Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
Lịch sử Việt Nam bằng tranh 52- Chúa Minh - chúa Ninh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 13h:19' 23-11-2024
Dung lượng: 5.3 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 13h:19' 23-11-2024
Dung lượng: 5.3 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH TP.HCM THỰC HIỆN
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Chúa Minh – chúa Ninh / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn. - T.P. Hồ Chí Minh :
Trẻ, 2014.
92tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.52).
1. Nguyễn Phúc Chu, 1675-1725. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- 1592-1788. 3. Việt Nam -- Vua và quần
thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Nguyễn Phúc Chu, 1675--1725. 2. Vietnam -- History --1592-1788. 3. Vietnam -- King and rulers.
959.70272 -- dc 22
C559
LỜI GIỚI THIỆU
Sau những năm tháng dài Trịnh – Nguyễn phân tranh làm kiệt
quệ về cả sức người, sức của, Đàng Trong và Đàng Ngoài chấp
nhận đình chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới phân chia đất
nước. Nguyễn Phúc Chu lên ngôi chúa khi Trịnh – Nguyễn đã đình
chiến, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho Đàng Trong phát triển.
Chúa ra sức mở rộng lãnh thổ của Đàng Trong xuống phương
Nam, xác định chủ quyền của nước ta với Hoàng Sa, Trường Sa;
chiêu hiền đãi sĩ, nhẹ thuế má lao dịch, giảm hình phạt,... Đặc
biệt, người còn có những đóng góp to lớn trong việc phát triển
Phật giáo ở Đàng Trong, qua các sự kiện mời hòa thượng Thạch
Liêm mở giới đàn cho tăng ni ở Phú Xuân, đúc chuông Thiên Mụ
và viết bài minh khắc vào chuông.
Chúa Nguyễn Phúc Chu mất, con trưởng người là Nguyễn
Phúc Chú lên nối ngôi, tiếp tục sự nghiệp phát triển Đàng Trong.
Mặc Cửu mất, chúa cho con là Mạc Thiên Tứ làm Tổng binh Đại
Đô đốc trấn Hà Tiên, để giữ gìn và mở mang xứ ấy. Đây cũng
là nền tảng quan trọng cho việc mở mang vùng đồng bằng sông
Cửu Long sau này.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 52 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Chúa Minh – Chúa Ninh” phần lời do
Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Tô Hoài Đạt thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 52 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyễn Phúc Chu là con trưởng của Nguyễn Phúc
Trăn, sinh năm Ất Mão (1675), từ nhỏ đã nức tiếng văn
hay chữ tốt, lớn lên đủ tài lược văn võ. Tháng Giêng
năm Tân Mùi (1691), chúa Nghĩa mất, chúa lên nối việc
lớn khi 17 tuổi, hiệu là Thiên Túng đại nhân, thường
gọi là chúa Minh. Năm Ất Tỵ (1725), chúa Minh băng,
ở ngôi 34 năm.
Con trưởng chúa Minh là Nguyễn Phúc Chú lên nối
ngôi lúc 30 tuổi, tước hiệu là Vân Tuyền đại nhân,
thường gọi là chúa Ninh. Chúa mất vào năm Mậu Ngọ
(1738), chỉ ở ngôi chúa 13 năm, thọ 43 tuổi.
4
Trong gần 20 năm trước khi Nguyễn Phúc Chu lên ngôi, Đàng
Trong và Đàng Ngoài không có chiến tranh. Tuy thế, chúa vẫn rất
chú ý đến việc phòng thủ. Năm 1701, người sai đắp sửa lũy Nhật
Lệ, đặt thêm đài đặt súng lớn ở lũy Trấn Ninh và Sa Phụ. Chúa
cho sửa sang đường sá, cầu cống, đặt các điếm tuần trên bộ lẫn
thủy ở vùng Quảng Bình, Bố Chính.
Để nắm rõ hình thể trong nước, chúa sai quan đi khắp nơi
vẽ bản đồ. Sau 3 tháng công việc hoàn thành. Năm
1711, sai người ra đo đạc bãi cát Trường Sa.
5
Chúa rất quan tâm đến việc luyện tập của quan quân. Năm
1694, chúa lệnh cho lực lượng tượng binh thao diễn theo trận
pháp. Sau đó, chúa quy định cách thức diễn tập voi trận và đến
xem buổi diễn tập. Đối với pháo binh, chúa cho lập trường pháo,
buộc các quan văn võ hợp nhau diễn tập hàng năm. Ai bắn trúng
được thưởng tấm nhiễu hồng.
6
Chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đích thân đến xem quân thủy bộ
diễn tập, buộc các tướng, các đội trưởng thi bắn cung, cỡi ngựa.
Ai đạt thành tích tốt thì được ban thưởng. Chúa cũng tự mình đi
kiểm tra việc bố phòng ở vùng giáp với Đàng Ngoài, xem xét kho
Lai Cách và cửa biển Minh Linh, lũy Sa Phụ và các pháo đài.
7
Thấy chúa Minh quan tâm đến việc luyện tập sử dụng binh khí,
năm 1705, Chưởng cơ Nguyễn Đức Khang dâng cho chúa cây nỏ
tốt. Chúa bèn lệnh cho quan văn võ tập bắn nỏ. Ai bắn trúng 5
phát liên tục thì được thưởng một tấm nhiễu hồng. Sau đó, người
ta tranh nhau mua nỏ về tập bắn. Vì thế, giá nỏ tăng vọt. Chúa
phải bãi việc thi bắn nỏ lấy thưởng.
8
Chúa Minh cũng quan tâm đến binh
lính, ngay cả những người lính bình
thường. Sự việc sau đây cho ta thấy được
điều đó: vào năm 1711, có hai người lính
của dinh Bố Chính đi tuần ở nơi ranh giới
Đàng Trong và Đàng Ngoài bị quân Trịnh bắt
giữ. Chúa sai Trấn thủ dinh Bố Chính viết thư
cho tướng Trịnh: “Bắc Hà bắt được hai người ấy
chẳng đủ làm công trạng mà Nam Hà mất hai người
ấy cũng không tổn hại. Duy có bọn tiểu dân kia phải
lìa quê hương, bỏ thân thuộc, lòng người
nhân có điều không nỡ”. Tướng Trịnh
được thư, thả hai người lính đó về.
9
Năm 1716, chúa Minh dự định đem quân đánh Bắc Hà. Chúa
nhờ hai thương gia người Phúc Kiến về Quảng Tây rồi theo ngả
Lạng Sơn đến Đàng Ngoài để thám thính tình hình. Họ dò la tình
trạng binh, dân Bắc Hà rồi trở lại Quảng Đông. Năm sau, họ trở
về báo lại. Thấy chưa thể đánh được Đàng Ngoài, chúa Nguyễn
Phúc Chu đành phải bỏ ý định đó.
10
Năm 1702, chúa nhờ Hoàng Thân và Hưng Triệt (là người
Quảng Đông theo hòa thượng Thạch Liêm đến Đàng Trong) mang
cống phẩm gửi đến triều đình nhà Thanh cầu phong. Tuy nhiên,
nhà Thanh từ chối.
11
Năm 1709, Nguyễn Phúc Chu cho đúc ấn khắc chữ “Đại Việt
quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bửu”. Các chúa Nguyễn và vua
Nguyễn về sau đều lấy chiếc ấn này làm báu vật truyền ngôi.
12
Trong nội bộ nhà chúa Nguyễn cũng xảy ra việc rối ren. Năm
1694, một số người trong tôn thất mưu tính phản loạn nhưng có
người tố giác, liền bị dẹp yên.
Đến năm 1709, Phò mã Tống Phước Thiệu cùng với một số
tướng và cả người trong tôn thất mưu đánh chiếm Bình Khang,
Phú Yên rồi kéo quân về Quảng Nam, Chính dinh. Tuy nhiên, âm
mưu sớm bị phát giác và chúa Nguyễn Phúc Chu kịp thời dẹp tan.
13
Lúc bấy giờ đường đi từ bắc vào nam phải qua
rừng Hồ Xá (tức truông nhà Hồ). Nơi đây bọn cướp
thường tụ họp chặn đường khách đi đường. Vì thế
mọi người đều e ngại đi qua đây. Tâm trạng này
được phản ảnh qua câu ca dao:
Nhớ em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang(*).
* Phá Tam Giang ở vùng cửa sông Hương, sâu và có sóng dữ.
14
Năm 1722, chúa Minh sai Nội tán Nguyễn Khoa Đăng truy
quét bọn cướp. Nhờ đó, khách đi đường không còn bị đe dọa nữa.
Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm.
15
Chúa Nguyễn Phúc Chu đặc biệt quan tâm đến việc ổn định
ở vùng đất mới. Cho đến lúc ấy, ở những vùng ven biển, ven
núi, khi dân đến sinh sống, các chúa Nguyễn cho lập thành các
thôn, phường, nậu, man. Các đơn vị nhỏ này hợp thành thuộc.
Tuy nhiên, cách thức đặt chức dịch chưa xác định rõ. Năm 1726,
chúa Nguyễn Phúc Chú sai Nguyễn Đăng Đệ xem xét các thuộc
ở Quảng Nam và định rõ số quan lại ở các thuộc tùy theo số dân.
16
Lúc bấy giờ ở vùng đất từ Bình Thuận đến đồng bằng sông
Cửu Long, đã có nhiều người Việt đến sinh sống. Cạnh đó còn có
những người Hoa quy thuận chúa Nguyễn sinh sống ở cù lao Phố
và Mỹ Tho. Đàng Trong cũng cắt đặt quan lại để trông coi việc
quân sự, thuế má và quản lý một số hoạt động ở đây. Năm 1698,
chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào
vùng Đồng Nai - Gia Định thiết lập bộ máy quản lý.
17
Theo lệnh chúa Minh, năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Hữu
Cảnh lập dinh Trấn Biên [sau này là Biên Hòa] ở xứ Đồng Nai
và dinh Phiên Trấn [sau này là Gia Định] ở xứ Sài Gòn. Đơn vị
hành chánh dưới dinh là huyện. Dinh Trấn Biên có một huyện là
huyện Phước Long, còn dinh Phiên Trấn cũng có một huyện là
huyện Tân Bình.
18
Mỗi dinh, Nguyễn Hữu Cảnh đặt các chức quan cai trị là Lưu
thủ, Cai bạ, Ký lục; quân lính đóng ở đây có các đơn vị tinh binh
và thuộc binh như cơ, đội, thuyền. Đất Đàng Trong như thế đã
mở rộng thêm được nghìn dặm, dân số tăng thêm hơn 4 vạn hộ.
19
Chúa Nguyễn cho chiêu mộ lưu dân ở khắp Đàng Trong đến
vùng đất mới sinh sống. Họ được phân chia ruộng đất, tổ chức
thành phường, ấp, xã, thôn.
Như thế, Nguyễn Hữu Cảnh đã tạo được sự thống nhất về các
mặt giữa vùng Đồng Nai - Gia Định với cả xứ Đàng Trong, đưa
vùng này thật sự trở thành một phần của đất nước Đại Việt không
những về chính trị mà còn cả về mặt xã hội và văn hóa.
20
Nhằm nắm rõ số dân (nguồn nhân lực) và ruộng đất (nguồn
vật lực) của vùng đất mới, chúa cũng cho lập sổ đinh điền, từ đó
định các loại thuế.
Những người Hoa trước đã sinh sống ở vùng Đồng Nai - Gia
Định, lúc này cũng được tổ chức thành làng xã: ở Trấn Biên sẽ hợp
thành xã Thanh Hà; ở Phiên Trấn sẽ lập thành xã Minh Hương.
21
Vào khoảng thời gian này, tại vùng ven vịnh Thái Lan có nhóm
người Hoa cư ngụ do Mạc Cửu đứng đầu. Mạc Cửu là một thương
gia người phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Khoảng
năm 1680, ông đến Chân Lạp và làm quan ở đây. Thấy đất Mang
Khãm có nhiều thương nhân các nước lui tới, ông xin vua Chân
Lạp cho đến đấy mở mang việc buôn bán. Ông mở sòng bạc thu
tiền hoa chi và ra sức mở mang vùng đất này.
22
Thấy đất đai ở đây còn hoang vu, Mạc Cửu đã kêu gọi lưu dân
các nơi đến sinh sống. Việc khai hoang ở vùng này gặp nhiều khó
khăn do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi cho việc trồng trọt:
đất phèn, nước mặn. Pierre Poivre, một thương nhân Tây phương
đến Đàng Trong vào thế kỷ XVIII cho biết: “Ông chia đất cho
những người làm ruộng để họ làm riêng. Ông không thu tô, không
thu thuế. Thêm vào đó, ông còn mua cho họ nông cụ cần thiết để
khai thác đất đai...”.
23
Nhưng những nỗ lực của Mạc Cửu cũng đã đem đến kết quả.
Đất đai được mở mang, tụ tập dân cư sinh sống ở 7 nơi trên vùng
đất ven vịnh Thái Lan và lập thành 7 xã thôn. Đó là Hà Tiên, Phú
Quốc, Cần Bột, Rạch Giá, Trủng Kè, Hương Áo và Cà Mau(*).
* Cần Bột (Kampot), Trủng Kè (Peam),
Hương Áo (Kompong Som) nay thuộc
lãnh thổ Campuchia.
24
Vốn là một thương nhân
nên Mạc Cửu chú ý nhiều
đến việc mở mang hoạt động
thương mại ở Hà Tiên. Ông thu
hút thuyền buôn các nước đến Hà
Tiên buôn bán bằng cách đánh thuế hàng
hóa rất thấp. Thuyền buôn từ các nước có
thể mang đến Hà Tiên các loại hàng hóa
đa dạng để trao đổi với nhau mà không
phải chịu thuế cao.
25
Điều quan trọng nữa để các thuyền buôn đến Hà Tiên là nơi
đây phải có nhiều hàng hóa. Trước đây, nguồn hàng ở Hà Tiên
chủ yếu từ các nơi của Chân Lạp gần Hà Tiên. Nay với sự phát
triển ở khu vực ven vịnh Thái Lan, Hà Tiên trở thành trung tâm
của một vùng rộng lớn. Hà Tiên lại thông thương được với sông
Hậu, và từ đó qua sông Tiền, đến các khu vực đang được người
Việt và người Hoa, Khmer phai phá ngày một nhiều. Sông Hậu lại
là đường giao thông thuận lợi với nội địa nước Chân Lạp. Nguồn
hàng hóa vì thế mà rất phong phú, dồi dào.
26
Tuy nhiên, lúc đó Chân Lạp thường bị nước Xiêm uy hiếp.
Năm 1687-1688, quân Xiêm kéo sang đánh Hà Tiên. Mạc Cửu bị
bắt về Xiêm(*). Mười ba năm sau ông mới có thể trở về. Ông lại
phải cố công, xây dựng lại Hà Tiên và canh cánh trong lòng mối
đe dọa bị xâm phạm từ bên ngoài.
* Có tư liệu nói rằng thấy ông Mạc Cửu là người tài, tướng Xiêm dụ khéo ông
theo về nước, ông bất đắc dĩ phải theo về.
27
Lúc bấy giờ, một mưu sĩ của Mạc Cửu khuyên ông tìm đến
chúa Nguyễn. Năm 1708, Mạc Cửu sai người đến Thuận Hóa xin
làm tôi chúa Nguyễn. Sách Đại Nam thực lục của triều Nguyễn
ghi lại: “Tháng 8 năm Mậu Tý [1708], Mạc Cửu ủy cho bộ thuộc
là Trương Cầu và Lý Xã dâng thư xin làm Hà Tiên trưởng. Chúa
nhận cho, trao cho chức Tổng binh.”
Như thế từ năm này, đất Hà Tiên dưới quyền cai trị của Mạc
Cửu trở thành một phần lãnh thổ của Đàng Trong.
Năm 1711, Mạc Cửu đến phủ chúa ở
Phú Xuân để tạ ơn.
28
Tuy đã được sự che chở chúa Nguyễn nhưng Mạc Cửu còn
phải chứng kiến Hà Tiên bị quân Xiêm tàn phá một lần nữa vào
năm 1715. Ông phải chạy đi lánh nạn, ba năm sau mới trở về khi
quân Xiêm đã rút đi. Một lần nữa, Mạc Cửu lại gắng sức xây
dựng lại Hà Tiên.
29
Sau một thời gian ngắn, Hà Tiên lại trở thành một thương cảng
hưng thịnh. Sách gia phả của họ Mạc ở Hà Tiên (Mạc thị gia phả)
chép: “Những thương nhân gần xa nghe tiếng, ngưỡng mộ đức
trạch của Thái Công (Mạc Cửu) nên đã cùng nhau đến Phương
Thành (Hà Tiên) để làm ăn buôn bán. Phương Thành lại sầm uất
như cũ...”.
30
Năm 1735, Mạc Cửu mất. Con là Mạc Thiên Tứ (Mạc Thiên
Tích) được chúa Nguyễn Phúc Chú phong làm Tổng binh Đại
Đô đốc trấn Hà Tiên kế nghiệp cha. Mẹ của Mạc Thiên Tứ tên là
Bùi Thị Lẫm, là người Việt, quê ở Đông Môn (Biên Hòa). Mạc
Thiên Tứ đã phát triển Hà Tiên không những về kinh tế mà còn
biến nơi này thành một trung tâm văn hóa nổi bật ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long.
31
Với việc sáp nhập đất Hà Tiên (1708), lãnh thổ Đàng Trong
đã đến mũi Cà Mau, tiếp xúc với vịnh Thái Lan. Phần lãnh thổ từ
Gia Định đến Hà Tiên, gồm vùng đất sông Tiền và sông Hậu đã
có nhiều người Việt đến sinh sống, nhưng chưa tổ chức bộ máy
quản lý. Năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chú thực hiện tiếp một
bước nữa. Chúa cho lập châu Định Viễn, dinh Long Hồ (vùng
Vĩnh Long ngày nay), bổ nhiệm quan lại, đưa thêm lưu dân người
Việt đến khai phá.
32
Nguyễn Phúc Chu nhiều lần phải đánh dẹp những cuộc quấy
phá ở vùng biên giới: năm 1705, Tạo Vĩ ở Lục Hoàn (Lào) quấy
phá ở biên thùy, cướp bóc của thương buôn. Chúa sai quân đến
đây nhưng sau vài tháng, tướng chỉ huy chết nên lực lượng chúa
Nguyễn phải rút về.
Năm 1714, tù trưởng Trà Xuy ở Cam Lộ quấy rối ở biên giới,
chúa sai quân đánh và bắt được Trà Xuy.
33
Đối với những nhóm dân tộc ít người ở vùng
rừng núi, chúa Nguyễn Phúc Chu dùng chánh sách
phủ dụ để họ thần phục, nộp thuế. Chẳng hạn như
người Nam Bàn và Trà Lai (Gia Lai) ở vùng phía
tây phủ Phú Yên, Quy Ninh không chịu nộp thuế.
Năm 1711, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Kiêm Đức,
người thông hiểu phong tục dân tộc ít người, mang
thư của chúa cùng các tặng phẩm như áo sa đoạn,
đồ đồng, đồ sứ đến gặp tù trưởng và chiêu dụ họ.
Chỉ khi họ quấy phá, cướp bóc, chúa mới sai
quân đánh dẹp.
34
Như năm 1692, quân Chiêm Thành đánh phá ở
phủ Diên Ninh. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn
Hữu Cảnh (con của Nguyễn Hữu Dật) đem quân đi
đánh, bắt được vua Chiêm là Bà Tranh. Chúa sai đưa
vua Chiêm ra ở tại núi Ngọc Trản và cấp tiền gạo,
vải lụa để chi dụng. Sau đó, chúa cho đổi trấn Thuận
Thành thành phủ Bình Thuận, cử Kế Bà Tử làm quan
quản lý ở đây và bắt ăn mặc theo như người Việt.
35
Đến cuối năm đó [1693], một người Trung Quốc tên là A Ban
cư trú ở vùng Thuận Thành cùng với một người Chiêm Thành, Ốc
Nha Thát, nhóm họp người Chiêm Thành để nổi lên. A Ban đổi
tên là Ngô Lãng tự xưng mình có phép hô phong hoán vũ, gươm
đao không thể làm bị thương.
36
Ngô Lãng đem quân đánh Phố
Hài, giết được cai đội Nguyễn
Trí Thắng và Thắng được quân
cứu viện từ Bà Rịa kéo ra, đánh
phá Phan Rí và kéo đến vây
Phan Rang. Lực lượng Nguyễn
từ Bình Khang kéo vào giải vây
cho Phan Rang. Ngô Lãng chạy
về vùng biên giới với Chân Lạp
và bị đánh tan.
37
Năm 1694, theo lời xin của Kế Bà Tử, chúa
cho đổi vùng đất này trở lại làm trấn Thuận
Thành. Mấy tháng sau đó, chúa thay đổi chánh
sách cai trị, cho vùng đất này quy chế rộng rãi
hơn. Chúa phong cho Kế Bà Tử làm vua người
Chăm, cai trị trấn Thuận Thành và hàng năm nộp
cống. Năm 1697, chúa đổi vùng này thành phủ
Bình Thuận, vẫn để Kế Bà Tử làm phiên vương.
38
Năm 1712, Nguyễn Phúc Chu định quy chế riêng cho trấn
Thuận Thành theo đó trong việc kiện tụng, nếu giữa người Chăm
với nhau thì do vua Chăm phân xử còn giữa người Chăm và người
Việt thì do vua Chăm và Cai bạ, Ký lục cùng xem xét. Lập hai
trạm canh của quân lính để phòng kẻ gian. Người đi buôn muốn
đến đây phải xin giấy thông hành. Người Chăm xiêu dạt làm ăn
đều được phép trở về...
39
Năm 1731, một người Lào cư ngụ ở Chân Lạp, tên là Sá Tốt
(Prea Sot) tập hợp được một lực lượng khá mạnh ở vùng Banam,
đánh đuổi người Việt đang sinh sống ở đấy rồi kéo tiến sang quấy
nhiễu vùng Sài Gòn. Để đối phó với quân Sá Tốt, chúa đặt thêm
chức Điều khiển để chỉ huy toàn thể quan binh các dinh ở Gia
Định và cử Nguyễn Phúc Vĩnh vào chức vụ này.
40
Quân Sá Tốt tiến đến sông Bến Lức, đánh bại
quân Nguyễn ở đây và tiến đến mười tám thôn
Vườn Trầu [vùng Hóc Môn ngày nay] thì bị Trần
Đại Định (con của Trần Thượng Xuyên) chặn và
sau đó bị Nguyễn Cửu Triêm đánh ở sông Bến
Lức. Sau khi chặn được quân Sá Tốt, Trần Đại
Định cho đắp lũy Hoa Phong để phòng thủ Bến
Nghé - Sài Gòn (sau này dấu vết còn thấy ở gần
chùa Cây Mai).
Quân giặc lui về Cù Ao. Các tướng Nguyễn hợp
quân tiến đánh. Sá Tốt thua to phải chạy trốn về
Chân Lạp, sau đó bị vua Chân Lạp bấy giờ là Nặc
Tha giết chết.
41
42
Vào khoảng thời gian khi chúa Nguyễn
Phúc Chu mới lên ngôi, tình hình ở triều đình
Chân Lạp rơi vào tình trạng xáo trộn với việc
ngôi vua liên tục thay đổi. Năm 1695, Nặc
Thu (Chey Chetta IV) nhường ngôi cho cháu.
Nhưng chỉ mấy tháng sau, tân vương mất,
Nặc Thu phải trở lại ngôi vua. Đến năm 1699,
Nặc Thu cho đắp lũy ở Bích Đôi, Nam Vang,
chặn cướp các thuyền buôn.
43
Chúa sai Nguyễn Hữu Cảnh và Trần Thượng Xuyên đem quân
đánh dẹp. Năm 1700, quân Nguyễn tấn công, phá các lũy của Nặc
Thu. Nặc Thu bỏ thành chạy. Nặc Yêm (Ang Em, con của Nặc
Nộn) ra hàng. Sau đó, Nặc Thu(*) đến hàng và xin nộp cống. Giữa
năm đó, Nguyễn Hữu Cảnh đem quân về. Ông bị bệnh nặng nên
khi về đến Rạch Gầm thì mất, thọ 51 tuổi.
* Nặc Thu, Nặc Nộn: xem Lịch sử Việt Nam bằng tranh - Tập 51: Chúa Hiền - chúa
Nghĩa.
44
Lúc bấy giờ vua Chân Lạp đóng ở Oudong là Nặc Thu. Nặc
Thu thấy mình tuổi già nên truyền ngôi lại cho con là Nặc Thâm
(Ramathibodey II). Nặc Thâm nghi ngờ Nặc Yêm chống mình vì
thế lại sinh ra cuộc chiến giữa hai người. Năm 1705, Nặc Yêm
sang Gia Định, cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Chu. Lúc ấy, Nặc Thâm
dựa vào thế lực quân Xiêm. Chúa sai Nguyễn Cửu Vân đem quân
thủy bộ từ Gia Định sang giúp. Đến Rạch Gầm thì quân Nguyễn
chạm trán và đánh tan quân Xiêm.
45
Tuy nhiên, đội thuyền lương do Xá sai ty dinh Phiên Trấn là
Mai Công Hương chỉ huy bị quân Xiêm chặn đánh ở sông Xá
Hương(*). Mai Công Hương đục thủng thuyền để thuyền lương
không rơi vào tay địch, sau đó gieo mình xuống sông tự vẫn. Nghe
tin, chúa phong Mai Công Hương làm thần “Vị quốc tử nghĩa”
và sai lập đền thờ.
Khi hay tin quân Xiêm bị bại, Nặc Thâm và em là Nặc Tân
chạy sang Xiêm. Nặc Yêm lên làm vua Chân Lạp.
* Thuộc tỉnh Long An ngày nay. Sau khi Mai Công Hương chết, chúa cho lấy tên
ông để đặt tên sông này.
46
Nguyễn Cửu Vân đem quân về Vũng Gù(*). Ông
khai khẩn đất hoang, trồng trọt, làm gương cho quân dân
noi theo. Ông cũng cho đắp lũy từ quán Thị Gai đến chợ Phú
Lương, dùng dòng nước của sông Vàm Cỏ Tây và sông Mỹ Tho
và đào thêm để làm hào để phòng thủ. Hào nước này sau này đã
được đào thêm và trở thành con đường thủy quan trọng(**).
* Còn ghi là Cù Úc, Vũng Cù, Cù Áo, thuộc tỉnh Long An ngày nay.
** Vua Gia Long cho đào sửa lại cho ghe thuyền đi lại dể dàng và đặt tên là kênh
Bảo Định, (Pháp gọi là Arroyo de la Poste). Đây là đường thủy quan trọng nối
Bến Nghé - Sài Gòn với Mỹ Tho, sông Tiền và các tỉnh vùng đồng bằng sông
Cửu Long.
47
Năm 1711, Nặc Thâm từ Xiêm về. Cuộc tranh chấp giữa Nặc
Thâm và Nặc Yêm ngày càng trở nên quyết liệt. Đến cuối năm
1714, Nặc Yêm yếu thế nên sai người sang Trấn Biên, Phiên Trấn
cầu cứu. Trần Thượng Xuyên mang quân Phiên Trấn, Nguyễn Cửu
Phú mang quân Trấn Biên đến đóng ở Lôi Lạp (nay là Tân An và
Gò Công) và Mỹ Tho.
48
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Chúa Minh – chúa Ninh / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn. - T.P. Hồ Chí Minh :
Trẻ, 2014.
92tr. ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.52).
1. Nguyễn Phúc Chu, 1675-1725. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- 1592-1788. 3. Việt Nam -- Vua và quần
thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Nguyễn Phúc Chu, 1675--1725. 2. Vietnam -- History --1592-1788. 3. Vietnam -- King and rulers.
959.70272 -- dc 22
C559
LỜI GIỚI THIỆU
Sau những năm tháng dài Trịnh – Nguyễn phân tranh làm kiệt
quệ về cả sức người, sức của, Đàng Trong và Đàng Ngoài chấp
nhận đình chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới phân chia đất
nước. Nguyễn Phúc Chu lên ngôi chúa khi Trịnh – Nguyễn đã đình
chiến, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho Đàng Trong phát triển.
Chúa ra sức mở rộng lãnh thổ của Đàng Trong xuống phương
Nam, xác định chủ quyền của nước ta với Hoàng Sa, Trường Sa;
chiêu hiền đãi sĩ, nhẹ thuế má lao dịch, giảm hình phạt,... Đặc
biệt, người còn có những đóng góp to lớn trong việc phát triển
Phật giáo ở Đàng Trong, qua các sự kiện mời hòa thượng Thạch
Liêm mở giới đàn cho tăng ni ở Phú Xuân, đúc chuông Thiên Mụ
và viết bài minh khắc vào chuông.
Chúa Nguyễn Phúc Chu mất, con trưởng người là Nguyễn
Phúc Chú lên nối ngôi, tiếp tục sự nghiệp phát triển Đàng Trong.
Mặc Cửu mất, chúa cho con là Mạc Thiên Tứ làm Tổng binh Đại
Đô đốc trấn Hà Tiên, để giữ gìn và mở mang xứ ấy. Đây cũng
là nền tảng quan trọng cho việc mở mang vùng đồng bằng sông
Cửu Long sau này.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 52 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Chúa Minh – Chúa Ninh” phần lời do
Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Tô Hoài Đạt thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 52 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyễn Phúc Chu là con trưởng của Nguyễn Phúc
Trăn, sinh năm Ất Mão (1675), từ nhỏ đã nức tiếng văn
hay chữ tốt, lớn lên đủ tài lược văn võ. Tháng Giêng
năm Tân Mùi (1691), chúa Nghĩa mất, chúa lên nối việc
lớn khi 17 tuổi, hiệu là Thiên Túng đại nhân, thường
gọi là chúa Minh. Năm Ất Tỵ (1725), chúa Minh băng,
ở ngôi 34 năm.
Con trưởng chúa Minh là Nguyễn Phúc Chú lên nối
ngôi lúc 30 tuổi, tước hiệu là Vân Tuyền đại nhân,
thường gọi là chúa Ninh. Chúa mất vào năm Mậu Ngọ
(1738), chỉ ở ngôi chúa 13 năm, thọ 43 tuổi.
4
Trong gần 20 năm trước khi Nguyễn Phúc Chu lên ngôi, Đàng
Trong và Đàng Ngoài không có chiến tranh. Tuy thế, chúa vẫn rất
chú ý đến việc phòng thủ. Năm 1701, người sai đắp sửa lũy Nhật
Lệ, đặt thêm đài đặt súng lớn ở lũy Trấn Ninh và Sa Phụ. Chúa
cho sửa sang đường sá, cầu cống, đặt các điếm tuần trên bộ lẫn
thủy ở vùng Quảng Bình, Bố Chính.
Để nắm rõ hình thể trong nước, chúa sai quan đi khắp nơi
vẽ bản đồ. Sau 3 tháng công việc hoàn thành. Năm
1711, sai người ra đo đạc bãi cát Trường Sa.
5
Chúa rất quan tâm đến việc luyện tập của quan quân. Năm
1694, chúa lệnh cho lực lượng tượng binh thao diễn theo trận
pháp. Sau đó, chúa quy định cách thức diễn tập voi trận và đến
xem buổi diễn tập. Đối với pháo binh, chúa cho lập trường pháo,
buộc các quan văn võ hợp nhau diễn tập hàng năm. Ai bắn trúng
được thưởng tấm nhiễu hồng.
6
Chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đích thân đến xem quân thủy bộ
diễn tập, buộc các tướng, các đội trưởng thi bắn cung, cỡi ngựa.
Ai đạt thành tích tốt thì được ban thưởng. Chúa cũng tự mình đi
kiểm tra việc bố phòng ở vùng giáp với Đàng Ngoài, xem xét kho
Lai Cách và cửa biển Minh Linh, lũy Sa Phụ và các pháo đài.
7
Thấy chúa Minh quan tâm đến việc luyện tập sử dụng binh khí,
năm 1705, Chưởng cơ Nguyễn Đức Khang dâng cho chúa cây nỏ
tốt. Chúa bèn lệnh cho quan văn võ tập bắn nỏ. Ai bắn trúng 5
phát liên tục thì được thưởng một tấm nhiễu hồng. Sau đó, người
ta tranh nhau mua nỏ về tập bắn. Vì thế, giá nỏ tăng vọt. Chúa
phải bãi việc thi bắn nỏ lấy thưởng.
8
Chúa Minh cũng quan tâm đến binh
lính, ngay cả những người lính bình
thường. Sự việc sau đây cho ta thấy được
điều đó: vào năm 1711, có hai người lính
của dinh Bố Chính đi tuần ở nơi ranh giới
Đàng Trong và Đàng Ngoài bị quân Trịnh bắt
giữ. Chúa sai Trấn thủ dinh Bố Chính viết thư
cho tướng Trịnh: “Bắc Hà bắt được hai người ấy
chẳng đủ làm công trạng mà Nam Hà mất hai người
ấy cũng không tổn hại. Duy có bọn tiểu dân kia phải
lìa quê hương, bỏ thân thuộc, lòng người
nhân có điều không nỡ”. Tướng Trịnh
được thư, thả hai người lính đó về.
9
Năm 1716, chúa Minh dự định đem quân đánh Bắc Hà. Chúa
nhờ hai thương gia người Phúc Kiến về Quảng Tây rồi theo ngả
Lạng Sơn đến Đàng Ngoài để thám thính tình hình. Họ dò la tình
trạng binh, dân Bắc Hà rồi trở lại Quảng Đông. Năm sau, họ trở
về báo lại. Thấy chưa thể đánh được Đàng Ngoài, chúa Nguyễn
Phúc Chu đành phải bỏ ý định đó.
10
Năm 1702, chúa nhờ Hoàng Thân và Hưng Triệt (là người
Quảng Đông theo hòa thượng Thạch Liêm đến Đàng Trong) mang
cống phẩm gửi đến triều đình nhà Thanh cầu phong. Tuy nhiên,
nhà Thanh từ chối.
11
Năm 1709, Nguyễn Phúc Chu cho đúc ấn khắc chữ “Đại Việt
quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bửu”. Các chúa Nguyễn và vua
Nguyễn về sau đều lấy chiếc ấn này làm báu vật truyền ngôi.
12
Trong nội bộ nhà chúa Nguyễn cũng xảy ra việc rối ren. Năm
1694, một số người trong tôn thất mưu tính phản loạn nhưng có
người tố giác, liền bị dẹp yên.
Đến năm 1709, Phò mã Tống Phước Thiệu cùng với một số
tướng và cả người trong tôn thất mưu đánh chiếm Bình Khang,
Phú Yên rồi kéo quân về Quảng Nam, Chính dinh. Tuy nhiên, âm
mưu sớm bị phát giác và chúa Nguyễn Phúc Chu kịp thời dẹp tan.
13
Lúc bấy giờ đường đi từ bắc vào nam phải qua
rừng Hồ Xá (tức truông nhà Hồ). Nơi đây bọn cướp
thường tụ họp chặn đường khách đi đường. Vì thế
mọi người đều e ngại đi qua đây. Tâm trạng này
được phản ảnh qua câu ca dao:
Nhớ em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang(*).
* Phá Tam Giang ở vùng cửa sông Hương, sâu và có sóng dữ.
14
Năm 1722, chúa Minh sai Nội tán Nguyễn Khoa Đăng truy
quét bọn cướp. Nhờ đó, khách đi đường không còn bị đe dọa nữa.
Tam Giang ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm.
15
Chúa Nguyễn Phúc Chu đặc biệt quan tâm đến việc ổn định
ở vùng đất mới. Cho đến lúc ấy, ở những vùng ven biển, ven
núi, khi dân đến sinh sống, các chúa Nguyễn cho lập thành các
thôn, phường, nậu, man. Các đơn vị nhỏ này hợp thành thuộc.
Tuy nhiên, cách thức đặt chức dịch chưa xác định rõ. Năm 1726,
chúa Nguyễn Phúc Chú sai Nguyễn Đăng Đệ xem xét các thuộc
ở Quảng Nam và định rõ số quan lại ở các thuộc tùy theo số dân.
16
Lúc bấy giờ ở vùng đất từ Bình Thuận đến đồng bằng sông
Cửu Long, đã có nhiều người Việt đến sinh sống. Cạnh đó còn có
những người Hoa quy thuận chúa Nguyễn sinh sống ở cù lao Phố
và Mỹ Tho. Đàng Trong cũng cắt đặt quan lại để trông coi việc
quân sự, thuế má và quản lý một số hoạt động ở đây. Năm 1698,
chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào
vùng Đồng Nai - Gia Định thiết lập bộ máy quản lý.
17
Theo lệnh chúa Minh, năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Hữu
Cảnh lập dinh Trấn Biên [sau này là Biên Hòa] ở xứ Đồng Nai
và dinh Phiên Trấn [sau này là Gia Định] ở xứ Sài Gòn. Đơn vị
hành chánh dưới dinh là huyện. Dinh Trấn Biên có một huyện là
huyện Phước Long, còn dinh Phiên Trấn cũng có một huyện là
huyện Tân Bình.
18
Mỗi dinh, Nguyễn Hữu Cảnh đặt các chức quan cai trị là Lưu
thủ, Cai bạ, Ký lục; quân lính đóng ở đây có các đơn vị tinh binh
và thuộc binh như cơ, đội, thuyền. Đất Đàng Trong như thế đã
mở rộng thêm được nghìn dặm, dân số tăng thêm hơn 4 vạn hộ.
19
Chúa Nguyễn cho chiêu mộ lưu dân ở khắp Đàng Trong đến
vùng đất mới sinh sống. Họ được phân chia ruộng đất, tổ chức
thành phường, ấp, xã, thôn.
Như thế, Nguyễn Hữu Cảnh đã tạo được sự thống nhất về các
mặt giữa vùng Đồng Nai - Gia Định với cả xứ Đàng Trong, đưa
vùng này thật sự trở thành một phần của đất nước Đại Việt không
những về chính trị mà còn cả về mặt xã hội và văn hóa.
20
Nhằm nắm rõ số dân (nguồn nhân lực) và ruộng đất (nguồn
vật lực) của vùng đất mới, chúa cũng cho lập sổ đinh điền, từ đó
định các loại thuế.
Những người Hoa trước đã sinh sống ở vùng Đồng Nai - Gia
Định, lúc này cũng được tổ chức thành làng xã: ở Trấn Biên sẽ hợp
thành xã Thanh Hà; ở Phiên Trấn sẽ lập thành xã Minh Hương.
21
Vào khoảng thời gian này, tại vùng ven vịnh Thái Lan có nhóm
người Hoa cư ngụ do Mạc Cửu đứng đầu. Mạc Cửu là một thương
gia người phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Khoảng
năm 1680, ông đến Chân Lạp và làm quan ở đây. Thấy đất Mang
Khãm có nhiều thương nhân các nước lui tới, ông xin vua Chân
Lạp cho đến đấy mở mang việc buôn bán. Ông mở sòng bạc thu
tiền hoa chi và ra sức mở mang vùng đất này.
22
Thấy đất đai ở đây còn hoang vu, Mạc Cửu đã kêu gọi lưu dân
các nơi đến sinh sống. Việc khai hoang ở vùng này gặp nhiều khó
khăn do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi cho việc trồng trọt:
đất phèn, nước mặn. Pierre Poivre, một thương nhân Tây phương
đến Đàng Trong vào thế kỷ XVIII cho biết: “Ông chia đất cho
những người làm ruộng để họ làm riêng. Ông không thu tô, không
thu thuế. Thêm vào đó, ông còn mua cho họ nông cụ cần thiết để
khai thác đất đai...”.
23
Nhưng những nỗ lực của Mạc Cửu cũng đã đem đến kết quả.
Đất đai được mở mang, tụ tập dân cư sinh sống ở 7 nơi trên vùng
đất ven vịnh Thái Lan và lập thành 7 xã thôn. Đó là Hà Tiên, Phú
Quốc, Cần Bột, Rạch Giá, Trủng Kè, Hương Áo và Cà Mau(*).
* Cần Bột (Kampot), Trủng Kè (Peam),
Hương Áo (Kompong Som) nay thuộc
lãnh thổ Campuchia.
24
Vốn là một thương nhân
nên Mạc Cửu chú ý nhiều
đến việc mở mang hoạt động
thương mại ở Hà Tiên. Ông thu
hút thuyền buôn các nước đến Hà
Tiên buôn bán bằng cách đánh thuế hàng
hóa rất thấp. Thuyền buôn từ các nước có
thể mang đến Hà Tiên các loại hàng hóa
đa dạng để trao đổi với nhau mà không
phải chịu thuế cao.
25
Điều quan trọng nữa để các thuyền buôn đến Hà Tiên là nơi
đây phải có nhiều hàng hóa. Trước đây, nguồn hàng ở Hà Tiên
chủ yếu từ các nơi của Chân Lạp gần Hà Tiên. Nay với sự phát
triển ở khu vực ven vịnh Thái Lan, Hà Tiên trở thành trung tâm
của một vùng rộng lớn. Hà Tiên lại thông thương được với sông
Hậu, và từ đó qua sông Tiền, đến các khu vực đang được người
Việt và người Hoa, Khmer phai phá ngày một nhiều. Sông Hậu lại
là đường giao thông thuận lợi với nội địa nước Chân Lạp. Nguồn
hàng hóa vì thế mà rất phong phú, dồi dào.
26
Tuy nhiên, lúc đó Chân Lạp thường bị nước Xiêm uy hiếp.
Năm 1687-1688, quân Xiêm kéo sang đánh Hà Tiên. Mạc Cửu bị
bắt về Xiêm(*). Mười ba năm sau ông mới có thể trở về. Ông lại
phải cố công, xây dựng lại Hà Tiên và canh cánh trong lòng mối
đe dọa bị xâm phạm từ bên ngoài.
* Có tư liệu nói rằng thấy ông Mạc Cửu là người tài, tướng Xiêm dụ khéo ông
theo về nước, ông bất đắc dĩ phải theo về.
27
Lúc bấy giờ, một mưu sĩ của Mạc Cửu khuyên ông tìm đến
chúa Nguyễn. Năm 1708, Mạc Cửu sai người đến Thuận Hóa xin
làm tôi chúa Nguyễn. Sách Đại Nam thực lục của triều Nguyễn
ghi lại: “Tháng 8 năm Mậu Tý [1708], Mạc Cửu ủy cho bộ thuộc
là Trương Cầu và Lý Xã dâng thư xin làm Hà Tiên trưởng. Chúa
nhận cho, trao cho chức Tổng binh.”
Như thế từ năm này, đất Hà Tiên dưới quyền cai trị của Mạc
Cửu trở thành một phần lãnh thổ của Đàng Trong.
Năm 1711, Mạc Cửu đến phủ chúa ở
Phú Xuân để tạ ơn.
28
Tuy đã được sự che chở chúa Nguyễn nhưng Mạc Cửu còn
phải chứng kiến Hà Tiên bị quân Xiêm tàn phá một lần nữa vào
năm 1715. Ông phải chạy đi lánh nạn, ba năm sau mới trở về khi
quân Xiêm đã rút đi. Một lần nữa, Mạc Cửu lại gắng sức xây
dựng lại Hà Tiên.
29
Sau một thời gian ngắn, Hà Tiên lại trở thành một thương cảng
hưng thịnh. Sách gia phả của họ Mạc ở Hà Tiên (Mạc thị gia phả)
chép: “Những thương nhân gần xa nghe tiếng, ngưỡng mộ đức
trạch của Thái Công (Mạc Cửu) nên đã cùng nhau đến Phương
Thành (Hà Tiên) để làm ăn buôn bán. Phương Thành lại sầm uất
như cũ...”.
30
Năm 1735, Mạc Cửu mất. Con là Mạc Thiên Tứ (Mạc Thiên
Tích) được chúa Nguyễn Phúc Chú phong làm Tổng binh Đại
Đô đốc trấn Hà Tiên kế nghiệp cha. Mẹ của Mạc Thiên Tứ tên là
Bùi Thị Lẫm, là người Việt, quê ở Đông Môn (Biên Hòa). Mạc
Thiên Tứ đã phát triển Hà Tiên không những về kinh tế mà còn
biến nơi này thành một trung tâm văn hóa nổi bật ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long.
31
Với việc sáp nhập đất Hà Tiên (1708), lãnh thổ Đàng Trong
đã đến mũi Cà Mau, tiếp xúc với vịnh Thái Lan. Phần lãnh thổ từ
Gia Định đến Hà Tiên, gồm vùng đất sông Tiền và sông Hậu đã
có nhiều người Việt đến sinh sống, nhưng chưa tổ chức bộ máy
quản lý. Năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chú thực hiện tiếp một
bước nữa. Chúa cho lập châu Định Viễn, dinh Long Hồ (vùng
Vĩnh Long ngày nay), bổ nhiệm quan lại, đưa thêm lưu dân người
Việt đến khai phá.
32
Nguyễn Phúc Chu nhiều lần phải đánh dẹp những cuộc quấy
phá ở vùng biên giới: năm 1705, Tạo Vĩ ở Lục Hoàn (Lào) quấy
phá ở biên thùy, cướp bóc của thương buôn. Chúa sai quân đến
đây nhưng sau vài tháng, tướng chỉ huy chết nên lực lượng chúa
Nguyễn phải rút về.
Năm 1714, tù trưởng Trà Xuy ở Cam Lộ quấy rối ở biên giới,
chúa sai quân đánh và bắt được Trà Xuy.
33
Đối với những nhóm dân tộc ít người ở vùng
rừng núi, chúa Nguyễn Phúc Chu dùng chánh sách
phủ dụ để họ thần phục, nộp thuế. Chẳng hạn như
người Nam Bàn và Trà Lai (Gia Lai) ở vùng phía
tây phủ Phú Yên, Quy Ninh không chịu nộp thuế.
Năm 1711, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Kiêm Đức,
người thông hiểu phong tục dân tộc ít người, mang
thư của chúa cùng các tặng phẩm như áo sa đoạn,
đồ đồng, đồ sứ đến gặp tù trưởng và chiêu dụ họ.
Chỉ khi họ quấy phá, cướp bóc, chúa mới sai
quân đánh dẹp.
34
Như năm 1692, quân Chiêm Thành đánh phá ở
phủ Diên Ninh. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn
Hữu Cảnh (con của Nguyễn Hữu Dật) đem quân đi
đánh, bắt được vua Chiêm là Bà Tranh. Chúa sai đưa
vua Chiêm ra ở tại núi Ngọc Trản và cấp tiền gạo,
vải lụa để chi dụng. Sau đó, chúa cho đổi trấn Thuận
Thành thành phủ Bình Thuận, cử Kế Bà Tử làm quan
quản lý ở đây và bắt ăn mặc theo như người Việt.
35
Đến cuối năm đó [1693], một người Trung Quốc tên là A Ban
cư trú ở vùng Thuận Thành cùng với một người Chiêm Thành, Ốc
Nha Thát, nhóm họp người Chiêm Thành để nổi lên. A Ban đổi
tên là Ngô Lãng tự xưng mình có phép hô phong hoán vũ, gươm
đao không thể làm bị thương.
36
Ngô Lãng đem quân đánh Phố
Hài, giết được cai đội Nguyễn
Trí Thắng và Thắng được quân
cứu viện từ Bà Rịa kéo ra, đánh
phá Phan Rí và kéo đến vây
Phan Rang. Lực lượng Nguyễn
từ Bình Khang kéo vào giải vây
cho Phan Rang. Ngô Lãng chạy
về vùng biên giới với Chân Lạp
và bị đánh tan.
37
Năm 1694, theo lời xin của Kế Bà Tử, chúa
cho đổi vùng đất này trở lại làm trấn Thuận
Thành. Mấy tháng sau đó, chúa thay đổi chánh
sách cai trị, cho vùng đất này quy chế rộng rãi
hơn. Chúa phong cho Kế Bà Tử làm vua người
Chăm, cai trị trấn Thuận Thành và hàng năm nộp
cống. Năm 1697, chúa đổi vùng này thành phủ
Bình Thuận, vẫn để Kế Bà Tử làm phiên vương.
38
Năm 1712, Nguyễn Phúc Chu định quy chế riêng cho trấn
Thuận Thành theo đó trong việc kiện tụng, nếu giữa người Chăm
với nhau thì do vua Chăm phân xử còn giữa người Chăm và người
Việt thì do vua Chăm và Cai bạ, Ký lục cùng xem xét. Lập hai
trạm canh của quân lính để phòng kẻ gian. Người đi buôn muốn
đến đây phải xin giấy thông hành. Người Chăm xiêu dạt làm ăn
đều được phép trở về...
39
Năm 1731, một người Lào cư ngụ ở Chân Lạp, tên là Sá Tốt
(Prea Sot) tập hợp được một lực lượng khá mạnh ở vùng Banam,
đánh đuổi người Việt đang sinh sống ở đấy rồi kéo tiến sang quấy
nhiễu vùng Sài Gòn. Để đối phó với quân Sá Tốt, chúa đặt thêm
chức Điều khiển để chỉ huy toàn thể quan binh các dinh ở Gia
Định và cử Nguyễn Phúc Vĩnh vào chức vụ này.
40
Quân Sá Tốt tiến đến sông Bến Lức, đánh bại
quân Nguyễn ở đây và tiến đến mười tám thôn
Vườn Trầu [vùng Hóc Môn ngày nay] thì bị Trần
Đại Định (con của Trần Thượng Xuyên) chặn và
sau đó bị Nguyễn Cửu Triêm đánh ở sông Bến
Lức. Sau khi chặn được quân Sá Tốt, Trần Đại
Định cho đắp lũy Hoa Phong để phòng thủ Bến
Nghé - Sài Gòn (sau này dấu vết còn thấy ở gần
chùa Cây Mai).
Quân giặc lui về Cù Ao. Các tướng Nguyễn hợp
quân tiến đánh. Sá Tốt thua to phải chạy trốn về
Chân Lạp, sau đó bị vua Chân Lạp bấy giờ là Nặc
Tha giết chết.
41
42
Vào khoảng thời gian khi chúa Nguyễn
Phúc Chu mới lên ngôi, tình hình ở triều đình
Chân Lạp rơi vào tình trạng xáo trộn với việc
ngôi vua liên tục thay đổi. Năm 1695, Nặc
Thu (Chey Chetta IV) nhường ngôi cho cháu.
Nhưng chỉ mấy tháng sau, tân vương mất,
Nặc Thu phải trở lại ngôi vua. Đến năm 1699,
Nặc Thu cho đắp lũy ở Bích Đôi, Nam Vang,
chặn cướp các thuyền buôn.
43
Chúa sai Nguyễn Hữu Cảnh và Trần Thượng Xuyên đem quân
đánh dẹp. Năm 1700, quân Nguyễn tấn công, phá các lũy của Nặc
Thu. Nặc Thu bỏ thành chạy. Nặc Yêm (Ang Em, con của Nặc
Nộn) ra hàng. Sau đó, Nặc Thu(*) đến hàng và xin nộp cống. Giữa
năm đó, Nguyễn Hữu Cảnh đem quân về. Ông bị bệnh nặng nên
khi về đến Rạch Gầm thì mất, thọ 51 tuổi.
* Nặc Thu, Nặc Nộn: xem Lịch sử Việt Nam bằng tranh - Tập 51: Chúa Hiền - chúa
Nghĩa.
44
Lúc bấy giờ vua Chân Lạp đóng ở Oudong là Nặc Thu. Nặc
Thu thấy mình tuổi già nên truyền ngôi lại cho con là Nặc Thâm
(Ramathibodey II). Nặc Thâm nghi ngờ Nặc Yêm chống mình vì
thế lại sinh ra cuộc chiến giữa hai người. Năm 1705, Nặc Yêm
sang Gia Định, cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Chu. Lúc ấy, Nặc Thâm
dựa vào thế lực quân Xiêm. Chúa sai Nguyễn Cửu Vân đem quân
thủy bộ từ Gia Định sang giúp. Đến Rạch Gầm thì quân Nguyễn
chạm trán và đánh tan quân Xiêm.
45
Tuy nhiên, đội thuyền lương do Xá sai ty dinh Phiên Trấn là
Mai Công Hương chỉ huy bị quân Xiêm chặn đánh ở sông Xá
Hương(*). Mai Công Hương đục thủng thuyền để thuyền lương
không rơi vào tay địch, sau đó gieo mình xuống sông tự vẫn. Nghe
tin, chúa phong Mai Công Hương làm thần “Vị quốc tử nghĩa”
và sai lập đền thờ.
Khi hay tin quân Xiêm bị bại, Nặc Thâm và em là Nặc Tân
chạy sang Xiêm. Nặc Yêm lên làm vua Chân Lạp.
* Thuộc tỉnh Long An ngày nay. Sau khi Mai Công Hương chết, chúa cho lấy tên
ông để đặt tên sông này.
46
Nguyễn Cửu Vân đem quân về Vũng Gù(*). Ông
khai khẩn đất hoang, trồng trọt, làm gương cho quân dân
noi theo. Ông cũng cho đắp lũy từ quán Thị Gai đến chợ Phú
Lương, dùng dòng nước của sông Vàm Cỏ Tây và sông Mỹ Tho
và đào thêm để làm hào để phòng thủ. Hào nước này sau này đã
được đào thêm và trở thành con đường thủy quan trọng(**).
* Còn ghi là Cù Úc, Vũng Cù, Cù Áo, thuộc tỉnh Long An ngày nay.
** Vua Gia Long cho đào sửa lại cho ghe thuyền đi lại dể dàng và đặt tên là kênh
Bảo Định, (Pháp gọi là Arroyo de la Poste). Đây là đường thủy quan trọng nối
Bến Nghé - Sài Gòn với Mỹ Tho, sông Tiền và các tỉnh vùng đồng bằng sông
Cửu Long.
47
Năm 1711, Nặc Thâm từ Xiêm về. Cuộc tranh chấp giữa Nặc
Thâm và Nặc Yêm ngày càng trở nên quyết liệt. Đến cuối năm
1714, Nặc Yêm yếu thế nên sai người sang Trấn Biên, Phiên Trấn
cầu cứu. Trần Thượng Xuyên mang quân Phiên Trấn, Nguyễn Cửu
Phú mang quân Trấn Biên đến đóng ở Lôi Lạp (nay là Tân An và
Gò Công) và Mỹ Tho.
48
 





