cuộc nổi loạn. Nay lấy cớ trả ơn thần đã báo mộng, nhà vua sắc
phong cho thần Đồng Cổ tước vương và cho dựng đền thờ ở trong kinh
thành, phía sau chùa Thánh Thọ, rồi làm lễ rước thần từ núi Khả Phong
về Thăng Long.
19
Xong xuôi, nhà vua cho tiến hành lễ thề ở đấy. Lễ thề được cử hành
rất trang nghiêm. Đàn cao được dựng lên trong đền Đồng Cổ, cờ xí đủ
màu rực rỡ cắm trên đàn, còn gươm giáo thì treo trước thần vị. Quần
thần, hoàng tử, áo mũ chỉnh tề, từ cửa phía đông đi vào đền, đến quỳ
trước đài, cùng uống máu và đọc lời thề: “Làm con phải hiếu, làm
tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin thần minh trị tội”.
20
21
Từ đó hàng năm, vào ngày 4 tháng 4 âm lịch, lễ thề ở đền Đồng Cổ
được tiến hành đều đặn. Không một ai được quyền vắng mặt. Ai trốn
dự lễ sẽ bị phạt 50 trượng. Việc làm này cũng góp phần ổn định trật tự
trong triều đình cũng như trong hoàng gia. Ai nấy lo làm phận sự của
mình, không dám có ý tiếm đoạt, sợ thần Đồng Cổ quở phạt.
22
Tục truyền rằng lên ngôi vua được chừng một năm, một hôm, vua
chợt thấy rồng xuất hiện ở điện Càn Nguyên. Điện Càn Nguyên vốn
là nơi coi chầu của vua Lý Thái Tổ và đã bị bỏ phế vì sét
đánh hỏng vào năm 1017. Cho rằng rồng xuất hiện
là điềm tốt, nhà vua ra lệnh trùng tu và mở
rộng điện, đổi tên là Thiên An. Phía trái còn
dựng thêm điện Tuyên Đức, phía phải
xây thêm điện Diên Phúc. Trước điện
Thiên An là thềm Rồng (Long Trì),
phía đông thềm Rồng có điện Văn
Minh, phía tây có điện Quảng Võ.
23
24
Nhà vua còn cho xây hai lầu chuông đối nhau hai bên thềm Rồng
để dân có việc đến kêu oan. Xung quanh thềm Rồng có hành lang để
quan lại hội họp và quân lính canh gác. Đằng trước thềm Rồng làm thêm
điện Phụng Thiên, trên điện xây lầu Chánh Dương để làm nơi xem giờ
khắc. Ngoài ra ở phía sau còn có điện Trường Xuân với gác Long Đồ
dùng làm chỗ nghỉ ngơi, ngắm cảnh cho nhà vua sau những buổi lâm
triều căng thẳng.
25
Năm sau (1030), vua lại cho dựng điện Thiên Khánh, cất thêm lầu
Phượng Hoàng. Điện Thiên Khánh là nơi vua lâm triều làm việc với
các quan. Đất nước càng ngày càng hưng thịnh, vua lại cho mở ba khu
vườn Quỳnh Lâm, Thắng Cảnh, Xuân Quang (1048). Rồi để tô điểm
cho cảnh quan thêm phong phú, vào năm 1050, vua lại cho đào hồ bán
nguyệt Thụy Thanh và ao Ứng Minh tại vườn Thắng Cảnh.
26
Một lần vào năm 1049, thợ đang đào hồ tại vườn Thượng Uyển thì
bỗng nhiên một khối vàng sáng chói trồi lên. Khối vàng nặng đến 50
lượng. Hân hoan trước việc lạ, nhà vua đặt tên cho hồ là Kim Minh Vạn
Tuế (vàng sáng vạn năm). Để cho hồ thêm sinh động, nghệ nhân lại xây
ba chỏm núi đá ở trên rồi bắc một chiếc cầu uốn lượn qua, gọi là cầu
Vũ Phượng, trông chẳng khác gì chốn bồng lai tiên cảnh, chứng tỏ tâm
hồn nghệ thuật phong phú của người Việt thời ấy.
27
Vua thường đến Hoan châu thăm thú tình hình dân chúng nên cho
xây tại đó một hành cung* và đổi tên Hoan châu thành Nghệ An. Từ
đấy danh xưng Nghệ An xuất hiện. Nhà vua cũng chú ý đến việc xây
cất phục vụ đời sống dân chúng. Ngài cho bắc cầu Thái Hòa ở sông Tô
Lịch, cất chợ Tây và chợ Trường Lan (1035), lại còn mở chợ ở phía
đông kinh thành. Hàng quán chen chúc sát tới bên đền Bạch Mã, tạo ra
một cảnh phồn thịnh chưa từng có.
Hành cung là ngôi điện dựng lên ở các địa phương để vua nghỉ ngơi khi
có dịp đi qua.
*
28
29
Quan tâm đến việc giao thông, năm 1042 nhà vua xuống chiếu cho
các lộ đặt trạm gác mỗi nơi, chia đường ra từng đoạn để việc liên lạc,
đi lại được dễ dàng. Vua lại cho đóng mấy trăm chiếc thuyền lớn, các
thuyền đều có trang trí hình rồng, phượng, cọp, cá, rắn và chim anh vũ
(1043). Ngoài ra còn cho chế tạo xe Thái bình, sơn son, thếp vàng, mui
lợp lụa, do voi kéo.
30
Để cai trị đất nước, vua có đông đảo quan lại tài giỏi giúp sức. Vua
đặt ra các cuộc sát hạch để chọn người có năng lực. Sau đó, nếu không
đủ, mới dùng đến con cái của các quan. Tuy nhiên, việc tuyển chọn vẫn
còn nhiều điều không hợp lý. Chẳng hạn như con cháu của thợ thuyền
hay con hát dù tài giỏi cũng không được sử dụng, trong khi người có
tiền thì được mua chức, hoặc hễ là thân thích của hoàng hậu là được
mang chức tước.
31
Vua phân loại các quan ra làm hai lĩnh vực: quan trong và quan
ngoài. Quan trong lo việc quản lý dân chúng với các chức vụ như Thái
sư, Thái phó, Thái bảo, Khu mật, Tả tham tri, Trung thư Thị lang, Hữu
tâm phúc. Thời đó có các quan nổi tiếng như Hữu tâm phúc Lý Nhân
Nghĩa, Thái sư Lương Nhiệm Văn, Thái phó Đinh Thượng Ngộ...
32
Quan ngoài thì phục trách về quân sự, binh
bị. Mỗi khi trong nước xảy ra chinh chiến,
các quan ngoài là người phải xông pha hòn
tên mũi đạn để giữ an cho đất nước. Chức Đô
thống là để gọi các quan ngoài. Nổi tiếng nhất
là Đô thống Thượng tướng quân Lê Phụng
Hiểu. Ông có sức mạnh phi thường, không
ai sánh kịp.
33
Để cai quản các vùng biên cương, vua
đặt ra chức Châu mục và cử những người
dân tộc tại chỗ giữ các chức ấy. Các quan
Châu mục cai trị những nơi xa xôi thường
hay có ý tự lập, muốn tách ra khỏi triều
đình trung ương, khiến cho nhà vua vẫn
thường phải cất quân đánh dẹp. Nhằm giữ
hòa bình, có khi vua phải đem con gái của
mình gả cho họ để tạo mối quan hệ thân
thiết. Năm Kỷ Tỵ (1029), vua gả công chúa
Bình Dương cho quan Châu mục châu Lạng
là Thân Thiệu Thái.
34
Năm 1036, công chúa Kim Thành lại được gả cho quan Châu
mục châu Phong là Lê Ninh Thuận, rồi sau đó đến lượt công chúa
Trường Ninh về làm vợ Tù trưởng Thượng Oai là Hà Thiện Khoan.
Những nàng công chúa cành vàng lá ngọc này, vì sự thanh bình của đất
nước, vì quyền uy của triều đại; đã phải hy sinh cảnh lầu son gác tía
nơi chốn cung đình, về sống nơi xa xôi, hẻo lánh. Sự hy sinh ấy ít người
biết đến, nhưng lại vô cùng quý giá vì đã giải trừ được nhiều cảnh chiến
tranh.
35
Với nhà Tống bên Trung Hoa, vua Lý Thái Tông giữ quan hệ thuận
thảo, cũng nhận tước phong là Nam Bình vương và thường cho sứ qua
thông hiếu. Có khi nhà vua cho đem một con voi đã dạy dỗ thuần thục
sang tặng vua Tống, vua Tống biết vua Lý sùng đạo Phật, gửi tặng lại
kinh Đại Tạng. Tuy vậy, để không có mâu thuẫn tại biên giới hai nước,
vua Lý Thái Tông cho tiến hành việc phân ranh, xác định đất nào là đất
Tống, đất nào là đất Việt.
36
Các nước láng giềng nhỏ như Chân Lạp, Ai Lao cũng thường xuyên
cho sứ thần đến thông hiếu và cống các sản vật địa phương. Để các sứ
thần có chỗ lưu trú và nghỉ ngơi sau các cuộc hành trình gian nan, vào
năm 1044, Lý Thái Tông cho xây sứ quán, gọi là trạm dịch Hoài Viễn,
ở Gia Lâm (Hà Nội ngày nay). Năm sau, vì nhu cầu ngày càng tăng
do việc đối ngoại phát triển, vua cho xây đến 7 trạm dịch. Sự chu đáo
trong tiếp xúc ngoại giao như thế làm cho sứ thần các nước rất kính nể.
37
Để dạy dân tôn trọng phép nước và đề phòng quan lại tham ô, cậy
quyền cậy thế hà hiếp dân lành, vua ra lệnh thành lập một ban biên
soạn luật pháp. Bộ luật đầu tiên của đất nước được viết ra dưới triều
Lý Thái Tông (1042), gọi là Hình Thư. Tiếc rằng, bộ luật này hiện nay
đã thất truyền, ta chỉ còn biết được một số điều của nó nhờ các sách sử
cũ khác nói đến.
38
Theo các sách ấy thì vua phân hình phạt ra nhiều loại, tội nào chịu
theo hình phạt ấy. Có điều lệ cấm không cho mua bán con trai làm nô
tỳ*. Ngoài ra, luật thời ấy còn cho phép những người già hay trẻ con
được chuộc tội bằng tiền khi phạm tội nặng. Đáng kể nhất là luật cấm
mổ trâu bò ăn thịt vì trâu bò là sức kéo trên đồng ruộng.
Từ nô tỳ lúc này là chỉ nô lệ cả trai và gái.
*
39
Để đánh dấu sự kiện nước ta có luật pháp, Lý Thái Tông đổi niên
hiệu* thành Minh Đạo (nghĩa là con đường sáng) và cho đúc tiền mới,
cũng gọi là tiền Minh Đạo. Bên cạnh bộ luật ấy, vua vẫn duy trì hai
lầu chuông kêu oan. Không những thế, vào năm 1053, vua lại cho đúc
thêm chuông kêu oan đặt ở Long Trì và truyền rằng hễ có người dân nào
đến đánh chuông ấy để bày tỏ, đích thân nhà vua sẽ đứng ra phân xử.
Các vua triều Lý nhân một sự kiện gì đó thường hay thay đổi niên
*
hiệu.
40
Nước đã có luật pháp, từ đấy chấm dứt lối cai trị tùy tiện, bất công.
Mọi người vô cùng hân hoan, an tâm sinh sống. Vua cũng đặt ra luật
lệ trong cung, định rõ ràng số phi, cung nữ, nhạc kỹ như sau: hậu và
phi 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người. Các cung nữ
cũng theo phẩm cấp để có tôn ti trật tự. Những cô gái trẻ
đẹp này không phải chỉ suốt ngày lo việc điểm trang
phấn son, sống nhàn rỗi trong cung cấm mà hết thảy
đều được học nghề dệt nghề thêu.
41
Sản phẩm của họ làm ra đẹp không
kém gì của Trung Hoa. Vua lập ra một
kho riêng để chứa số lụa gấm ấy, gọi là
“quyến khố ti” và trực tiếp trông coi.
Để quan lại và dân chúng hướng tới
việc dùng hàng hóa trong nước, ngài
quyết định không dùng gấm vóc nhà
Tống nữa nên ra lệnh đem hết gấm
Tống trong kho ra phát cho các quan
lại. Quan ngũ phẩm trở lên thì được
áo gấm, dưới ngũ phẩm được áo vóc.
42
Sau đó, trong triều đình, từ vua đến quan đều dùng lụa gấm do các
cung nữ hoặc dân chúng dệt. Nhờ vậy, nghề trồng dâu, dệt lụa trong
nước phát triển chưa từng có. Những nơi dệt lụa nổi tiếng của thời ấy
là làng Nghĩa Đô bên bờ sông Tô Lịch, làng Nghi Tàm bên cạnh Hồ
Tây (Hà Nội ngày nay).
43
44
Để khuyến khích nông dân lo việc đồng ruộng, hàng năm, vào đầu
vụ mùa, Lý Thái Tông vẫn đi làm lễ Tịch Điền*. Có năm, ruộng vua
cày cho giống lúa nở đến 9 bông làm ngài hết sức vui mừng. Ngoài ra,
vua thường đi về các làng quê xem nhân dân cày cấy, gặt hái, nhất là
vào những năm cả nước đều được mùa.
Tức là nhà vua cày một đường cày tượng trưng. Lễ này đã được hình
*
thành từ thời vua Lê Đại Hành với mục đích khuyến khích nông nghiệp.
45
Tuy thế, có những nịnh thần lại muốn can vua đừng làm lễ Tịch
Điền. Chẳng hạn vào năm 1038, nhà vua ngự ra Bố Hải Khẩu (huyện
Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình ngày nay) để làm lễ cày ruộng. Sau khi vua tế
Thần nông xong, đang cầm cày xuống ruộng định cày mấy đường thì
có quan can rằng:
- Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì phải làm thế!
46
47
Vua đáp:
- Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất
thiên hạ?
Thế rồi vua tiếp tục thúc trâu kéo cày cho đến khi mệt mới nghỉ.
Ngoài ra, vua còn lập xã đàn ở ngoài cửa Trường Quảng để làm nơi cầu
cúng thần Lúa bốn mùa (1048).
48
 





