TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    8.jpg 7.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 1.jpg KHKT3.jpg KHKT6.jpg KHKT7.jpg

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi Quý thầy cô và các em học sinh thân mến, Thư viện trân trọng giới thiệu Trang học liệu số – một kho tài nguyên tri thức phong phú được tuyển chọn dành riêng cho cộng đồng nhà trường. Tại đây, thầy cô và các em có thể truy cập sách điện tử, bài giảng tham khảo, tài liệu học tập theo chủ đề, video hướng dẫn kỹ năng đọc – tìm kiếm – sử dụng thông tin, cùng nhiều nguồn học liệu bổ ích khác. Việc khai thác trang học liệu là một cách mở rộng không gian học tập vượt ra ngoài lớp học, giúp các em rèn luyện tư duy, phát triển kỹ năng tự học và nuôi dưỡng niềm đam mê khám phá tri thức. Thầy cô có thể sử dụng các tài nguyên này để bổ trợ bài giảng, thiết kế hoạt động đọc hiệu quả và truyền cảm hứng học tập cho học sinh. Xin mời thầy cô và các em truy cập ngay hôm nay để trải nghiệm và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này. Mỗi trang học là một cơ hội để chúng ta cùng lớn lên về kiến thức và tư duy.

    💕💕Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với những bộ óc vĩ đại nhất của các thế kỷ đã qua.” – Descartes💕Điều chúng ta biết chỉ là giọt nước, điều chúng ta chưa biết là đại dương💕

    Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh 44 - Chiến tranh Trịnh-Nguyễn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 15h:51' 17-11-2024
    Dung lượng: 5.3 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Lê Văn Năm
    Chiến tranh Trịnh-Nguyễn / Lê Văn Năm ; m.h. Nguyễn Huy Khôi. - T.P. Hồ Chí Minh
    : Trẻ, 2013.
    80tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.44).
    1. Việt Nam — Lịch sử — 1627-1672 — Sách tranh. I. Nguyễn Huy Khôi m.h. II. Ts:
    Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    959.7 — dc 22
    L433-N17

    LỜI GIỚI THIỆU
    Cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn đã đẩy đất nước ta vào con
    đường tiếp tục chia cắt với các cuộc chiến tranh triền miên.
    Trong 48 năm ròng rã, đã có 7 trận đánh lớn. Chiến trường
    chủ yếu là ở hai bờ sông Gianh và vùng Nghệ An, Hà Tĩnh và
    Quảng Bình ngày nay.
    Sau nhiều cuộc giao tranh gay gắt, hai tập đoàn phong kiến
    này đều kiệt quệ về sức người, sức của nên phải chấp nhận đình
    chiến, chia cắt đất nước. Sông Gianh, sử sách hay gọi là Linh
    Giang, trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Trong
    và Đàng Ngoài. Họ Trịnh ở Đàng Ngoài lại tập trung lực lượng
    diệt Mạc ở mạn Cao Bằng. Họ Nguyễn thì lại ra sức mở mang
    bờ cõi vốn đã nhỏ hẹp ở Đàng Trong.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 44 của bộ
    Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chiến tranh Trịnh – Nguyễn”
    phần lời do Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn
    Huy Khôi, Lâm Chí Trung thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 44 của bộ
    Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    “Chiến tranh Trịnh – Nguyễn” mở đầu khi chúa
    Trịnh Tráng từ Đàng Ngoài (ở phía bắc sông Gianh)
    đem quân tiến đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên ở Đàng
    Trong (ở phía nam sông Gianh). Cả hai đều lấy danh
    nghĩa “phù Lê” để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành
    với nhà Hậu Lê. Nhưng thật ra hai bên đều có những
    mưu toan riêng cho mình, biến vua Lê thành bù nhìn,
    không có thực quyền.

    4

    Năm 1623, Trịnh Tùng quyết định nhường ngôi chúa cho con
    trưởng là Trịnh Tráng. Biết tin, Trịnh Xuân - em ruột Trịnh Tráng
    - dẫn quân tấn công kinh thành Thăng Long. Trịnh Tráng bèn sai
    người ám sát Trịnh Xuân. Tuy Trịnh Xuân đã bị giết nhưng đám
    loạn quân vẫn đánh phá kinh thành Thăng Long. Trịnh Tráng phải
    dẫn vua Lê Duy Kỳ chạy về Thanh Hóa lánh nạn.

    5

    Bấy giờ, họ Mạc tuy đã suy yếu nhưng vẫn được nhiều người
    ủng hộ. Nhân Thăng Long rối loạn, Mạc Kính Khoan dẫn một
    vạn quân từ Cao Bằng về Gia Lâm với ý định chiếm lại thành
    Thăng Long.

    6

    Trịnh Tráng kéo quân từ Thanh Hóa ra Thăng Long và nhanh
    chóng đánh bại đám loạn quân của Trịnh Xuân. Tiếp đó, Trịnh
    Tráng dẫn cả hai đạo quân thủy bộ đánh sang Gia Lâm. Mạc Kính
    Khoan thua trận, phải chạy về Cao Bằng. Sau trận này, Trịnh Tráng
    còn kéo quân lên Cao Bằng nhưng không đánh bại được họ Mạc.
    Năm 1625, Mạc Kính Khoan viết thư xin hàng nhà Lê và được
    phong làm Thái úy, Thông Quốc công, trấn giữ đất Cao Bằng.

    7

    Sau khi chiếm lại Thăng Long, Trịnh Tráng đưa vua Lê Duy
    Kỳ về kinh đô. Vua Lê phong cho Trịnh Tráng làm Nguyên soái
    Thống quốc, Thanh Đô vương.

    8

    Cũng giống như cha là Trịnh Tùng, Trịnh Tráng nắm toàn
    quyền điều hành triều đình, đất nước. Trịnh Tráng còn gả con gái
    mình là Trịnh Thị Ngọc Hạnh cho vua Lê. Ngọc Hạnh đã có bốn
    người con với bác ruột của vua Lê Duy Kỳ là Lê Trụ - người bị
    họ Trịnh bắt giam vì âm mưu lật đổ
    họ Trịnh. Vì nể sợ uy quyền của họ
    Trịnh, vua Lê Duy Kỳ đành phải
    chấp nhận.

    9

    Sau khi lên ngôi chúa, Trịnh Tráng lập Ngọc Thư - con gái
    Nguyễn Hoàng - làm chánh cung. Như vậy, quan hệ giữa hai họ
    Trịnh, Nguyễn là quan hệ anh em, thông gia. Nhưng dù vậy, cả
    hai họ Trịnh - Nguyễn vẫn luôn tìm cách tiêu diệt nhau. Trước đó,
    từ năm 1620, Chưởng cơ Hiệp và Trạch là em của chúa Nguyễn
    Phúc Nguyên ngầm sai người ra Bắc xin chúa Trịnh trợ giúp mình
    cướp ngôi.

    10

    Chúa Trịnh Tùng (cha Trịnh Tráng) bèn sai Đô đốc Nguyễn
    Khải đêm 5.000 quân vào Nhật Lệ tiếp ứng cho Hiệp và Trạch.
    Nhưng âm mưu nổi loạn bị bại lộ, Chưởng cơ Hiệp và Trạch bị
    chúa Nguyễn Phúc Nguyên giết đi. Đô đốc Nguyễn Khải đành
    phải dẫn quân trở về. Sau việc này, chúa Nguyễn Phúc Nguyên
    không chịu nộp thuế cho triều đình Lê - Trịnh. Từ đây, cả hai họ
    Trịnh - Nguyễn lộ rõ âm mưu thôn tính lẫn nhau.
    11

    Thời gian này, người Tây phương đã để mắt đến
    vùng Đông Á và Đông Nam Á. Từ năm 1498, nhà thám
    hiểm Vasco da Gama đã từ châu Âu đi về hướng Đông,
    vòng qua mũi Hảo Vọng (cực nam châu Phi) để đến Ấn
    Độ. Từ năm 1519 đến năm 1522, đoàn thám hiểm của
    Magellan lại từ châu Âu đi về hướng Tây, qua châu Mỹ,
    đến Philippines rồi trở về châu Âu, kết thúc chuyến đi
    vòng quanh thế giới.

    12

    13

    Sau chuyến đi của Magellan, thực dân Bồ Đào Nha đã xâm
    chiếm Goa (một bang thuộc Ấn Độ ngày nay), eo biển Mã Lai,
    các đảo ở Indonesia và Áo Môn (Trung Quốc). Năm 1568, người
    Tây Ban Nha chiếm quần đảo Philippines làm thuộc địa. Từ đây,
    họ cho các thương thuyền đi khắp các quốc gia châu Á buôn bán,
    đặc biệt là đi mua hương liệu.

    14

    Sang thế kỷ XVII, người Hà Lan lại chiếm lĩnh được thị trường
    buôn bán với các quốc gia châu Á. Năm 1602, người Hà Lan thành
    lập công ty Đông Ấn Hà Lan, chuyên hoạt động buôn bán với các
    nước thuộc vùng Ấn Độ, Đông Nam Á, Trung Quốc và Nhật Bản.

    15

    Tuy là công ty thương mại nhưng Đông Ấn Hà Lan còn có
    cả tàu chiến để tranh giành thị trường với người Tây Ban Nha,
    Bồ Đào Nha, Anh. Họ dùng vũ lực để chiếm một số hòn đảo ở
    Indonesia. Nơi nào không thể dùng vũ lực, họ lại xin đặt thương
    điếm để buôn bán.

    16

    Những thương nhân Bồ Đào Nha là những người phương Tây
    đầu tiên đặt chân đến nước ta, vào đầu thập niên 1540. Thuyền
    buôn của họ xuất phát ở Áo Môn (Trung Quốc) và cập bến Hội
    An. Chúa Nguyễn đã mua vũ khí của người Bồ Đào Nha để tăng
    cường sức mạnh cho quân Đàng Trong. Chúa cũng giao cho Joan
    da Cruz, một người Bồ, quản lý một cơ sở chuyên đúc súng và
    các vật dụng bằng đồng.

    17

    Trong khi đó, ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh cũng mở cửa đón tiếp
    thương nhân phương Tây. Năm 1626, người Bồ Đào Nha mở rộng
    buôn bán ra Đàng Ngoài nhưng không được chúa Trịnh tin cậy.
    18

    Tháng 5 năm 1637, thương thuyền của
    Hà Lan đến Đàng Ngoài, tặng chúa Trịnh
    Tráng hai khẩu đại bác. Từ đó, ngoài các
    hàng hóa thông thường, người Hà Lan còn
    mang đến Đàng Ngoài nhiều loại súng thần
    công và hàng quân dụng khác.
    Chúa Trịnh tin cậy những người Hà
    Lan. Chúa Trịnh còn ép vua Lê Duy Kỳ
    phải viết thư nhờ công ty Đông Ấn Hà
    Lan ở Batavia (Indonesia) giúp chúa Trịnh
    đánh dẹp chúa Nguyễn.

    19

    Để chuẩn bị tiến đánh Đàng Trong, chúa Trịnh Tráng cho bắt
    thêm nhiều dân phu vào lính. Trong trận đánh đầu tiên vào năm
    1627, chúa Trịnh Tráng đã huy động đến 20 vạn quân thủy bộ và
    600 thớt voi trận.

    20

    Ở Đàng Trong, theo kế của Đào Duy Từ, chúa Nguyễn Phúc
    Nguyên cũng cho tuyển mộ người khỏe mạnh, biết võ nghệ vào
    quân đội. Do có sự chênh lệch nhau rất lớn về mặt diện tích và
    dân số nên thời gian đầu của cuộc chiến, xứ Đàng Trong chỉ có
    khoảng hai vạn quân. Đến những năm cuối của cuộc chiến, quân
    số xứ Đàng Trong cũng chỉ có khoảng bốn vạn quân.

    21

    22

    Về thủy quân, chúa Trịnh có từ 600 đến 1.000 chiến
    thuyền trong khi chúa Nguyễn chỉ có khoảng 200 chiếc. Các
    chiến thuyền của Đàng Ngoài dài và có mạn thấp. Thông
    thường mỗi bên thuyền có từ 25 đến 40 tay chèo, mỗi tay
    chèo có một hoặc hai người, có thể vừa chèo vừa chiến đấu.
    23

    Khi di chuyển, trên mỗi thuyền đều có một người điều khiển
    bằng “một dụng cụ được làm bằng tre”. Các tay chèo nghe hiệu
    lệnh của người đó mà chèo thuyền. Cả dãy năm bảy chiến thuyền
    “dù chạy không ngừng, lượn vòng hay lùi, rẽ đều tăm tắp như thể
    do một người điều khiển vậy”.

    24

    Thủy quân Đàng Trong tuy ít hơn, lại đóng rải rác từ Nhật
    Lệ (Quảng Bình) đến Quy Nhơn (Bình Định) nhưng - theo ghi
    chép của giáo sĩ Alexander de Rhodes - khi tập trận, các thuyền
    di chuyển thành thục tới mức cả dãy thuyền lướt đi “không lệch
    nhau đến một đốt ngón tay”.
    25

    Dù là chiến thuyền Đàng Trong hay Đàng Ngoài thì mũi thuyền
    cũng là nơi quan trọng nhất. Mũi thuyền thường có một phòng
    hay một ngai được trạm trổ, sơn son thếp vàng. Phần đuôi thuyền
    thường được làm bằng gỗ tốt, được sơn thếp cầu kỳ. Mái chèo và
    cột buồm cũng được trang trí cầu kỳ. Mỗi chiến thuyền thường
    được trang trí một khẩu thần công cỡ lớn hoặc trung ở mũi thuyền
    và hai khẩu ở đuôi thuyền.
    26

    Đầu năm 1627, để có cớ xuất quân, chúa Trịnh Tráng sai người
    đem sắc chỉ của vua Lê vào Thuận Hóa buộc chúa Nguyễn phải
    đưa con ra chầu vua Lê, phải nộp 30 thớt voi đực, 30 chiến thuyền
    đi biển để cống cho nhà Minh (Trung Quốc). Lấy cớ nhà Minh
    xưa nay chỉ đòi cống phẩm là vàng và kỳ nam còn con cháu thì
    đang bận trấn thủ biên cương, chúa Nguyễn từ chối.

    27

    Tháng 3 năm 1627, lấy cớ đưa vua Lê đi xem xét tình hình
    các địa phương, Trịnh Tráng đem quân vào cửa sông Nhật Lệ.
    Quân Trịnh gồm 20 vạn quân bộ, 600 thớt voi, 200 chiến thuyền.
    Thuyền ngự của vua Lê đóng ở cửa Roòn (nay thuộc xã Quảng
    Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình).

    28

    Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai cháu là Nguyễn Phúc Vệ làm
    Tiết chế, thống lĩnh ba quân; Nguyễn Hữu Dật làm Đại tướng,
    thống lĩnh quân bộ; con trai thứ tư là Nguyễn Phúc Trung làm Đô
    đốc thống lĩnh thủy quân cùng nhau trấn giữ bờ bắc sông Nhật Lệ.

    29

    Khi tướng tiên phong của chúa Trịnh là Nguyễn Khải dẫn quân
    đến sông Nhật Lệ thì bị quân chúa Nguyễn vây đánh. Quân Trịnh
    bèn tập trung kỵ binh đánh thẳng vào doanh trại quân Nguyễn
    khiến quân Nguyễn phải xuống thuyền, rút về bờ nam. Nguyễn
    Khải bèn cho quân lập trại ở bờ bắc.

    30

    Lợi dụng khi thủy triều lên, chiến thuyền của chúa Nguyễn tiến
    đến gần doanh trại, dùng súng thần công bắn quân Trịnh. Bị tấn
    công bất ngờ, quân Trịnh rối loạn.

    31

    Nghe tin, chúa Trịnh Tráng vội đem đại quân
    đến tiếp ứng. Thủy quân Đàng Trong và Đàng
    Ngoài giao chiến tại cửa bể. Thủy quân chúa
    Trịnh được bộ binh bắn súng thần công giúp
    sức nên nhanh chóng đánh bại quân chúa
    Nguyễn. Nhân đó, chúa Trịnh Tráng xua
    quân qua bờ nam sông Nhật Lệ.

    32

    Khi quân Trịnh còn đang mải mê thu nhặt chiến lợi phẩm thì
    chúa Nguyễn cho tượng binh phản công. Quân Trịnh bị bất ngờ,
    phải lui về bờ bắc.

    33

    Nhận thấy càng đánh lâu sẽ càng bất lợi, Đại tướng Nguyễn
    Hữu Dật bèn sai người loan tin Trịnh Gia và Trịnh Nhạc ở phía
    bắc đang liên kết với họ Mạc để cướp ngôi.

    34

    Khi thủy quân đã tổn thất nặng nề, lại thêm lo lắng ở hậu
    phương có loạn nên Trịnh Tráng quyết định rút quân về Thăng
    Long. Như vậy, cuộc chiến lần đầu tiên của hai họ Trịnh, Nguyễn
    kết thúc sau bốn tháng giao tranh.

    35

    Tháng 4 năm 1629, chúa
    Trịnh Tráng sai người mang
    sắc của vua Lê phong cho chúa
    Nguyễn Phúc Nguyên làm Thái
    bảo, tước Thụy Quốc công. Lại
    ra lệnh cho chúa Nguyễn phải
    đem quân ra Bắc trợ giúp vua
    Lê đánh họ Mạc ở Cao Bằng.

    36

    Theo kế của quân sư Đào Duy Từ, chúa Nguyễn Phúc Nguyên
    vẫn nhận sắc phong nhưng mặt khác vẫn lên kế hoạch đắp lũy
    Trường Dục nhằm ngăn chặn bước tiến của quân nhà Trịnh. Năm
    1630, chúa Nguyễn khởi công đắp lũy, hẹn đến năm sau phải
    xong.
    37

    Lũy nằm trên một vùng địa thế hiểm trở, chặn ngang con đường
    duy nhất tiến từ bắc vào nam. Phía tây của lũy là dãy Trường Sơn
    trùng điệp, phía đông của lũy là phá Hạc Hải (nay thuộc huyện
    Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình). Phá Hạc Hải vốn là vùng đầm lầy
    nguy hiểm, từ phá Hạc Hải tới biển là những đồi cát trùng điệp.
    Trước lũy là con sông Rào Đa như một hào nước thiên nhiên. Lũy
    đắp bằng đất ngoằn ngoèo, cao 3m, rộng 6m, dài khoảng 10km.

    38

    39

    Khi đắp xong lũy, theo lời khuyên của Đào Duy Từ, chúa
    Nguyễn cho làm một chiếc mâm có hai đáy, đặt vào giữa hai đáy
    bản sắc phong vua Lê ban cho và một bài thơ rồi sai Văn Khuông
    đem mâm ra Thăng Long.

    40

    Đến nơi, được triều kiến, Văn Khuông dâng lên
    chúa Trịnh mâm đồng và bài thơ. Những điều chúa
    Trịnh hỏi, Văn Khuông đối đáp trôi chảy, có lý lẽ.
    Chúa Trịnh nể phục, cho về dịch quán. Khuông
    và các tùy tùng mượn cớ đi dạo phố mà lẻn xuống
    thuyền, trốn về Đàng Trong.

    41

    Hôm sau, chúa Trịnh biết chuyện thì giận lắm. Các quan thấy
    mâm đồng có hai đáy, mới tách ra xem. Thấy bản sắc phong của
    vua Lê cùng một bài thơ: “Mâu nhi vô địch / Mịch phi kiến tích /
    Ái lạc tâm trường / Lực lai tương địch”. Chúa Trịnh Tráng hỏi
    các quan nhưng không ai biết. Sau này, có người chỉ ra rằng đó
    là phép chiết tự và đại ý của bài thơ là “Dư bất thụ sắc” tức “Ta
    không nhận sắc”.

    42

    Cùng với việc trả lại bản sắc phong, chúa Nguyễn Phúc Nguyên
    còn sai võ tướng Nguyễn Đình Hùng đem quân đi đánh châu Nam
    Bố Chính (nay là huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình), đuổi quân
    Trịnh về bờ bắc sông Gianh. Chiếm được vùng đất này, chúa
    Nguyễn lập ra dinh Bố Chính, giao cho Trương Phúc Phấn trấn giữ.

    43

    44

    Năm 1631, nhận thấy lũy Trường Dục tuy hiểm yếu nhưng
    không thể bảo vệ an toàn cho xứ Đàng Trong, chúa Nguyễn
    Phúc Nguyên cho xây thêm lũy Nhật Lệ. Lũy này cách lũy
    Trường Dục khoảng 10km về phía bắc. Lũy rộng 6m, dài
    12km, phía ngoài đóng cọc gỗ lim, phía trong có bậc tam cấp
    để voi ngựa lên xuống. Cứ cách từ ba đến năm trượng đặt một
    khẩu súng thần công, cách một trượng đặt một máy bắn đá.

    45

    Phía nam lũy Nhật Lệ, chúa Nguyễn cho xây dinh trấn thủ, gọi
    là dinh Mười, tại làng Võ Xá (nay thuộc xã Dinh Mười, huyện
    Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Dinh rộng gần 4 dặm vuông. Dinh
    nơi đóng quân và trữ lương nên được xây dựng kiên cố, bên ngoài
    đào hào, bên trong đắp lũy chắc chắn.

    46

    Hay tin chúa Nguyễn xây thành đắp lũy, chúa Trịnh cho tập
    hợp quân lương, chuẩn bị đánh xứ Đàng Trong. Năm 1633, chúa
    Trịnh nhận được thư của Nguyễn Phúc Anh là con trai của Nguyễn
    Phúc Nguyên. Trong thư, Nguyễn Phúc Anh xin chúa Trịnh đem
    quân đánh vào Đàng Trong, Nguyễn Phúc Anh sẽ làm nội ứng.

    47

    Cuối năm ấy, chúa Trịnh
    cùng vua Lê đem quân vào đóng ở
    bãi cát phía nam cửa biển Nhật Lệ. Nhưng
    đợi cả mười ngày mà không thấy Nguyễn
    Phúc Anh làm nội ứng, lại bị quân Đàng Trong
    đánh bại mấy lần, chúa Trịnh đành sai con rể là
    Nguyễn Khắc Loát trấn giữ châu Bắc Bố Chính còn
    mình thì rút quân về Thăng Long.

    48
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là đầu tư duy nhất càng dùng càng sinh lợi trí tuệ.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TIỀN TIẾN - NAM ĐỒNG - TP HẢI PHÒNG !