Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
Lịch sử Việt Nam bằng tranh 42 - Phân tranh Nam Bắc triều và đoạn kết nhà Mạc ở Cao Bằng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:51' 17-11-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 15h:51' 17-11-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ nhất
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Phân tranh Nam Bắc triều và đoạn kết nhà Mạc ở Cao Bằng / Trần Bạch Đằng chủ
biên; Đinh Văn Liên biên soạn; họa sĩ Nguyễn Quang Vinh, Tái bản lần thứ 1. TP. Hồ Chí
Minh: Trẻ 2013
80tr.; 20cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.42).
1. Việt Nam Lịch sử 15921788 Sách tranh 2. Việt Nam Lịch sử Triều nhà Mạc,
15271592 Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử Việt Nam
bằng tranh.
1. Vietnam History 15921788 Pictorical works. 2. Vietnam History Mạc dynasty,
15271592 Pictorical works.
959.70272 — dc 22
P535
LỜI GIỚI THIỆU
Nhà Mạc lấy ngôi của nhà Lê năm 1527 thì 6 năm
sau, 1533, nhà Lê với sự giúp sức của Nguyễn Kim đã
trung hưng ở Thanh Hóa. Đất nước bị chia làm hai vùng,
nhà Mạc thống trị ở vùng Bắc bộ ngày nay được sử cũ
gọi là Bắc triều. Nhà Lê - Nguyễn, từ năm 1545 Nguyễn
Kim chết là Lê - Trịnh, nắm quyền hành từ vùng Thanh
Hóa trở vào được gọi là Nam triều.
Các nhà nghiên cứu tổng kết: trong 60 năm chiến
tranh (1533-1592) giữa Lê và Mạc đã diễn ra 38 trận
lớn nhỏ, dốc hết quốc khố cùng sức dân, nhân tài vào
việc tranh giành quyền lực. Chỉ có người dân vô tội phải
chịu cảnh lầm than, ly tán, ruộng đồng bỏ hoang, không
người trồng trọt.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 42
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Phân tranh Nam
- Bắc triều và đoạn kết nhà Mạc ở Cao Bằng” phần lời
do Đinh Văn Liên biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Quang Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 42 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Cuộc nội chiến ác liệt giữa Bắc triều và Nam triều
kéo dài hơn nửa thế kỷ đã làm cho đời sống nhân dân vô
cùng cực khổ. Nghịch cảnh này theo miêu tả của Lê Quý
Đôn trong Đại Việt thông sử thật là bi đát: Năm 1591, khi
Trịnh Tùng kéo quân ra Thăng Long đã “chém đầu hơn
một vạn quân địch, máu chảy khắp nơi, thây chất thành
non” hay “con sông Mã từ bến Ứng trở xuống, sông Lam
từ bến Bổng trở xuống khói lửa ngất trời, bóng cờ ngợp
đất; nhân dân cõng già, dắt trẻ, chạy trốn lưu ly, ngoài
đường vang tiếng kêu khóc”.
4
Thời nhà Mạc, sự yên bình để xây dựng đất nước thật ngắn
ngủi. Khi Mạc Đăng Dung lấy ngôi nhà Lê, nhiều cựu thần trốn đi,
trong đó có Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An Thanh hầu Nguyễn
Kim, con của Nguyễn Hoằng Dụ. Kim trốn sang Ai Lao (thuộc
trấn Man Phủ đất Thanh Hóa), được vua nước ấy là Xạ Đẩu giúp
đỡ binh khí và lương thực. Dưới thời Mạc Đăng Doanh (15301540), lực lượng Nguyễn Kim dần dần lớn mạnh.
5
Nguyễn Kim cho người đi tìm con cháu nhà Lê.
Bấy giờ có người con út của vua Lê Chiêu Tông là
Lê Duy Ninh, khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi mới
11 tuổi, được Lê Quán cõng chạy trốn sang Ai Lao,
đổi tên là Huyến. Vào năm 1532, Nguyễn Kim tìm được
Ninh rước về Sầm châu lập lên làm vua, tức Lê Trang Tông(*).
* Từ đây bắt đầu thời kỳ mà sử gọi là Lê Trung hưng nhưng thực chất các vua Lê
thời này bị họ Trịnh chi phối.
6
Từ khi có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Kim đã quy tụ được
lực lượng của các cựu thần nhà Lê nên ngày càng mạnh. Năm
1537, một viên tướng nhà Mạc là Tây An hầu Lê Phi Thừa quản
lĩnh 7 vùng ở Thanh Hóa khởi quân cướp phá của cải khắp ba ty
rồi chạy sang Ai Lao đầu hàng quân Lê - Nguyễn.
7
Nhân cơ hội đó, năm 1539, quân Lê - Nguyễn tiến về tấn công
Nghệ An, Thanh Hóa và đến năm 1543 (dưới đời Mạc Phúc Hải
1541-1546) thì chiếm được hai vùng này để làm căn cứ. Từ đây
Đại Việt tồn tại hai vương triều: Mạc và Lê.
8
Năm 1545, người trung hưng nhà
Lê là Nguyễn Kim bị chết vì thuốc
độc, con rể là Trịnh Kiểm lên thay.
Kiểm là người có tài nên lực lượng
Lê - Trịnh ngày càng được củng cố.
Trong khi đó, Mạc Phúc Hải chỉ mải
vui chơi, ít lo việc nước. Vì thế, khi
vua Lê Trang Tông nhiều lần thân
chinh làm tướng kéo quân đánh ra
Yên Mô (Ninh Bình), quân Mạc
chống đỡ vô cùng vất vả.
9
Sang đời Mạc Phúc
Nguyên (1546-1561), lợi
dụng vua Mạc nối ngôi còn
nhỏ, nội bộ nhà Mạc lục đục vì tranh
chấp quyền hành, quân Lê - Trịnh một mặt tấn công ra
Bắc, một mặt đem quân tiến đánh các vùng phía Nam. Các châu
Hoan, Diễn (Nghệ An, Hà Tĩnh), Ô (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên), Quảng (Quảng Nam, Đà Nẵng) đều hàng phục. Từ đây,
đất nước chia làm hai: Thanh Hóa trở ra là Bắc triều (nhà Mạc),
Thanh Hóa trở vào là Nam triều (nhà Lê - Trịnh).
10
Mùa thu năm 1555, nhà Mạc sai Thiên vương Mạc Kính Điển
đem quân vào cướp lại Thanh Hóa, cho Thọ Quận công làm tiên
phong đem 100 chiến thuyền đi trước. Hôm sau, Mạc Kính Điển
đem quân đến hội ở sông Đại Lại, đóng ở núi Kim Sơn để trợ lực
cho quân tiên phong.
11
Nghe tin, quân Lê - Trịnh lệnh cho dân chúng hai bên bờ sông
không được kinh động rồi chia ra mai phục. Một lực lượng do
Thái úy Đình Công đốc suất các tướng nhà Mạc về hàng như Lê
Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận cùng
binh tướng bản bộ mai phục ở phía nam sông, trên các dãy núi
Yên Định(*) đến núi Quân Yên(**).
*, ** Đều thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay
12
Trịnh Kiểm đích thân dẫn quân mai phục ở phía bắc sông từ
núi Bạch Thạch đến Kim Sơn, chọn 50 con voi phục ở chân núi.
Lại sai Phạm Đốc đem thủy quân cùng tướng Mạc về hàng là
Nguyễn Quyện và hơn 10 chiến thuyền chiếm cứ mạn thượng lưu
sông, đi lại làm thế ỷ giốc.
13
Hôm sau, giờ Tỵ, thuyền quân Mạc kéo qua Kim Sơn đến chợ
Ông Cung (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Không thấy quân Lê - Trịnh
động tĩnh, quân Mạc đâm ra chủ quan. Trong các chiến thuyền,
quân Mạc đàn sáo ca hát như đi vào chỗ không người.
14
Gần trưa, bất chợt có một tiếng súng lệnh nổ vang ở núi Quân
Yên. Rồi dọc hai bờ sông liên tiếp có bảy tiếng súng đáp lại. Sau
đó, quân Lê - Trịnh từ những chỗ mai phục đổ ra. Voi ở thượng lưu
đã qua sông hăng hái tranh nhau tiến tới, binh thuyền của Phạm
Đốc và Nguyễn Quyện cũng thuận dòng lao xuống. Tất cả nhất
loạt vây quân Mạc mà đánh.
15
Quân Mạc bị động, quăng hết thương giáp bỏ chạy, cùng đường
nhảy xuống sông chết đuối rất nhiều. Tướng tiên phong quân
Mạc trốn không kịp bị bắt sống. Trận này quân Mạc tổn thất đến
mấy vạn người, Mạc Kính Điển vội vàng thu nhặt tàn quân rút
lui. Những tướng Mạc không hàng đều bị chém ở núi Đồng Lộc.
16
Tháng 7 năm 1557, nhà Mạc lại sai Mạc Kính
Điển đem quân vào chiếm lại Thanh Hóa. Quân
Mạc kéo đến sông Thần Phù và vùng Tống Sơn,
Nga Sơn (giáp giới giữa Ninh Bình và Thanh
Hóa), đốt phá cầu phao, thanh thế rất mạnh.
17
Bên Lê - Trịnh sai Thanh Quận công giữ Nga Sơn, Thụy Quận
công giữ Tống Sơn. Ai nấy đều đem quân binh ra liều chết chống
giữ, quân Mạc không sao tiến lên được.
18
Trong lúc đó, Thái sư Trịnh Kiểm đích thân chỉ huy binh lương,
ngầm tiến đến chân núi Yên Mô (thuộc Ninh Bình) rồi thẳng tới
cửa biển, đánh úp phía sau quân Mạc. Tiếng súng nổ liên hồi, trên
dưới đánh kẹp vào. Quân Mạc bị rơi vào vòng vây nên rối loạn
và bị giết chết rất nhiều.
19
Lúc bấy giờ quân Lê - Trịnh có Vũ
Lăng hầu rất dũng mãnh, cứ lao thuyền
xông thẳng vào quân Mạc mà đánh.
Gặp thuyền Mạc Kính Điển, Vũ Lăng
hầu tung người nhảy qua, ngay lập tức
chém người cầm dù đứt làm hai đoạn.
20
Trong tình thế nguy cấp, Mạc Kính Điển trở tay không kịp đành
nhảy vội xuống sông lặn một mạch cho xa chỗ nguy hiểm, sau đó
tấp vào một hang núi để ẩn náu. Quân Mạc mất tướng chẳng còn
sức chiến đấu, lớp bỏ thuyền chạy trốn vào rừng núi, lớp ra hàng
quân Lê, còn lại đều bị giết.
21
Mạc Kính Điển ẩn náu suốt ba ngày không có gì ăn nên đói lả,
ban đêm mò ra thấy một thân chuối trôi qua cửa hang đành liều
ôm lấy xuôi theo dòng để tìm đường về. May thay vài ngày sau
đến Yên Mô gặp một người dân đánh cá cứu thoát.
22
Trong khi Mạc Kính Điển đi đánh Thanh Hóa thì Mạc Phúc
Nguyên cũng sai cha con Phạm Quỳnh, Phạm Giao đi đánh Nghệ
An. Trịnh Kiểm sau khi phá tan quân của Mạc Kính Điển, kéo vào
hỗ trợ cho quân Lê - Trịnh ở Nghệ An. Kiểm cho quân giả làm
quân Mạc khiến cha con họ Phạm không đề phòng nên bị đại bại.
23
Thừa thắng, tháng 9 năm đó phía Nam triều
đem 5 vạn quận thủy bộ đánh ra Sơn Nam. Đến
sông Phụng Xí, quân Lê - Trịnh bắc cầu phao qua
sông, phá tan quân Mạc, bắt sống tướng Mạc là
Khánh Quốc công. Quân Mạc tan vỡ.
24
Sau khi đánh dẹp huyện Giao Thủy ở mạn
dưới Sơn Nam, Trịnh Kiểm tự mình chỉ huy bộ
binh, sai Phạm Đốc chỉ huy thủy quân, lấy Vũ
Lăng hầu đem quân thủy đi tiên phong, tung quân
đánh các nơi.
25
Nhà Mạc sai Nguyễn Quyện đem thuyền chiến chống giữ ở
sông Giao Thủy. Vũ Lăng hầu như lần trước lại ép sát vào thuyền
Nguyễn Quyện rồi nhảy sang định chém. Không ngờ Quyện đã
cầm gươm chờ sẵn, Vũ Lăng hầu phải nhảy xuống sông lặn đi.
26
Quyện nhảy sang thuyền của Vũ Lăng hầu chém được đầu của
người cầm dù rồi đưa lên hô lớn: “Đầu Vũ Lăng hầu đây, lũ chúng
mày địch sao nổi ta”. Quân Lê - Trịnh nghe nói thế sợ hãi nhảy cả
xuống sông, toàn quân tan vỡ. Thế trận lại nghiêng về quân Mạc.
27
Thừa thắng, quân Mạc đuổi
đánh, được dân chúng các huyện
hai bên bờ hưởng ứng theo nên khí
thế càng hăng. Quân Lê - Trịnh
chỉ còn cách mạnh ai nấy chạy.
Bị nhà Mạc chặn lối về, quân Lê
- Trịnh càng khốn đốn, sĩ tốt chỉ
một nửa chạy thoát, tướng Trịnh
bị giết đến vài chục người, thuyền
bè khí giới phải vứt bỏ hết. Trịnh
Kiểm phải cố gắng lắm mới đưa
được tàn quân về Thanh Hóa để
chờ dịp rửa hận.
28
Năm Kỷ Mùi (1559), Nam
triều lại đem 6 vạn quân ra đánh
lấy được các tỉnh Sơn Tây, Hưng
Hóa, Thái Nguyên, Kinh Bắc,
Lạng Sơn và một số huyện ở Hải
Dương. Lần này quân Lê - Trịnh
đánh đâu được đó, lấy được các
nơi một cách dễ dàng nên tưởng
việc lớn sắp thành công, nhà Mạc
sắp tiêu vong.
29
Nhưng nhà Mạc lại cho
Mạc Kính Điển đem một
đạo quân đi đường bộ vào
đánh Thanh Hóa. Vì lực
lượng chính đã kéo ra Bắc,
chỉ còn một ít ở lại giữ thành
nên Tây kinh vô cùng nguy
cấp. Quân Nam triều lại phải
bỏ những vùng đất đã chiếm
được, cấp tốc lui binh về giữ
Tây đô.
30
Để phòng thủ, vua Mạc cho quân đóng dọc phía Tây sông Nhị
(sông Hồng), đồn trại san sát, thuyền bè nối nhau, ngày thì gióng
trống báo tin, đêm lại đốt lửa làm hiệu. Khi quân Lê - Trịnh đánh
vào Đông Triều, Chí Linh, quân Mạc lại rút về Thanh Trì. Cứ thế,
hai bên giằng co nhau, không bên nào thắng được bên nào.
31
Năm Tân Dậu (1561), vua Mạc Phúc Nguyên mất, con là Mạc
Mậu Hợp mới 1 tuổi lên nối ngôi. Ứng vương Mạc Đôn Nhượng
(con út Mạc Đăng Doanh) và Khiêm Đại vương Mạc Kính Điển
cùng trông coi triều chính. Vì vua còn nhỏ nên thời kỳ này nhà
Mạc chỉ lo phòng thủ, chống đỡ khi quân Lê - Trịnh tấn công,
lúc cấp bách thì rút khỏi kinh đô.
32
Cuộc chiến Nam - Bắc triều diễn ra vô cùng khốc liệt. Từ năm
1545 đến 1569 là thời kỳ Nam triều tấn công quyết liệt. Quân
Lê - Trịnh đã 11 lần kéo ra đánh phá các trấn Sơn Nam, Sơn Tây,
Kinh Bắc, Hải Dương... hậu phương của nhà Mạc. Quân Mạc cũng
6 lần tấn công vào Thanh Hóa nhưng không bên nào giành được
thắng lợi quyết định.
33
Những cuộc động binh liên miên như vậy đã làm nhân dân cả
nước khánh kiệt, đói kém, phải xiêu dạt khắp nơi. Quân lính cả
hai bên thiệt mạng rất nhiều. Nhất là dân chúng các vùng binh
lửa thì chết chóc, ly tán, cực khổ không kể xiết. Tình cảnh này
khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm phải than: “Đáng chê cười hai kẻ thù
cứ đánh nhau mãi, khắp nơi chỗ nào cũng máu chảy thành sông,
xương chất như núi”.
34
Từ năm 1570, lực lượng Nam triều lại có
phần sa sút. Do Thái sư Trịnh Kiểm mất, trao
quyền cho con là Trịnh Cối nhưng Cối là kẻ
bất tài lại say đắm tửu sắc nên anh em không
phục, tướng sĩ mất lòng tin. Em Trịnh Cối là
Trịnh Tùng muốn cướp quyền của anh nên
cho rước vua Lê về ở đồi Vạn Lại rồi chia
quân đánh nhau với Trịnh Cối.
35
Nhân lúc hai anh em họ Trịnh đánh nhau, Mạc Kính Điển lại
đem hơn 10 vạn quân vào đánh Thanh Hóa. Trịnh Cối vừa lo đối
phó em trai vừa phải chống đỡ với quân Mạc, liệu thế không thể
chống chọi bèn đem 2 vạn quân về hàng họ Mạc và được họ Mạc
cho giữ quan tước như cũ.
36
Quân Mạc thừa thế tiến đến sông Mã,
tràn sang đóng ở đất Hà Trung rồi vây
đánh Yên Trường (thuộc Thanh Hóa) là
chỗ vua Lê đóng. Tình thế vô cùng nguy
khốn, cả vùng đất Yên Trường mịt mù
khói lửa, dân chúng hoảng hốt bồng bế
nhau đi tản cư, tiếng kêu khóc vang trời.
37
Bấy giờ vua Lê Trung Tông đã chết, vua Anh Tông nối ngôi
phải bỏ chạy về Đông Sơn, phong cho Trịnh Tùng làm Tả Thừa
tướng, Tiết chế quân đội để chống giữ với quân Mạc. Trịnh Tùng
sai các tướng trấn giữ những nơi hiểm yếu, cố thủ rất chắc chắn.
Kính Điển đánh mãi không được, hết lương, phải rút quân về.
38
Tuy Trịnh Cối đã về hàng quân Mạc nhưng nội bộ quân Lê Trịnh vẫn căng thẳng bởi Trịnh Tùng chuyên quyền, hống hách,
lấn lướt vua Lê khiến vua lo ngại, tính trừ khử. Trịnh Tùng liền
giết cả vua cùng bốn hoàng tử rồi lập hoàng tử út là Duy Đàm
mới 5 tuổi lên ngôi, tức Lê Thế Tông. Từ đây, vua Lê chỉ răm rắp
nghe theo họ Trịnh.
39
Biết lòng người chưa yên, trong suốt 10 năm, từ năm Quý Dậu
(1573) đến Quý Mùi (1583), quân Nam triều chỉ lo giữ vững đất
bản địa từ Thanh Hóa, Nghệ An trở vào đến Thuận Hóa để gây
dựng lực lượng, tích trữ lương thảo... mưu sự lâu dài.
40
Trong khi đó, nhân cơ hội lúc này phía Nam chưa ổn định,
quân Bắc triều liên tục tấn công. Các tướng Mạc như Kính Điển,
Nguyễn Quyện, Ngọc Liễn nhiều lần vào đánh Thanh Hóa, có
trận được, có trận thua nhưng không bao giờ chiếm giữ được nên
đành phải rút quân.
41
Đến năm Quý Mùi (1583), Trịnh Tùng xem
thế quân mình đã mạnh nên nhiều lần cử binh
ra đánh Sơn Nam, cướp được vô số thóc gạo,
của cải, đàn bà con gái đem về.
42
Bấy giờ Mạc Kính Điển, trụ cột triều đình nhà Mạc, chết trong
khi Mạc Mậu Hợp không lo chính sự. Vì thế các quan, người về
hàng Lê - Trịnh, người xin từ quan, người tránh né không đến
công đường... nên lòng người ly tán. Hơn nữa, binh lính hao hụt,
sức chiến đấu giảm sút, tiền của dốc vào các cuộc hành binh liên
miên nên cạn kiệt.
43
Vì thế nhà Mạc không đủ
sức mở các cuộc tiến công vào
Thanh Hóa như trước, phải từ
thế công đổi ra thế thủ. Mạc
Mậu Hợp sức cho dân quân
các xứ Sơn Tây, Sơn Nam
phải đắp lũy đất, trồng tre gai
suốt vài trăm dặm từ sông Hát
xuống đến sông Hoa Dinh.
44
Còn ở kinh thành Thăng Long thì đắp thêm ba lũy đất từ Nhật
Chiêu (nay là Nhật Tân, quận Tây Hồ) qua hồ Tây và Cầu Dền
xuống tận bến Thanh Trì. Các lũy này đều cao hơn thành cũ tới
vài trượng. Ngoài ra lại còn đào ba lần hào, có cắm chông gai và
trồng tre bao vây ngoài thành.
45
Lúc bấy giờ quân Nam triều đánh trận nào thắng trận ấy nên
Trịnh Tùng quyết định tiến ra Thăng Long. Tùng sai Trịnh Văn
Hải và Nguyễn Thất Lý đem binh trấn thủ các cửa bể và nơi hiểm
yếu, sai Lê Hòa ở lại giữ ngự dinh. Phòng bị đâu đó xong, Tùng
thân chinh đem 6 vạn quân chia làm 5 đội ra cửa Thiên Quan
(Ninh Bình), qua núi Yên Mã, tiến lên Tân Phong, Phúc Lộc rồi
kéo về đóng ở Tốt Lâm (Sơn Tây).
46
Tin quân Lê - Trịnh động binh cấp báo về triều. Sau khi bàn
bạc với các tướng, Mạc Mậu Hợp vội điều động quân của bốn vệ
và năm phủ được hơn 10 vạn. Rồi sai Mạc Ngọc Liễn và Nguyễn
Quyện lãnh hai đạo Tả quân và Hữu quân, còn mình đích thân
dẫn Trung quân kéo đến đóng đối trận với quân của Trịnh Tùng.
47
Thấy quân Mạc kéo đến, Trịnh Tùng bèn đốc thúc tướng sĩ, thề
quyết đánh tan giặc để báo thù. Quân Lê - Trịnh đánh rất hăng,
quân Mạc chống không nổi, thua to, chết đến hơn vạn người. Mạc
Mậu Hợp bỏ chạy. Quân Lê - Trịnh thừa thắng đuổi theo đến sát
thành Thăng Long, đốt phá nhà cửa, khói lửa ngút trời để uy hiếp.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Phân tranh Nam Bắc triều và đoạn kết nhà Mạc ở Cao Bằng / Trần Bạch Đằng chủ
biên; Đinh Văn Liên biên soạn; họa sĩ Nguyễn Quang Vinh, Tái bản lần thứ 1. TP. Hồ Chí
Minh: Trẻ 2013
80tr.; 20cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.42).
1. Việt Nam Lịch sử 15921788 Sách tranh 2. Việt Nam Lịch sử Triều nhà Mạc,
15271592 Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử Việt Nam
bằng tranh.
1. Vietnam History 15921788 Pictorical works. 2. Vietnam History Mạc dynasty,
15271592 Pictorical works.
959.70272 — dc 22
P535
LỜI GIỚI THIỆU
Nhà Mạc lấy ngôi của nhà Lê năm 1527 thì 6 năm
sau, 1533, nhà Lê với sự giúp sức của Nguyễn Kim đã
trung hưng ở Thanh Hóa. Đất nước bị chia làm hai vùng,
nhà Mạc thống trị ở vùng Bắc bộ ngày nay được sử cũ
gọi là Bắc triều. Nhà Lê - Nguyễn, từ năm 1545 Nguyễn
Kim chết là Lê - Trịnh, nắm quyền hành từ vùng Thanh
Hóa trở vào được gọi là Nam triều.
Các nhà nghiên cứu tổng kết: trong 60 năm chiến
tranh (1533-1592) giữa Lê và Mạc đã diễn ra 38 trận
lớn nhỏ, dốc hết quốc khố cùng sức dân, nhân tài vào
việc tranh giành quyền lực. Chỉ có người dân vô tội phải
chịu cảnh lầm than, ly tán, ruộng đồng bỏ hoang, không
người trồng trọt.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 42
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Phân tranh Nam
- Bắc triều và đoạn kết nhà Mạc ở Cao Bằng” phần lời
do Đinh Văn Liên biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
Quang Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 42 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Cuộc nội chiến ác liệt giữa Bắc triều và Nam triều
kéo dài hơn nửa thế kỷ đã làm cho đời sống nhân dân vô
cùng cực khổ. Nghịch cảnh này theo miêu tả của Lê Quý
Đôn trong Đại Việt thông sử thật là bi đát: Năm 1591, khi
Trịnh Tùng kéo quân ra Thăng Long đã “chém đầu hơn
một vạn quân địch, máu chảy khắp nơi, thây chất thành
non” hay “con sông Mã từ bến Ứng trở xuống, sông Lam
từ bến Bổng trở xuống khói lửa ngất trời, bóng cờ ngợp
đất; nhân dân cõng già, dắt trẻ, chạy trốn lưu ly, ngoài
đường vang tiếng kêu khóc”.
4
Thời nhà Mạc, sự yên bình để xây dựng đất nước thật ngắn
ngủi. Khi Mạc Đăng Dung lấy ngôi nhà Lê, nhiều cựu thần trốn đi,
trong đó có Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An Thanh hầu Nguyễn
Kim, con của Nguyễn Hoằng Dụ. Kim trốn sang Ai Lao (thuộc
trấn Man Phủ đất Thanh Hóa), được vua nước ấy là Xạ Đẩu giúp
đỡ binh khí và lương thực. Dưới thời Mạc Đăng Doanh (15301540), lực lượng Nguyễn Kim dần dần lớn mạnh.
5
Nguyễn Kim cho người đi tìm con cháu nhà Lê.
Bấy giờ có người con út của vua Lê Chiêu Tông là
Lê Duy Ninh, khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi mới
11 tuổi, được Lê Quán cõng chạy trốn sang Ai Lao,
đổi tên là Huyến. Vào năm 1532, Nguyễn Kim tìm được
Ninh rước về Sầm châu lập lên làm vua, tức Lê Trang Tông(*).
* Từ đây bắt đầu thời kỳ mà sử gọi là Lê Trung hưng nhưng thực chất các vua Lê
thời này bị họ Trịnh chi phối.
6
Từ khi có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Kim đã quy tụ được
lực lượng của các cựu thần nhà Lê nên ngày càng mạnh. Năm
1537, một viên tướng nhà Mạc là Tây An hầu Lê Phi Thừa quản
lĩnh 7 vùng ở Thanh Hóa khởi quân cướp phá của cải khắp ba ty
rồi chạy sang Ai Lao đầu hàng quân Lê - Nguyễn.
7
Nhân cơ hội đó, năm 1539, quân Lê - Nguyễn tiến về tấn công
Nghệ An, Thanh Hóa và đến năm 1543 (dưới đời Mạc Phúc Hải
1541-1546) thì chiếm được hai vùng này để làm căn cứ. Từ đây
Đại Việt tồn tại hai vương triều: Mạc và Lê.
8
Năm 1545, người trung hưng nhà
Lê là Nguyễn Kim bị chết vì thuốc
độc, con rể là Trịnh Kiểm lên thay.
Kiểm là người có tài nên lực lượng
Lê - Trịnh ngày càng được củng cố.
Trong khi đó, Mạc Phúc Hải chỉ mải
vui chơi, ít lo việc nước. Vì thế, khi
vua Lê Trang Tông nhiều lần thân
chinh làm tướng kéo quân đánh ra
Yên Mô (Ninh Bình), quân Mạc
chống đỡ vô cùng vất vả.
9
Sang đời Mạc Phúc
Nguyên (1546-1561), lợi
dụng vua Mạc nối ngôi còn
nhỏ, nội bộ nhà Mạc lục đục vì tranh
chấp quyền hành, quân Lê - Trịnh một mặt tấn công ra
Bắc, một mặt đem quân tiến đánh các vùng phía Nam. Các châu
Hoan, Diễn (Nghệ An, Hà Tĩnh), Ô (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên), Quảng (Quảng Nam, Đà Nẵng) đều hàng phục. Từ đây,
đất nước chia làm hai: Thanh Hóa trở ra là Bắc triều (nhà Mạc),
Thanh Hóa trở vào là Nam triều (nhà Lê - Trịnh).
10
Mùa thu năm 1555, nhà Mạc sai Thiên vương Mạc Kính Điển
đem quân vào cướp lại Thanh Hóa, cho Thọ Quận công làm tiên
phong đem 100 chiến thuyền đi trước. Hôm sau, Mạc Kính Điển
đem quân đến hội ở sông Đại Lại, đóng ở núi Kim Sơn để trợ lực
cho quân tiên phong.
11
Nghe tin, quân Lê - Trịnh lệnh cho dân chúng hai bên bờ sông
không được kinh động rồi chia ra mai phục. Một lực lượng do
Thái úy Đình Công đốc suất các tướng nhà Mạc về hàng như Lê
Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận cùng
binh tướng bản bộ mai phục ở phía nam sông, trên các dãy núi
Yên Định(*) đến núi Quân Yên(**).
*, ** Đều thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay
12
Trịnh Kiểm đích thân dẫn quân mai phục ở phía bắc sông từ
núi Bạch Thạch đến Kim Sơn, chọn 50 con voi phục ở chân núi.
Lại sai Phạm Đốc đem thủy quân cùng tướng Mạc về hàng là
Nguyễn Quyện và hơn 10 chiến thuyền chiếm cứ mạn thượng lưu
sông, đi lại làm thế ỷ giốc.
13
Hôm sau, giờ Tỵ, thuyền quân Mạc kéo qua Kim Sơn đến chợ
Ông Cung (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Không thấy quân Lê - Trịnh
động tĩnh, quân Mạc đâm ra chủ quan. Trong các chiến thuyền,
quân Mạc đàn sáo ca hát như đi vào chỗ không người.
14
Gần trưa, bất chợt có một tiếng súng lệnh nổ vang ở núi Quân
Yên. Rồi dọc hai bờ sông liên tiếp có bảy tiếng súng đáp lại. Sau
đó, quân Lê - Trịnh từ những chỗ mai phục đổ ra. Voi ở thượng lưu
đã qua sông hăng hái tranh nhau tiến tới, binh thuyền của Phạm
Đốc và Nguyễn Quyện cũng thuận dòng lao xuống. Tất cả nhất
loạt vây quân Mạc mà đánh.
15
Quân Mạc bị động, quăng hết thương giáp bỏ chạy, cùng đường
nhảy xuống sông chết đuối rất nhiều. Tướng tiên phong quân
Mạc trốn không kịp bị bắt sống. Trận này quân Mạc tổn thất đến
mấy vạn người, Mạc Kính Điển vội vàng thu nhặt tàn quân rút
lui. Những tướng Mạc không hàng đều bị chém ở núi Đồng Lộc.
16
Tháng 7 năm 1557, nhà Mạc lại sai Mạc Kính
Điển đem quân vào chiếm lại Thanh Hóa. Quân
Mạc kéo đến sông Thần Phù và vùng Tống Sơn,
Nga Sơn (giáp giới giữa Ninh Bình và Thanh
Hóa), đốt phá cầu phao, thanh thế rất mạnh.
17
Bên Lê - Trịnh sai Thanh Quận công giữ Nga Sơn, Thụy Quận
công giữ Tống Sơn. Ai nấy đều đem quân binh ra liều chết chống
giữ, quân Mạc không sao tiến lên được.
18
Trong lúc đó, Thái sư Trịnh Kiểm đích thân chỉ huy binh lương,
ngầm tiến đến chân núi Yên Mô (thuộc Ninh Bình) rồi thẳng tới
cửa biển, đánh úp phía sau quân Mạc. Tiếng súng nổ liên hồi, trên
dưới đánh kẹp vào. Quân Mạc bị rơi vào vòng vây nên rối loạn
và bị giết chết rất nhiều.
19
Lúc bấy giờ quân Lê - Trịnh có Vũ
Lăng hầu rất dũng mãnh, cứ lao thuyền
xông thẳng vào quân Mạc mà đánh.
Gặp thuyền Mạc Kính Điển, Vũ Lăng
hầu tung người nhảy qua, ngay lập tức
chém người cầm dù đứt làm hai đoạn.
20
Trong tình thế nguy cấp, Mạc Kính Điển trở tay không kịp đành
nhảy vội xuống sông lặn một mạch cho xa chỗ nguy hiểm, sau đó
tấp vào một hang núi để ẩn náu. Quân Mạc mất tướng chẳng còn
sức chiến đấu, lớp bỏ thuyền chạy trốn vào rừng núi, lớp ra hàng
quân Lê, còn lại đều bị giết.
21
Mạc Kính Điển ẩn náu suốt ba ngày không có gì ăn nên đói lả,
ban đêm mò ra thấy một thân chuối trôi qua cửa hang đành liều
ôm lấy xuôi theo dòng để tìm đường về. May thay vài ngày sau
đến Yên Mô gặp một người dân đánh cá cứu thoát.
22
Trong khi Mạc Kính Điển đi đánh Thanh Hóa thì Mạc Phúc
Nguyên cũng sai cha con Phạm Quỳnh, Phạm Giao đi đánh Nghệ
An. Trịnh Kiểm sau khi phá tan quân của Mạc Kính Điển, kéo vào
hỗ trợ cho quân Lê - Trịnh ở Nghệ An. Kiểm cho quân giả làm
quân Mạc khiến cha con họ Phạm không đề phòng nên bị đại bại.
23
Thừa thắng, tháng 9 năm đó phía Nam triều
đem 5 vạn quận thủy bộ đánh ra Sơn Nam. Đến
sông Phụng Xí, quân Lê - Trịnh bắc cầu phao qua
sông, phá tan quân Mạc, bắt sống tướng Mạc là
Khánh Quốc công. Quân Mạc tan vỡ.
24
Sau khi đánh dẹp huyện Giao Thủy ở mạn
dưới Sơn Nam, Trịnh Kiểm tự mình chỉ huy bộ
binh, sai Phạm Đốc chỉ huy thủy quân, lấy Vũ
Lăng hầu đem quân thủy đi tiên phong, tung quân
đánh các nơi.
25
Nhà Mạc sai Nguyễn Quyện đem thuyền chiến chống giữ ở
sông Giao Thủy. Vũ Lăng hầu như lần trước lại ép sát vào thuyền
Nguyễn Quyện rồi nhảy sang định chém. Không ngờ Quyện đã
cầm gươm chờ sẵn, Vũ Lăng hầu phải nhảy xuống sông lặn đi.
26
Quyện nhảy sang thuyền của Vũ Lăng hầu chém được đầu của
người cầm dù rồi đưa lên hô lớn: “Đầu Vũ Lăng hầu đây, lũ chúng
mày địch sao nổi ta”. Quân Lê - Trịnh nghe nói thế sợ hãi nhảy cả
xuống sông, toàn quân tan vỡ. Thế trận lại nghiêng về quân Mạc.
27
Thừa thắng, quân Mạc đuổi
đánh, được dân chúng các huyện
hai bên bờ hưởng ứng theo nên khí
thế càng hăng. Quân Lê - Trịnh
chỉ còn cách mạnh ai nấy chạy.
Bị nhà Mạc chặn lối về, quân Lê
- Trịnh càng khốn đốn, sĩ tốt chỉ
một nửa chạy thoát, tướng Trịnh
bị giết đến vài chục người, thuyền
bè khí giới phải vứt bỏ hết. Trịnh
Kiểm phải cố gắng lắm mới đưa
được tàn quân về Thanh Hóa để
chờ dịp rửa hận.
28
Năm Kỷ Mùi (1559), Nam
triều lại đem 6 vạn quân ra đánh
lấy được các tỉnh Sơn Tây, Hưng
Hóa, Thái Nguyên, Kinh Bắc,
Lạng Sơn và một số huyện ở Hải
Dương. Lần này quân Lê - Trịnh
đánh đâu được đó, lấy được các
nơi một cách dễ dàng nên tưởng
việc lớn sắp thành công, nhà Mạc
sắp tiêu vong.
29
Nhưng nhà Mạc lại cho
Mạc Kính Điển đem một
đạo quân đi đường bộ vào
đánh Thanh Hóa. Vì lực
lượng chính đã kéo ra Bắc,
chỉ còn một ít ở lại giữ thành
nên Tây kinh vô cùng nguy
cấp. Quân Nam triều lại phải
bỏ những vùng đất đã chiếm
được, cấp tốc lui binh về giữ
Tây đô.
30
Để phòng thủ, vua Mạc cho quân đóng dọc phía Tây sông Nhị
(sông Hồng), đồn trại san sát, thuyền bè nối nhau, ngày thì gióng
trống báo tin, đêm lại đốt lửa làm hiệu. Khi quân Lê - Trịnh đánh
vào Đông Triều, Chí Linh, quân Mạc lại rút về Thanh Trì. Cứ thế,
hai bên giằng co nhau, không bên nào thắng được bên nào.
31
Năm Tân Dậu (1561), vua Mạc Phúc Nguyên mất, con là Mạc
Mậu Hợp mới 1 tuổi lên nối ngôi. Ứng vương Mạc Đôn Nhượng
(con út Mạc Đăng Doanh) và Khiêm Đại vương Mạc Kính Điển
cùng trông coi triều chính. Vì vua còn nhỏ nên thời kỳ này nhà
Mạc chỉ lo phòng thủ, chống đỡ khi quân Lê - Trịnh tấn công,
lúc cấp bách thì rút khỏi kinh đô.
32
Cuộc chiến Nam - Bắc triều diễn ra vô cùng khốc liệt. Từ năm
1545 đến 1569 là thời kỳ Nam triều tấn công quyết liệt. Quân
Lê - Trịnh đã 11 lần kéo ra đánh phá các trấn Sơn Nam, Sơn Tây,
Kinh Bắc, Hải Dương... hậu phương của nhà Mạc. Quân Mạc cũng
6 lần tấn công vào Thanh Hóa nhưng không bên nào giành được
thắng lợi quyết định.
33
Những cuộc động binh liên miên như vậy đã làm nhân dân cả
nước khánh kiệt, đói kém, phải xiêu dạt khắp nơi. Quân lính cả
hai bên thiệt mạng rất nhiều. Nhất là dân chúng các vùng binh
lửa thì chết chóc, ly tán, cực khổ không kể xiết. Tình cảnh này
khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm phải than: “Đáng chê cười hai kẻ thù
cứ đánh nhau mãi, khắp nơi chỗ nào cũng máu chảy thành sông,
xương chất như núi”.
34
Từ năm 1570, lực lượng Nam triều lại có
phần sa sút. Do Thái sư Trịnh Kiểm mất, trao
quyền cho con là Trịnh Cối nhưng Cối là kẻ
bất tài lại say đắm tửu sắc nên anh em không
phục, tướng sĩ mất lòng tin. Em Trịnh Cối là
Trịnh Tùng muốn cướp quyền của anh nên
cho rước vua Lê về ở đồi Vạn Lại rồi chia
quân đánh nhau với Trịnh Cối.
35
Nhân lúc hai anh em họ Trịnh đánh nhau, Mạc Kính Điển lại
đem hơn 10 vạn quân vào đánh Thanh Hóa. Trịnh Cối vừa lo đối
phó em trai vừa phải chống đỡ với quân Mạc, liệu thế không thể
chống chọi bèn đem 2 vạn quân về hàng họ Mạc và được họ Mạc
cho giữ quan tước như cũ.
36
Quân Mạc thừa thế tiến đến sông Mã,
tràn sang đóng ở đất Hà Trung rồi vây
đánh Yên Trường (thuộc Thanh Hóa) là
chỗ vua Lê đóng. Tình thế vô cùng nguy
khốn, cả vùng đất Yên Trường mịt mù
khói lửa, dân chúng hoảng hốt bồng bế
nhau đi tản cư, tiếng kêu khóc vang trời.
37
Bấy giờ vua Lê Trung Tông đã chết, vua Anh Tông nối ngôi
phải bỏ chạy về Đông Sơn, phong cho Trịnh Tùng làm Tả Thừa
tướng, Tiết chế quân đội để chống giữ với quân Mạc. Trịnh Tùng
sai các tướng trấn giữ những nơi hiểm yếu, cố thủ rất chắc chắn.
Kính Điển đánh mãi không được, hết lương, phải rút quân về.
38
Tuy Trịnh Cối đã về hàng quân Mạc nhưng nội bộ quân Lê Trịnh vẫn căng thẳng bởi Trịnh Tùng chuyên quyền, hống hách,
lấn lướt vua Lê khiến vua lo ngại, tính trừ khử. Trịnh Tùng liền
giết cả vua cùng bốn hoàng tử rồi lập hoàng tử út là Duy Đàm
mới 5 tuổi lên ngôi, tức Lê Thế Tông. Từ đây, vua Lê chỉ răm rắp
nghe theo họ Trịnh.
39
Biết lòng người chưa yên, trong suốt 10 năm, từ năm Quý Dậu
(1573) đến Quý Mùi (1583), quân Nam triều chỉ lo giữ vững đất
bản địa từ Thanh Hóa, Nghệ An trở vào đến Thuận Hóa để gây
dựng lực lượng, tích trữ lương thảo... mưu sự lâu dài.
40
Trong khi đó, nhân cơ hội lúc này phía Nam chưa ổn định,
quân Bắc triều liên tục tấn công. Các tướng Mạc như Kính Điển,
Nguyễn Quyện, Ngọc Liễn nhiều lần vào đánh Thanh Hóa, có
trận được, có trận thua nhưng không bao giờ chiếm giữ được nên
đành phải rút quân.
41
Đến năm Quý Mùi (1583), Trịnh Tùng xem
thế quân mình đã mạnh nên nhiều lần cử binh
ra đánh Sơn Nam, cướp được vô số thóc gạo,
của cải, đàn bà con gái đem về.
42
Bấy giờ Mạc Kính Điển, trụ cột triều đình nhà Mạc, chết trong
khi Mạc Mậu Hợp không lo chính sự. Vì thế các quan, người về
hàng Lê - Trịnh, người xin từ quan, người tránh né không đến
công đường... nên lòng người ly tán. Hơn nữa, binh lính hao hụt,
sức chiến đấu giảm sút, tiền của dốc vào các cuộc hành binh liên
miên nên cạn kiệt.
43
Vì thế nhà Mạc không đủ
sức mở các cuộc tiến công vào
Thanh Hóa như trước, phải từ
thế công đổi ra thế thủ. Mạc
Mậu Hợp sức cho dân quân
các xứ Sơn Tây, Sơn Nam
phải đắp lũy đất, trồng tre gai
suốt vài trăm dặm từ sông Hát
xuống đến sông Hoa Dinh.
44
Còn ở kinh thành Thăng Long thì đắp thêm ba lũy đất từ Nhật
Chiêu (nay là Nhật Tân, quận Tây Hồ) qua hồ Tây và Cầu Dền
xuống tận bến Thanh Trì. Các lũy này đều cao hơn thành cũ tới
vài trượng. Ngoài ra lại còn đào ba lần hào, có cắm chông gai và
trồng tre bao vây ngoài thành.
45
Lúc bấy giờ quân Nam triều đánh trận nào thắng trận ấy nên
Trịnh Tùng quyết định tiến ra Thăng Long. Tùng sai Trịnh Văn
Hải và Nguyễn Thất Lý đem binh trấn thủ các cửa bể và nơi hiểm
yếu, sai Lê Hòa ở lại giữ ngự dinh. Phòng bị đâu đó xong, Tùng
thân chinh đem 6 vạn quân chia làm 5 đội ra cửa Thiên Quan
(Ninh Bình), qua núi Yên Mã, tiến lên Tân Phong, Phúc Lộc rồi
kéo về đóng ở Tốt Lâm (Sơn Tây).
46
Tin quân Lê - Trịnh động binh cấp báo về triều. Sau khi bàn
bạc với các tướng, Mạc Mậu Hợp vội điều động quân của bốn vệ
và năm phủ được hơn 10 vạn. Rồi sai Mạc Ngọc Liễn và Nguyễn
Quyện lãnh hai đạo Tả quân và Hữu quân, còn mình đích thân
dẫn Trung quân kéo đến đóng đối trận với quân của Trịnh Tùng.
47
Thấy quân Mạc kéo đến, Trịnh Tùng bèn đốc thúc tướng sĩ, thề
quyết đánh tan giặc để báo thù. Quân Lê - Trịnh đánh rất hăng,
quân Mạc chống không nổi, thua to, chết đến hơn vạn người. Mạc
Mậu Hợp bỏ chạy. Quân Lê - Trịnh thừa thắng đuổi theo đến sát
thành Thăng Long, đốt phá nhà cửa, khói lửa ngút trời để uy hiếp.
48
 





