Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
Lịch sử Việt Nam bằng tranh 32- Gian nan lúc khởi đầu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:50' 17-11-2024
Dung lượng: 6.2 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:50' 17-11-2024
Dung lượng: 6.2 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ năm
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Gian nan lúc khởi đầu / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Quang
Cảnh. - Tái bản lần thứ 5. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
88 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.32).
1. Việt Nam — Lịch sử — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt
Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Pictorial works.
959.7 — dc 22
G433
LỜI GIỚI THIỆU
Mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi xưng là Bình
Định vương cùng các hào kiệt phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn,
kêu gọi nhân dân đồng lòng chung sức, đứng lên chống
quân xâm lược, cứu nước.
Ở buổi đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn thường
phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng nghĩa quân Lam
Sơn vẫn giữ vững niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng
của cuộc khởi nghĩa. Những khó khăn, vất vả ấy đã được
Nguyễn Trãi ghi lại trong Bình Ngô đại cáo bằng những
câu thơ vô cùng súc tích ngắn gọn:
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh…
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu…
Những khó khăn trong buổi đầu khởi nghĩa ấy như thế
nào? Nội dung này sẽ được truyền tải trong tập 32 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Gian nan lúc khởi đầu”
phần lời do Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh
do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 32 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Thời kì hoạt động ở núi rừng Thanh Hóa là giai đoạn khó
khăn nhất của khởi nghĩa Lam Sơn, vừa chống giặc Minh,
vừa chống Ai Lao.
Đối mặt với sự vây khốn kẻ thù, nghĩa quân đã bao lần
lâm vào tình trạng hiểm nghèo: ba lần rút chạy lên núi Chí
Linh, thiếu quân lương, binh sĩ hao hụt, quân tâm lung lay,
lòng người bất ổn,... Dù vậy, nghĩa quân vẫn giương cao
ngọn cờ kháng chiến, tin vào thắng lợi của tương lai.
4
Ngày mồng hai tết Mậu Tuất, tức ngày 7 tháng 2 năm 1418,
tại quê nhà Lam Sơn, Lê Lợi long trọng tổ chức lễ tế cờ trước lúc
xuất quân. Đó là ngày trọng đại của Lam Sơn, cũng là ngày trọng
đại của dân tộc, trong sự nghiệp chiến đấu nhằm lật nhào ách đô
hộ của giặc Minh. Ngày hôm đó, trước sự hồ hởi của dân chúng
trong vùng, tất cả hào kiệt và nghĩa binh Lam Sơn đều có mặt.
5
6
Bấy giờ Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương (vua dẹp loạn),
dưới trướng có tất cả 35 quan võ cùng một số ít quan văn. Lực
lượng chiến đấu của Lê Lợi gồm có: 14 con voi, 200 con ngựa,
200 dũng sĩ, 200 nghĩa sĩ và khoảng 2000 quân sĩ khác. Lực lượng
ấy quá bé nhỏ; nhưng tinh thần chiến đấu rất ngoan cường, không
dễ gì có thể đàn áp được.
7
Mục tiêu đầu tiên của Lam Sơn là đập tan toàn bộ hệ
thống chính quyền của quân Minh ở vùng rừng núi phía
tây tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Bọn Việt gian cam lòng
làm tay sai cho giặc lập tức bị trừng trị. Một hệ thống
chính quyền mới của nghĩa quân bắt đầu được thành lập.
Sự kiện quan trọng này đã gây được tiếng vang rất lớn
và tạo được niềm phấn khởi trong nhân dân địa phương.
8
Ngày mồng chín tháng giêng năm Mậu Tuất, tức ngày 14 tháng
2 năm 1418, cuộc đàn áp quy mô lớn đầu tiên của quân Minh bắt
đầu. Từ thành Tây Đô, lực lượng giặc do Đô đốc Chu Quảng cầm
đầu, đánh thẳng vào Lam Sơn. Một cuộc giao chiến ác liệt đã xảy
ra. Nghĩa quân Lam Sơn tuy chiến đấu anh dũng nhưng do lực
lượng yếu lại thiếu kinh nghiệm trận mạc nên không thể địch nổi.
Để bảo toàn lực lượng, Lê Lợi phải cho rút lui về Mường Một(*).
* Xưa thuộc châu Lang Chánh, nay thuộc vùng Bất Một, huyện Thường Xuân,
tỉnh Thanh Hóa.
9
Bốn ngày sau, quân Minh lại dốc
lực lượng tiến đánh Mường Một. Trước
tình thế bất lợi, nghĩa quân Lam Sơn
lại buộc phải lui về Lạc Thủy. Địa
điểm này nằm ở thượng nguồn sông
Chu, phía trên Lam Sơn, nơi có địa
hình thuận tiện để có thể bố trí đánh
mai phục.
10
Giặc tức tối xua quân lập tức đánh vào Lạc Thủy. Nhưng không
may cho chúng, tại đây, Lê Lợi đã nhanh chóng bố trí trận đồ mai
phục chờ đợi sẵn. Các tướng Lê Thạch, Đinh Bồ, Lê Ngân và
Nguyễn Lý được giao trách nhiệm chỉ huy trận đánh này. Giặc bị
đại bại, buộc phải tháo chạy khỏi Lạc Thủy.
11
Theo sự chỉ dẫn của hai tên Việt gian là Đỗ Phú và Ái (chưa
rõ họ, cả hai đều là người Thanh Hóa), quân Minh liền đến xứ
Phật Hoàng khai quật mộ của thân phụ Lê Lợi, lấy đi tiểu đựng
hài cốt vừa cải táng, hòng làm lung lạc tinh thần của Lê Lợi và
nghĩa quân. Chúng cũng muốn nhân đó để đánh tan niềm tin của
nhân dân địa phương về ngôi huyệt đại phát của dòng họ Lê Lợi.
12
Vì lòng hiếu thảo và cũng muốn giữ vững niềm tin cho quân
sĩ và dân chúng trong vùng, Lê Lợi quyết tâm tổ chức một trận
đánh bất ngờ để giành lại hài cốt của thân phụ. Trịnh Khả và Bùi
Bị được giao phó việc này. Hai ông nói: “Trận này chỉ cần hai
người là đủ, không phải dùng đến quân sĩ, xin Bình Định vương
chớ bận tâm”.
13
Bấy giờ, giặc để tiểu đựng hài cốt của thân phụ Lê Lợi trên
một chiếc thuyền neo ở giữa sông, cho lính canh phòng cẩn mật
và tuyên bố rằng nếu Lê Lợi ra hàng thì sẽ trả lại. Trịnh Khả và
Bùi Bị chờ lúc đêm khuya, giặc trên thuyền gật gà ngủ, đội cỏ lội
sông áp tới gần, bí mật lấy tiểu đựng hài cốt đem về. Lê Lợi mừng
lắm, vội trọng thưởng cho hai người và đem hài cốt của thân phụ
chôn vào chỗ cũ.
14
Mưu trả thù hèn mạt không thành, giặc liền tổ
chức đánh úp vào Lam Sơn lần thứ hai. Một lần
nữa, tên Ái nhận làm kẻ dẫn đường cho giặc Minh.
Trận này, vì quá bất ngờ, lực lượng Lam Sơn bị
tổn thất rất lớn. Vợ con và nhiều người trong gia
thuộc của Lê Lợi bị giặc bắt. Còn nghĩa quân Lam
Sơn thì bị giết hại với một số lượng không nhỏ.
15
Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, các tướng như Đinh Lễ,
Phạm Vấn, Bùi Bị, Lê Đạt và Nguyễn Xí đã anh dũng mở đường
máu, tạo điều kiện cho Lê Lợi và các thủ lãnh khác của Lam Sơn
tạm lánh lên núi Chí Linh (tức Linh Sơn, một ngọn núi cao ở trên
thượng nguồn sông Chu). Sau đó, các toán quân của Lê Lợi cũng
lần lượt tìm về tề tựu ở đấy.
16
Giặc biết rất rõ nơi trú ẩn của Lê Lợi và nghĩa sĩ Lam
Sơn nhưng chúng không sao tổ chức tấn công tiêu diệt
được, bởi vì núi Chí Linh khá hiểm trở. Trong bài Chí
Linh sơn phú, Nguyễn Mộng Tuân, người đỗ Thái Học
sinh cùng khoa với Nguyễn Trãi, sau này đã mô tả:
“Ngàn trượng đá cao, đó là thành trì vững chãi,
Lưng trời vách đứng, đó là trăm cửa ải gian nan”.
17
Không thể đánh lên Linh Sơn, giặc tập trung lực
lượng để bao vây, quyết chặt đứt mọi đường tiếp tế
lương thực và thực phẩm của nghĩa quân Lam Sơn.
Đói khát, giá lạnh và bệnh tật hoành hành suốt hai
tháng trời. Lê Lợi phải giết ngựa của mình cứu đói
nhất thời cho quân sĩ. Nghĩa quân Lam Sơn phải hái
lá rừng, đào củ rừng để ăn cho qua ngày đoạn tháng.
18
Tương truyền sau lần giết ngựa của mình cứu đói cho quân sĩ,
Lê Lợi đang xuống núi xem xét tình hình bất ngờ đụng giặc và bị
chúng truy đuổi rất gấp. Ông định băng qua một bìa rừng để lẩn
trốn vào núi. Nơi ấy có mấy thửa ruộng nhỏ, nằm sát một dòng
suối con con. Bấy giờ có hai vợ chồng bác nông phu già đang
khom lưng tát cá.
19
Thấy điệu bộ vội vã của kẻ chạy
qua, lại nghe có tiếng hò hét rất gần,
vợ chồng bác nông phu biết ngay đó
là người của nghĩa quân Lam Sơn
đang bị giặc đuổi. Bác nông phu
bảo: “Cởi quần áo ngoài rồi xuống
mà tát cá, chạy nữa không kịp đâu”.
Lê Lợi lập tức làm theo. Bác liền
đem dấu quần áo và thanh gươm của
Lê Lợi vào một nơi kín đáo rồi quay
lại suối. Vừa lúc đó, quân Minh cưỡi
ngựa ập tới.
20
Chỉ mặt ba người, chúng quát hỏi: “Có thấy tên phản nghịch
Lê Lợi chạy qua đây không?”. Bác nông phu bảo: “Lê Lợi thì
không biết nhưng có thấy một người đeo gươm mặc áo thụng vừa
đi qua”. Lê Lợi tưởng bác nông phu bán đứng mình, liếc ra xung
quanh chuẩn bị tìm đường chạy. Biết ý, bác liền quát: “Thằng kia,
sức dài vai rộng mà cứ biếng nhác, muốn ăn đòn không hả?”. Rồi
quay lại phía quân Minh, bác đưa tay chỉ về phía cuối rừng:
“Ông ta chạy theo lối kia kìa”.
21
Quân Minh vội vàng thúc ngựa đuổi theo hướng bác nông phu
vừa chỉ. Khi chúng đã chạy xa, hai vợ chồng bác nông phu già
liền đến sụp lạy Lê Lợi mà thưa rằng: “Già này cứ tưởng là lính
Lam Sơn, chẳng dè lại gặp Bình Định vương, vì muốn cứu mạng
nên trót lỡ lời, xin Bình Định vương tha tội”. Nói xong, vợ chồng
bác nông phu xin được rước Lê Lợi về nhà tạm nghỉ trước khi tìm
đường về với nghĩa quân.
22
Được Bình Định vương ghé đến túp lều của mình, vợ chồng bác
nông phu vô cùng mừng rỡ, vội làm cơm thết đãi. Nhưng ngoài
mấy con cá nhỏ vừa bắt được, trong nhà chẳng còn gì khác. Họ
bối rối mãi mới chợt nhớ trong nhà còn có một con khỉ. Vì già cả
lại không con, họ đã nuôi nó để sớm tối ra vào cho đỡ hiu quạnh.
Nay không còn cách nào khác, họ đành làm thịt nó.
23
Lê Lợi không bao giờ quên món canh thịt khỉ được ăn hôm
ấy bởi tấm lòng của hai vợ chồng bác nông phu thật là đáng quý.
Trong lúc nghĩa quân Lam Sơn đang phải chiến đấu gian khổ với
kẻ thù, với đói rét, bệnh tật, nguy cơ tuyệt diệt chỉ còn trong gang
tấc thì nghĩa tình của dân chúng như đôi vợ chồng này khiến Lê
Lợi cảm thấy vững tin vào sự nghiệp của mình.
24
Sau này, khi đã lên ngôi hoàng đế, Lê Lợi sai người tìm về bìa
rừng xưa dưới chân núi Chí Linh, nhưng vợ chồng bác nông phu
đã mất hay phiêu bạt đi đâu không ai biết nữa. Ngài bèn cho lập
miếu thờ ở kinh thành, vì không biết tên của họ nên gọi làm miếu
Ông Hầu, Bà Hầu để tưởng nhớ hai ông bà đã làm món canh thịt
khỉ ngày ấy.
25
Sau hai tháng bị tuyệt lương, lực
lượng Lam Sơn bị hao mòn ngày càng
nhiều. Và có một số người không chịu
nổi gian nan đã bỏ Linh Sơn để trở về
quê quán. Nhưng cũng sau hai tháng,
quân Minh quá mệt mỏi với việc bao
vây, nên chán nản rút lui. Lê Lợi lại
cùng với quân sĩ trở về Lam Sơn, đắp
thành, xây lũy và tích trữ lương thực
để chuẩn bị cho những trận đánh mới.
26
Khi trở về Lam Sơn, Lê Lợi chỉ còn hơn một trăm quân sĩ. Phải
nhiều ngày sau, tàn binh các nơi mới lục tục kéo về, nhưng tổng
cộng cũng chỉ độ vài trăm. Tất cả được lệnh sản xuất và thu mua
lương thực rồi đem cất dấu vào những nơi bí mật để phòng bị bao
vây và tuyệt lương như lần trước. Dần dần, lực lượng đã được củng
cố, tinh thần của quân sĩ cũng hăng hái hẳn lên.
27
Để khích lệ quân sĩ và nhân dân, Lê Lợi quyết định tổ chức
một trận đánh thật bất ngờ. Hầu hết quân Lam Sơn được bố trí
mai phục ở hai bên vách núi lối vào Mường Một, còn một bộ phận
nhỏ thì đi khiêu chiến, vờ thua bỏ chạy. Giặc chủ quan đuổi theo,
không chú ý đến con đường hẹp giữa hai vách núi. Bất ngờ, một
trận mưa tên thuốc độc tuôn xuống tiêu diệt rất nhiều quân giặc.
28
Thừa thắng, Lê Lợi hạ lệnh cho nghĩa quân tiếp tục tấn công
vào Mường Nanh, một vị trí của giặc ở gần Mường Một. Giặc
hốt hoảng rút lui về Nga Lạc Thượng và cố thủ ở đấy để chờ viện
binh. Lê Lợi lập tức cho đánh vào một số vị trí khác ở gần Nga
Lạc Thượng như Hà Đả, Mỹ Canh. Ở Mỹ Canh, tên ngụy quan là
Nguyễn Sao bị chém đầu tại trận, hơn một ngàn tên giặc bị giết.
29
Sau các trận Mường Một, Mường Nanh và Mỹ
Canh, tinh thần của nghĩa quân lên rất cao. Trai
tráng nhiều nơi lại nô nức kéo về Lam Sơn tụ nghĩa.
Bị thất bại bất ngờ, quân Minh vô cùng tức tối.
Chúng tập trung lực lượng đánh trả thù. Một cuộc
đàn áp quy mô được nhanh chóng tổ chức. Mục
tiêu của giặc là bóp nát toàn bộ lực lượng của Lê
Lợi ở ngay Lam Sơn.
30
Nghĩa quân Lam Sơn đã chống trả rất quyết liệt, bám chặt
thành lũy của mình để chống cự, nhưng do lực lượng quá ít, họ
không sao địch nổi quân Minh. Trước tình thế khó khăn ấy, Lê
Lợi quyết định rút hết lực lượng lên Linh Sơn lần thứ hai. Lần
này, tuy quân lương không quá thiếu thốn như lần trước, nhưng
vòng vây của quân giặc thì chặt chẽ và nguy hiểm hơn. Chúng
lập trại san sát dưới chân núi quyết không để người nào đi lọt và
liên tục đột kích lên núi.
31
Không thể ngồi chờ quân giặc tiêu diệt dần lực lượng của mình,
một hội nghị quan trọng đã được tổ chức tại Linh Sơn. Sau khi
bàn bạc và đưa ra mọi khả năng, các tướng trong bộ chỉ huy Lam
Sơn đều thống nhất ý kiến cho rằng, muốn thoát khỏi thế bị bao
vây và bị tiêu diệt thì chỉ còn cách phải chủ động dẫn quân rút
khỏi Linh Sơn.
32
Nhưng việc rút khỏi Linh Sơn lúc này vô cùng nguy hiểm.
Mọi ngả đường đều bị giặc bịt kín. Chỉ còn một cách là phải mở
đường máu mà thoát. Nhưng như vậy lực lượng nghĩa quân không
tránh khỏi tổn thất. Tất nhiên tổn thất một phần còn hơn là toàn
bộ nhưng nếu như Bình Định vương có bề gì thì lấy ai để lo việc
lâu dài về sau?
33
Biết anh em lo lắng cho mình, Lê Lợi vô cùng cảm động. Ông
kể chuyện Lưu Bang lúc bị vây khốn ở Huỳnh Dương nhờ Kỷ Tín
mặc áo đóng giả mình, ra đánh nhau với Hạng Võ và chịu chết
mới thoát được để gây dựng nên sự nghiệp. Rồi bất chợt hỏi: “Ai
có thể làm theo Kỷ Tín, mặc áo của ta, đem 500 quân và hai thớt
voi đánh vào dinh trại giặc, nhận là chúa Lam Sơn và chịu chết
để ta và các nghĩa binh được thoát thân mưu sự lâu dài?”.
34
Câu hỏi đột ngột của vị chủ tướng
vừa dứt; lập tức, từ phía sau, một người
đứng dậy bước ra chắp tay thưa: “Thần
xin được đổi áo. Ngày sau, nếu bệ hạ làm
nên đế nghiệp, xin hãy nhớ đến thần mà
cho con cháu thần được đời đời hưởng
ơn nước, thế là đủ”. Dưới ánh đuốc bập
bùng, tất cả nhận ra đó là Quan Nội hầu
Lê Lai.
35
Lê Lợi liền cùng Lê Lai và tất cả các
tướng quỳ xuống khấn trời rồi thề rằng: “Lê
Lai có công đổi áo, sau này trẫm và con cháu
của trẫm cùng tất cả công thần và con cháu
của họ, nếu quên ơn này thì cung điện sẽ
hóa thành núi rừng, ấn thiêng sẽ thành cục
đồng, gươm báu sẽ hóa thành con dao thường
dùng vậy”.
36
Sau đó, Lê Lai ung dung mặc áo của Bình Định vương Lê Lợi,
vĩnh biệt chủ tướng và các anh em đã bao phen cùng vào sinh ra
tử rồi cưỡi voi dẫn quân đánh thẳng vào doanh trại của giặc. Tất
cả mọi người, kể cả Lê Lợi, đều không cầm được nước mắt.
37
38
Giữa rừng trùng gươm giáo và tên bay, Lê Lai vẫn dũng cảm
xông pha, vừa tả xung hữu đột vừa hô to lên rằng: “Ta là chúa
Lam Sơn đây!”. Quân Minh hí hửng vì tưởng là Lê Lợi, liền đem
quân bủa vây bốn bề, quyết bắt sống cho bằng được.
39
Trận đánh kết thúc khá nhanh. Lê Lai bị bắt sau khi bị nhiều
vết thương nặng. Giặc đưa ông về và sau đó xử tử bằng hình thức
tùng xẻo. Ông đã để lại tấm gương anh hùng tiết tháo sáng mãi
với muôn đời.
40
Lê Lai là người đã có mặt bên cạnh Lê Lợi ngay trong những
ngày đầu tiên của quá trình chuẩn bị gian nan cho cuộc khởi
nghĩa. Khi Lê Lợi xưng là Bình Định vương, Lê Lai được phong
tước Quan Nội hầu, chức Tổng quản chuyên lo việc hậu cần, xây
dựng đại bản doanh và bảo vệ Lê Lợi cùng các tướng. Lúc chiến
đấu gian nguy hay trong những ngày bị vây gian nan đói khát,
ông luôn ở bên chăm lo cho Lê Lợi thật chu đáo, bây giờ lại sẵn
sàng hy sinh vì chủ tướng.
41
Ngoài Lê Lai liều mình cứu chúa vào năm 1419, sau này, gia
đình ông còn có bốn người khác cũng hy sinh rất oanh liệt. Đó là
Lê Lạn (anh Lê Lai) và Lê Lộ (con trai Lê Lai) tử trận tại Nghệ
An năm 1425. Cuối năm đó, Lê Lư (con trưởng Lê Lai) cũng ngã
xuống ở chiến trường Thanh Hóa. Còn con út của Lê Lai là Lê
Lâm đến năm 1430 cũng hy sinh trong trận đánh với Ai Lao.
42
Sau này, ngoài việc truy phong
cho Lê Lai, Lê Lợi còn sai Nguyễn
Trãi soạn hai bản “Tiên ước thệ từ”
(bài văn thề nhớ mãi lời ước hẹn
trước) và “Lai công thệ từ” (bài
văn thề ghi nhớ mãi công lao của
Lê Lai) rồi cho cất vào tủ vàng để
các vua sau không ai được quên sự
hy sinh của ông. Năm 1433, lúc sắp
lâm chung, Lê Lợi còn trăn trối phải
giỗ Lê Lai thêm một lần vào trước
ngày giỗ của mình. Lê Lợi mất vào
ngày 22 tháng 8 nhuận năm Nhâm
Tí (1433) thì ngày 21 sẽ là ngày
giỗ Lê Lai. Vì thế dân gian có câu:
“Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”.
43
Sau khi đánh tan đội quân nhỏ do Lê Lai cầm đầu và bắt được
Lê Lai, quân Minh tưởng đã đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn. Vì thế, chúng rút quân về Tây Đô và các thành lũy khác. Đất
Linh Sơn lại yên tĩnh như cũ, kế hoạch phá vòng vây của Lê Lợi
và bộ chỉ huy Lam Sơn đã thành công.
44
Nghĩa quân mau chóng trở về
Lam Sơn. Lại tu bổ thành lũy và
doanh trại, lại tìm cách tích trữ
lương thực và thực phẩm, lại vận
động hào kiệt và nghĩa sĩ bốn
phương... Nói khác hơn, một
quá trình hồi phục cả về thực
lực lẫn ý chí của Lam Sơn bắt
đầu. Theo cách nói của sử cũ
thì đó chính là: “Chỉnh đốn khí
giới, nuôi vỗ quân sĩ, dưỡng uy
lực, súc nhuệ khí”.
45
Đầu năm 1420, quân Minh mới
biết rằng Lê Lợi vẫn còn sống và đang
ra sức củng cố thực lực. Chúng quyết
định tổ chức một cuộc tấn công bất
ngờ để tiêu diệt hoàn toàn lực lượng
của Lê Lợi ngay tại căn cứ Lam Sơn.
Nhờ thường xuyên cảnh giác và theo
dõi thật sát mọi động tĩnh của giặc,
Lê Lợi đã nắm trước được kế hoạch
của chúng.
46
Bộ chỉ huy Lam Sơn được gấp rút mời tới hội bàn. Lê Lợi nói:
“Tin mật báo cho hay, mờ sáng ngày mai giặc sẽ xuất quân để
đánh một trận lớn vào đây. Như vậy, khoảng đầu giờ Mùi, chúng
sẽ có mặt ở Bến Bổng. Nay, nếu ta đem quân ra mai phục sẵn ở
đó thì nhất định sẽ phá được. Các ngươi nghĩ sao?”. Các tướng
đều cho lời ấy là phải và lập tức đem quân đi bố trí.
47
Quả nhiên, đúng đầu giờ Mùi, quân Minh kéo đến Bến Bổng
rất đông. Nghĩa quân Lam Sơn do các tướng Nguyễn Lý, Phạm
Vấn và Lý Triện chỉ huy, từ các ổ mai phục đổ ra bao vây quân
giặc vào giữa mà đánh. Bị bất ngờ, giặc lúng túng chống đỡ và bị
giết, bị bắt sống rất nhiều. Lam Sơn thu được trên 100 con ngựa
và vô số khí giới. Trận Bến Bổng đã phá tan âm mưu tấn công
bất ngờ vào Lam Sơn của quân Minh, biến chúng từ thế chủ động
trở thành bị động.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lâm Chí Trung
Biên tập hình ảnh: Lương Trọng Phúc
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Gian nan lúc khởi đầu / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa sĩ Nguyễn Quang
Cảnh. - Tái bản lần thứ 5. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
88 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.32).
1. Việt Nam — Lịch sử — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt
Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Pictorial works.
959.7 — dc 22
G433
LỜI GIỚI THIỆU
Mùa xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi xưng là Bình
Định vương cùng các hào kiệt phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn,
kêu gọi nhân dân đồng lòng chung sức, đứng lên chống
quân xâm lược, cứu nước.
Ở buổi đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn thường
phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng nghĩa quân Lam
Sơn vẫn giữ vững niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng
của cuộc khởi nghĩa. Những khó khăn, vất vả ấy đã được
Nguyễn Trãi ghi lại trong Bình Ngô đại cáo bằng những
câu thơ vô cùng súc tích ngắn gọn:
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh…
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu…
Những khó khăn trong buổi đầu khởi nghĩa ấy như thế
nào? Nội dung này sẽ được truyền tải trong tập 32 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Gian nan lúc khởi đầu”
phần lời do Nguyễn Khắc Thuần biên soạn, phần hình ảnh
do Nguyễn Quang Cảnh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 32 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Thời kì hoạt động ở núi rừng Thanh Hóa là giai đoạn khó
khăn nhất của khởi nghĩa Lam Sơn, vừa chống giặc Minh,
vừa chống Ai Lao.
Đối mặt với sự vây khốn kẻ thù, nghĩa quân đã bao lần
lâm vào tình trạng hiểm nghèo: ba lần rút chạy lên núi Chí
Linh, thiếu quân lương, binh sĩ hao hụt, quân tâm lung lay,
lòng người bất ổn,... Dù vậy, nghĩa quân vẫn giương cao
ngọn cờ kháng chiến, tin vào thắng lợi của tương lai.
4
Ngày mồng hai tết Mậu Tuất, tức ngày 7 tháng 2 năm 1418,
tại quê nhà Lam Sơn, Lê Lợi long trọng tổ chức lễ tế cờ trước lúc
xuất quân. Đó là ngày trọng đại của Lam Sơn, cũng là ngày trọng
đại của dân tộc, trong sự nghiệp chiến đấu nhằm lật nhào ách đô
hộ của giặc Minh. Ngày hôm đó, trước sự hồ hởi của dân chúng
trong vùng, tất cả hào kiệt và nghĩa binh Lam Sơn đều có mặt.
5
6
Bấy giờ Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương (vua dẹp loạn),
dưới trướng có tất cả 35 quan võ cùng một số ít quan văn. Lực
lượng chiến đấu của Lê Lợi gồm có: 14 con voi, 200 con ngựa,
200 dũng sĩ, 200 nghĩa sĩ và khoảng 2000 quân sĩ khác. Lực lượng
ấy quá bé nhỏ; nhưng tinh thần chiến đấu rất ngoan cường, không
dễ gì có thể đàn áp được.
7
Mục tiêu đầu tiên của Lam Sơn là đập tan toàn bộ hệ
thống chính quyền của quân Minh ở vùng rừng núi phía
tây tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Bọn Việt gian cam lòng
làm tay sai cho giặc lập tức bị trừng trị. Một hệ thống
chính quyền mới của nghĩa quân bắt đầu được thành lập.
Sự kiện quan trọng này đã gây được tiếng vang rất lớn
và tạo được niềm phấn khởi trong nhân dân địa phương.
8
Ngày mồng chín tháng giêng năm Mậu Tuất, tức ngày 14 tháng
2 năm 1418, cuộc đàn áp quy mô lớn đầu tiên của quân Minh bắt
đầu. Từ thành Tây Đô, lực lượng giặc do Đô đốc Chu Quảng cầm
đầu, đánh thẳng vào Lam Sơn. Một cuộc giao chiến ác liệt đã xảy
ra. Nghĩa quân Lam Sơn tuy chiến đấu anh dũng nhưng do lực
lượng yếu lại thiếu kinh nghiệm trận mạc nên không thể địch nổi.
Để bảo toàn lực lượng, Lê Lợi phải cho rút lui về Mường Một(*).
* Xưa thuộc châu Lang Chánh, nay thuộc vùng Bất Một, huyện Thường Xuân,
tỉnh Thanh Hóa.
9
Bốn ngày sau, quân Minh lại dốc
lực lượng tiến đánh Mường Một. Trước
tình thế bất lợi, nghĩa quân Lam Sơn
lại buộc phải lui về Lạc Thủy. Địa
điểm này nằm ở thượng nguồn sông
Chu, phía trên Lam Sơn, nơi có địa
hình thuận tiện để có thể bố trí đánh
mai phục.
10
Giặc tức tối xua quân lập tức đánh vào Lạc Thủy. Nhưng không
may cho chúng, tại đây, Lê Lợi đã nhanh chóng bố trí trận đồ mai
phục chờ đợi sẵn. Các tướng Lê Thạch, Đinh Bồ, Lê Ngân và
Nguyễn Lý được giao trách nhiệm chỉ huy trận đánh này. Giặc bị
đại bại, buộc phải tháo chạy khỏi Lạc Thủy.
11
Theo sự chỉ dẫn của hai tên Việt gian là Đỗ Phú và Ái (chưa
rõ họ, cả hai đều là người Thanh Hóa), quân Minh liền đến xứ
Phật Hoàng khai quật mộ của thân phụ Lê Lợi, lấy đi tiểu đựng
hài cốt vừa cải táng, hòng làm lung lạc tinh thần của Lê Lợi và
nghĩa quân. Chúng cũng muốn nhân đó để đánh tan niềm tin của
nhân dân địa phương về ngôi huyệt đại phát của dòng họ Lê Lợi.
12
Vì lòng hiếu thảo và cũng muốn giữ vững niềm tin cho quân
sĩ và dân chúng trong vùng, Lê Lợi quyết tâm tổ chức một trận
đánh bất ngờ để giành lại hài cốt của thân phụ. Trịnh Khả và Bùi
Bị được giao phó việc này. Hai ông nói: “Trận này chỉ cần hai
người là đủ, không phải dùng đến quân sĩ, xin Bình Định vương
chớ bận tâm”.
13
Bấy giờ, giặc để tiểu đựng hài cốt của thân phụ Lê Lợi trên
một chiếc thuyền neo ở giữa sông, cho lính canh phòng cẩn mật
và tuyên bố rằng nếu Lê Lợi ra hàng thì sẽ trả lại. Trịnh Khả và
Bùi Bị chờ lúc đêm khuya, giặc trên thuyền gật gà ngủ, đội cỏ lội
sông áp tới gần, bí mật lấy tiểu đựng hài cốt đem về. Lê Lợi mừng
lắm, vội trọng thưởng cho hai người và đem hài cốt của thân phụ
chôn vào chỗ cũ.
14
Mưu trả thù hèn mạt không thành, giặc liền tổ
chức đánh úp vào Lam Sơn lần thứ hai. Một lần
nữa, tên Ái nhận làm kẻ dẫn đường cho giặc Minh.
Trận này, vì quá bất ngờ, lực lượng Lam Sơn bị
tổn thất rất lớn. Vợ con và nhiều người trong gia
thuộc của Lê Lợi bị giặc bắt. Còn nghĩa quân Lam
Sơn thì bị giết hại với một số lượng không nhỏ.
15
Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, các tướng như Đinh Lễ,
Phạm Vấn, Bùi Bị, Lê Đạt và Nguyễn Xí đã anh dũng mở đường
máu, tạo điều kiện cho Lê Lợi và các thủ lãnh khác của Lam Sơn
tạm lánh lên núi Chí Linh (tức Linh Sơn, một ngọn núi cao ở trên
thượng nguồn sông Chu). Sau đó, các toán quân của Lê Lợi cũng
lần lượt tìm về tề tựu ở đấy.
16
Giặc biết rất rõ nơi trú ẩn của Lê Lợi và nghĩa sĩ Lam
Sơn nhưng chúng không sao tổ chức tấn công tiêu diệt
được, bởi vì núi Chí Linh khá hiểm trở. Trong bài Chí
Linh sơn phú, Nguyễn Mộng Tuân, người đỗ Thái Học
sinh cùng khoa với Nguyễn Trãi, sau này đã mô tả:
“Ngàn trượng đá cao, đó là thành trì vững chãi,
Lưng trời vách đứng, đó là trăm cửa ải gian nan”.
17
Không thể đánh lên Linh Sơn, giặc tập trung lực
lượng để bao vây, quyết chặt đứt mọi đường tiếp tế
lương thực và thực phẩm của nghĩa quân Lam Sơn.
Đói khát, giá lạnh và bệnh tật hoành hành suốt hai
tháng trời. Lê Lợi phải giết ngựa của mình cứu đói
nhất thời cho quân sĩ. Nghĩa quân Lam Sơn phải hái
lá rừng, đào củ rừng để ăn cho qua ngày đoạn tháng.
18
Tương truyền sau lần giết ngựa của mình cứu đói cho quân sĩ,
Lê Lợi đang xuống núi xem xét tình hình bất ngờ đụng giặc và bị
chúng truy đuổi rất gấp. Ông định băng qua một bìa rừng để lẩn
trốn vào núi. Nơi ấy có mấy thửa ruộng nhỏ, nằm sát một dòng
suối con con. Bấy giờ có hai vợ chồng bác nông phu già đang
khom lưng tát cá.
19
Thấy điệu bộ vội vã của kẻ chạy
qua, lại nghe có tiếng hò hét rất gần,
vợ chồng bác nông phu biết ngay đó
là người của nghĩa quân Lam Sơn
đang bị giặc đuổi. Bác nông phu
bảo: “Cởi quần áo ngoài rồi xuống
mà tát cá, chạy nữa không kịp đâu”.
Lê Lợi lập tức làm theo. Bác liền
đem dấu quần áo và thanh gươm của
Lê Lợi vào một nơi kín đáo rồi quay
lại suối. Vừa lúc đó, quân Minh cưỡi
ngựa ập tới.
20
Chỉ mặt ba người, chúng quát hỏi: “Có thấy tên phản nghịch
Lê Lợi chạy qua đây không?”. Bác nông phu bảo: “Lê Lợi thì
không biết nhưng có thấy một người đeo gươm mặc áo thụng vừa
đi qua”. Lê Lợi tưởng bác nông phu bán đứng mình, liếc ra xung
quanh chuẩn bị tìm đường chạy. Biết ý, bác liền quát: “Thằng kia,
sức dài vai rộng mà cứ biếng nhác, muốn ăn đòn không hả?”. Rồi
quay lại phía quân Minh, bác đưa tay chỉ về phía cuối rừng:
“Ông ta chạy theo lối kia kìa”.
21
Quân Minh vội vàng thúc ngựa đuổi theo hướng bác nông phu
vừa chỉ. Khi chúng đã chạy xa, hai vợ chồng bác nông phu già
liền đến sụp lạy Lê Lợi mà thưa rằng: “Già này cứ tưởng là lính
Lam Sơn, chẳng dè lại gặp Bình Định vương, vì muốn cứu mạng
nên trót lỡ lời, xin Bình Định vương tha tội”. Nói xong, vợ chồng
bác nông phu xin được rước Lê Lợi về nhà tạm nghỉ trước khi tìm
đường về với nghĩa quân.
22
Được Bình Định vương ghé đến túp lều của mình, vợ chồng bác
nông phu vô cùng mừng rỡ, vội làm cơm thết đãi. Nhưng ngoài
mấy con cá nhỏ vừa bắt được, trong nhà chẳng còn gì khác. Họ
bối rối mãi mới chợt nhớ trong nhà còn có một con khỉ. Vì già cả
lại không con, họ đã nuôi nó để sớm tối ra vào cho đỡ hiu quạnh.
Nay không còn cách nào khác, họ đành làm thịt nó.
23
Lê Lợi không bao giờ quên món canh thịt khỉ được ăn hôm
ấy bởi tấm lòng của hai vợ chồng bác nông phu thật là đáng quý.
Trong lúc nghĩa quân Lam Sơn đang phải chiến đấu gian khổ với
kẻ thù, với đói rét, bệnh tật, nguy cơ tuyệt diệt chỉ còn trong gang
tấc thì nghĩa tình của dân chúng như đôi vợ chồng này khiến Lê
Lợi cảm thấy vững tin vào sự nghiệp của mình.
24
Sau này, khi đã lên ngôi hoàng đế, Lê Lợi sai người tìm về bìa
rừng xưa dưới chân núi Chí Linh, nhưng vợ chồng bác nông phu
đã mất hay phiêu bạt đi đâu không ai biết nữa. Ngài bèn cho lập
miếu thờ ở kinh thành, vì không biết tên của họ nên gọi làm miếu
Ông Hầu, Bà Hầu để tưởng nhớ hai ông bà đã làm món canh thịt
khỉ ngày ấy.
25
Sau hai tháng bị tuyệt lương, lực
lượng Lam Sơn bị hao mòn ngày càng
nhiều. Và có một số người không chịu
nổi gian nan đã bỏ Linh Sơn để trở về
quê quán. Nhưng cũng sau hai tháng,
quân Minh quá mệt mỏi với việc bao
vây, nên chán nản rút lui. Lê Lợi lại
cùng với quân sĩ trở về Lam Sơn, đắp
thành, xây lũy và tích trữ lương thực
để chuẩn bị cho những trận đánh mới.
26
Khi trở về Lam Sơn, Lê Lợi chỉ còn hơn một trăm quân sĩ. Phải
nhiều ngày sau, tàn binh các nơi mới lục tục kéo về, nhưng tổng
cộng cũng chỉ độ vài trăm. Tất cả được lệnh sản xuất và thu mua
lương thực rồi đem cất dấu vào những nơi bí mật để phòng bị bao
vây và tuyệt lương như lần trước. Dần dần, lực lượng đã được củng
cố, tinh thần của quân sĩ cũng hăng hái hẳn lên.
27
Để khích lệ quân sĩ và nhân dân, Lê Lợi quyết định tổ chức
một trận đánh thật bất ngờ. Hầu hết quân Lam Sơn được bố trí
mai phục ở hai bên vách núi lối vào Mường Một, còn một bộ phận
nhỏ thì đi khiêu chiến, vờ thua bỏ chạy. Giặc chủ quan đuổi theo,
không chú ý đến con đường hẹp giữa hai vách núi. Bất ngờ, một
trận mưa tên thuốc độc tuôn xuống tiêu diệt rất nhiều quân giặc.
28
Thừa thắng, Lê Lợi hạ lệnh cho nghĩa quân tiếp tục tấn công
vào Mường Nanh, một vị trí của giặc ở gần Mường Một. Giặc
hốt hoảng rút lui về Nga Lạc Thượng và cố thủ ở đấy để chờ viện
binh. Lê Lợi lập tức cho đánh vào một số vị trí khác ở gần Nga
Lạc Thượng như Hà Đả, Mỹ Canh. Ở Mỹ Canh, tên ngụy quan là
Nguyễn Sao bị chém đầu tại trận, hơn một ngàn tên giặc bị giết.
29
Sau các trận Mường Một, Mường Nanh và Mỹ
Canh, tinh thần của nghĩa quân lên rất cao. Trai
tráng nhiều nơi lại nô nức kéo về Lam Sơn tụ nghĩa.
Bị thất bại bất ngờ, quân Minh vô cùng tức tối.
Chúng tập trung lực lượng đánh trả thù. Một cuộc
đàn áp quy mô được nhanh chóng tổ chức. Mục
tiêu của giặc là bóp nát toàn bộ lực lượng của Lê
Lợi ở ngay Lam Sơn.
30
Nghĩa quân Lam Sơn đã chống trả rất quyết liệt, bám chặt
thành lũy của mình để chống cự, nhưng do lực lượng quá ít, họ
không sao địch nổi quân Minh. Trước tình thế khó khăn ấy, Lê
Lợi quyết định rút hết lực lượng lên Linh Sơn lần thứ hai. Lần
này, tuy quân lương không quá thiếu thốn như lần trước, nhưng
vòng vây của quân giặc thì chặt chẽ và nguy hiểm hơn. Chúng
lập trại san sát dưới chân núi quyết không để người nào đi lọt và
liên tục đột kích lên núi.
31
Không thể ngồi chờ quân giặc tiêu diệt dần lực lượng của mình,
một hội nghị quan trọng đã được tổ chức tại Linh Sơn. Sau khi
bàn bạc và đưa ra mọi khả năng, các tướng trong bộ chỉ huy Lam
Sơn đều thống nhất ý kiến cho rằng, muốn thoát khỏi thế bị bao
vây và bị tiêu diệt thì chỉ còn cách phải chủ động dẫn quân rút
khỏi Linh Sơn.
32
Nhưng việc rút khỏi Linh Sơn lúc này vô cùng nguy hiểm.
Mọi ngả đường đều bị giặc bịt kín. Chỉ còn một cách là phải mở
đường máu mà thoát. Nhưng như vậy lực lượng nghĩa quân không
tránh khỏi tổn thất. Tất nhiên tổn thất một phần còn hơn là toàn
bộ nhưng nếu như Bình Định vương có bề gì thì lấy ai để lo việc
lâu dài về sau?
33
Biết anh em lo lắng cho mình, Lê Lợi vô cùng cảm động. Ông
kể chuyện Lưu Bang lúc bị vây khốn ở Huỳnh Dương nhờ Kỷ Tín
mặc áo đóng giả mình, ra đánh nhau với Hạng Võ và chịu chết
mới thoát được để gây dựng nên sự nghiệp. Rồi bất chợt hỏi: “Ai
có thể làm theo Kỷ Tín, mặc áo của ta, đem 500 quân và hai thớt
voi đánh vào dinh trại giặc, nhận là chúa Lam Sơn và chịu chết
để ta và các nghĩa binh được thoát thân mưu sự lâu dài?”.
34
Câu hỏi đột ngột của vị chủ tướng
vừa dứt; lập tức, từ phía sau, một người
đứng dậy bước ra chắp tay thưa: “Thần
xin được đổi áo. Ngày sau, nếu bệ hạ làm
nên đế nghiệp, xin hãy nhớ đến thần mà
cho con cháu thần được đời đời hưởng
ơn nước, thế là đủ”. Dưới ánh đuốc bập
bùng, tất cả nhận ra đó là Quan Nội hầu
Lê Lai.
35
Lê Lợi liền cùng Lê Lai và tất cả các
tướng quỳ xuống khấn trời rồi thề rằng: “Lê
Lai có công đổi áo, sau này trẫm và con cháu
của trẫm cùng tất cả công thần và con cháu
của họ, nếu quên ơn này thì cung điện sẽ
hóa thành núi rừng, ấn thiêng sẽ thành cục
đồng, gươm báu sẽ hóa thành con dao thường
dùng vậy”.
36
Sau đó, Lê Lai ung dung mặc áo của Bình Định vương Lê Lợi,
vĩnh biệt chủ tướng và các anh em đã bao phen cùng vào sinh ra
tử rồi cưỡi voi dẫn quân đánh thẳng vào doanh trại của giặc. Tất
cả mọi người, kể cả Lê Lợi, đều không cầm được nước mắt.
37
38
Giữa rừng trùng gươm giáo và tên bay, Lê Lai vẫn dũng cảm
xông pha, vừa tả xung hữu đột vừa hô to lên rằng: “Ta là chúa
Lam Sơn đây!”. Quân Minh hí hửng vì tưởng là Lê Lợi, liền đem
quân bủa vây bốn bề, quyết bắt sống cho bằng được.
39
Trận đánh kết thúc khá nhanh. Lê Lai bị bắt sau khi bị nhiều
vết thương nặng. Giặc đưa ông về và sau đó xử tử bằng hình thức
tùng xẻo. Ông đã để lại tấm gương anh hùng tiết tháo sáng mãi
với muôn đời.
40
Lê Lai là người đã có mặt bên cạnh Lê Lợi ngay trong những
ngày đầu tiên của quá trình chuẩn bị gian nan cho cuộc khởi
nghĩa. Khi Lê Lợi xưng là Bình Định vương, Lê Lai được phong
tước Quan Nội hầu, chức Tổng quản chuyên lo việc hậu cần, xây
dựng đại bản doanh và bảo vệ Lê Lợi cùng các tướng. Lúc chiến
đấu gian nguy hay trong những ngày bị vây gian nan đói khát,
ông luôn ở bên chăm lo cho Lê Lợi thật chu đáo, bây giờ lại sẵn
sàng hy sinh vì chủ tướng.
41
Ngoài Lê Lai liều mình cứu chúa vào năm 1419, sau này, gia
đình ông còn có bốn người khác cũng hy sinh rất oanh liệt. Đó là
Lê Lạn (anh Lê Lai) và Lê Lộ (con trai Lê Lai) tử trận tại Nghệ
An năm 1425. Cuối năm đó, Lê Lư (con trưởng Lê Lai) cũng ngã
xuống ở chiến trường Thanh Hóa. Còn con út của Lê Lai là Lê
Lâm đến năm 1430 cũng hy sinh trong trận đánh với Ai Lao.
42
Sau này, ngoài việc truy phong
cho Lê Lai, Lê Lợi còn sai Nguyễn
Trãi soạn hai bản “Tiên ước thệ từ”
(bài văn thề nhớ mãi lời ước hẹn
trước) và “Lai công thệ từ” (bài
văn thề ghi nhớ mãi công lao của
Lê Lai) rồi cho cất vào tủ vàng để
các vua sau không ai được quên sự
hy sinh của ông. Năm 1433, lúc sắp
lâm chung, Lê Lợi còn trăn trối phải
giỗ Lê Lai thêm một lần vào trước
ngày giỗ của mình. Lê Lợi mất vào
ngày 22 tháng 8 nhuận năm Nhâm
Tí (1433) thì ngày 21 sẽ là ngày
giỗ Lê Lai. Vì thế dân gian có câu:
“Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”.
43
Sau khi đánh tan đội quân nhỏ do Lê Lai cầm đầu và bắt được
Lê Lai, quân Minh tưởng đã đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn. Vì thế, chúng rút quân về Tây Đô và các thành lũy khác. Đất
Linh Sơn lại yên tĩnh như cũ, kế hoạch phá vòng vây của Lê Lợi
và bộ chỉ huy Lam Sơn đã thành công.
44
Nghĩa quân mau chóng trở về
Lam Sơn. Lại tu bổ thành lũy và
doanh trại, lại tìm cách tích trữ
lương thực và thực phẩm, lại vận
động hào kiệt và nghĩa sĩ bốn
phương... Nói khác hơn, một
quá trình hồi phục cả về thực
lực lẫn ý chí của Lam Sơn bắt
đầu. Theo cách nói của sử cũ
thì đó chính là: “Chỉnh đốn khí
giới, nuôi vỗ quân sĩ, dưỡng uy
lực, súc nhuệ khí”.
45
Đầu năm 1420, quân Minh mới
biết rằng Lê Lợi vẫn còn sống và đang
ra sức củng cố thực lực. Chúng quyết
định tổ chức một cuộc tấn công bất
ngờ để tiêu diệt hoàn toàn lực lượng
của Lê Lợi ngay tại căn cứ Lam Sơn.
Nhờ thường xuyên cảnh giác và theo
dõi thật sát mọi động tĩnh của giặc,
Lê Lợi đã nắm trước được kế hoạch
của chúng.
46
Bộ chỉ huy Lam Sơn được gấp rút mời tới hội bàn. Lê Lợi nói:
“Tin mật báo cho hay, mờ sáng ngày mai giặc sẽ xuất quân để
đánh một trận lớn vào đây. Như vậy, khoảng đầu giờ Mùi, chúng
sẽ có mặt ở Bến Bổng. Nay, nếu ta đem quân ra mai phục sẵn ở
đó thì nhất định sẽ phá được. Các ngươi nghĩ sao?”. Các tướng
đều cho lời ấy là phải và lập tức đem quân đi bố trí.
47
Quả nhiên, đúng đầu giờ Mùi, quân Minh kéo đến Bến Bổng
rất đông. Nghĩa quân Lam Sơn do các tướng Nguyễn Lý, Phạm
Vấn và Lý Triện chỉ huy, từ các ổ mai phục đổ ra bao vây quân
giặc vào giữa mà đánh. Bị bất ngờ, giặc lúng túng chống đỡ và bị
giết, bị bắt sống rất nhiều. Lam Sơn thu được trên 100 con ngựa
và vô số khí giới. Trận Bến Bổng đã phá tan âm mưu tấn công
bất ngờ vào Lam Sơn của quân Minh, biến chúng từ thế chủ động
trở thành bị động.
48
 





