Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
Súng vi trùng và thép

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:43' 09-03-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:43' 09-03-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
JARED DIAMOND
SÚNG
VI TRÙNG VÀ THÉP
Định mệnh của các xã hội loài người
Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks
Thực hiện ebook: Lê X
facebook.com/groups/TuSachTamLy/
MỤC LỤC
§ Jared Diamond và vận mệnh các xã hội loài người
§ Tại sao lịch sử thế giới giống như củ hành?
§ LỜI NÓI ĐẦU
§ PHẦN I.
CHƯƠNG 1. Trước vạch xuất phát
CHƯƠNG 2. Thí nghiệm tự nhiên về lịch sử
CHƯƠNG 3. Cuộc đụng độ ở Cajamarca
§ PHẦN II.
CHƯƠNG 4. Sức mạnh của nhà nông
CHƯƠNG 5. Kẻ-có và kẻ-không-có trong lịch sử
CHƯƠNG 6. Làm nông hay không làm nông
CHƯƠNG 7. Làm ra một quả hạnh bằng cách nào?
CHƯƠNG 8. Táo hay người Anh-Điêng?
CHƯƠNG 9. Ngựa vằn, những cuộc hôn nhân bất hạnh, và nguyên lý anna
karenina
CHƯƠNG 10. Trời rộng và trục nghiêng
§ PHẦN III.
CHƯƠNG 11. Tặng phẩm chết người của gia súc
CHƯƠNG 12. Bản gốc và những chữ cái vay mượn
CHƯƠNG 13. Mẹ đẻ của nhu cầu
CHƯƠNG 14. Từ chủ nghĩa bình quyền đến chính quyền ăn cướp
§ PHẦN IV.
CHƯƠNG 15. Dân tộc của Yali
CHƯƠNG 16. Tại sao Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc
CHƯƠNG 17. Tàu tốc hành đến Polynesia
CHƯƠNG 18. Đụng độ giữa hai bán cầu
CHƯƠNG 19. Châu phi đã trở thành đen như thế nào?
CHƯƠNG 20. Người Nhật là ai?
Chú Thích
Tặng Esa, Kariniga, Omwai, Paran, Sauakari, Wiwor cùng
tất cả các bạn bè và người thầy New Guinea khác của
tôi, những chủ nhân đích thực của một môi trường khắc
nghiệt.
Jared Diamond và vận mệnh các xã hội loài người
Jared Mason Diamond (10/9/1937) là nhà khoa học Mỹ và tác
giả nổi tiếng với các tác phẩm: Loài tinh tinh thứ ba; Súng, vi
trùng và thép; Sụp đổ; Thế giới cho đến ngày hôm qua, v.v…
Tuy theo học và có bằng tiến sĩ về sinh lý học, nhưng kiến
thức của ông bao trùm hầu như mọi ngành, từ kiến trúc, ngôn
ngữ, khảo cổ, đến động vật học, y học. Ông cũng không phải
là một học giả “tháp ngà” khi từng chu du nhiều châu lục,
thậm chí sống nhiều năm ở những nơi “tận cùng thế giới” (như
đảo Tân Ghi-nê, đảo Phục Sinh). Ông cũng được xếp vào hàng
ngũ những nhà tư tưởng hiện đại có nhiều ảnh hưởng nhất ở
Mỹ.
Từ khoảng đầu thập niên 90 đến nay, Jared Diamond luôn
nung nấu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Sau hơn 13.000 năm
lịch sử, tại sao sự phát triển của các giống dân trên thế giới đã
trở thành quá khác nhau như ngày nay? Theo Diamond, các
nhà viết sử (đơn cử ở phương Tây) đã phạm một lỗi lầm vì họ
đã nhìn không đúng khuôn mặt lịch sử của loài người. Cụ thể,
họ chỉ chú trọng vào các xã hội tương đối văn minh (ít nhất là
có chữ viết) ở Âu Á (Eurasia) và Bắc Phi, và ngay trong dòng
sử của lục địa Âu Á, họ lại chỉ tập trung vào phía Tây, ít chú ý
đến các quốc gia phía Đông (nổi bật là Trung Quốc, rồi đến cả
Nhật Bản và Đông Nam Á). Hơn nữa, phần lớn sử ký hiện nay
chỉ nhìn vào khoảng 3.000 năm sau này, dù rằng khoảng thời
gian đó chỉ là 0,1% trong chiều dài 5 triệu năm loài người có
mặt trên trái đất. Theo Diamond, nhờ những tiến bộ như sinh
vật học phân tử, di truyền học, sinh địa lý, khảo cổ học, và
ngôn ngữ học đã đến lúc chúng ta có thể giải thích sự khác biệt
về trình độ phát triển giữa các nước. Và những tác phẩm của
ông lần lượt xuất bản qua các năm đã làm sáng tỏ vấn đề đó.
Trong Súng, vi trùng và thép: Định mệnh của các xã hội
loài người – tác phẩm đoạt giải Pulitzer năm 1997 và giải Phi
Beta Kappa về khoa học – Jared Diamond đã đưa ra những
minh chứng để giải thích việc tại sao các dân tộc ở một số lục
địa đã có thể xâm chiếm, chinh phục hoặc chiếm chỗ những
dân tộc đã có mặt từ trước ở các lục địa. Với cuốn sách này,
ông đã tạo nên cuộc cách mạng về nghiên cứu lịch sử nhân
loại.
Cuối năm 2004, Jared Diamond xuất bản cuốn Sụp đổ:
Cách xã hội chọn thất bại hoặc thành công, vẫn với góc tiếp
cận của cuốn trước, tức là dựa vào những yếu tố môi trường và
cơ cấu xã hội để giải thích lịch sử của xã hội ấy. Tuy nhiên,
trong khi cuốn trước tìm cách lí giải sự thống trị của văn minh
Tây phương trên phần lớn thế giới, thì trong tác phẩm này,
Diamond nghiền ngẫm nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của
một số nền văn minh.
Thế giới cho đến ngày hôm qua: Chúng ta học được gì từ
những xã hội truyền thống? Là cuốn sách mới nhất được xuất
bản của Jared Diamond, tiếp tục phát triển các lý thuyết và
nghiên cứu của ông về vận mệnh các xã hội loài người. Cuốn
sách cung cấp một bức tranh trực diện đầy mê hoặc về quá khứ
nhân loại tồn tại hàng triệu năm, một quá khứ hầu như đã biến
mất, và xem xét những khác biệt giữa quá khứ và hiện tại… để
trả lời câu hỏi: Chúng ta có thể học được gì từ các xã hội
truyền thống để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.
Nhận thấy tầm vóc và những giá trị to lớn mà bộ sách
mang lại, Alpha Books tiến hành tái bản các cuốn Súng, vi
trùng và thép; Sụp đổ – từng được Nhà xuất bản Tri thức xuất
bản năm 2007 trong “Tủ sách tinh hoa tri thức thế giới” với sự
bảo trợ của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh; xuất bản và giới
thiệu tới độc giả Việt Nam cuốn Thế giới cho đến ngày hôm
qua. Mong nhận được sự đón nhận và đóng góp ý kiến của bạn
đọc!
Công ty Cổ phần Sách Alpha
Tại sao lịch sử thế giới giống như củ hành?
Mục đích của cuốn sách này là cung cấp một lược sử về tất cả
mọi con người trong khoảng 13.000 năm trở lại đây. Câu hỏi
đã khiến tôi viết ra cuốn sách này là: tại sao lịch sử đã diễn ra
trên mỗi châu lục một khác? Nếu như câu hỏi này lập tức
khiến bạn nhún vai cho rằng bạn sắp phải đọc một luận văn
phân biệt chủng tộc thì, xin thưa, không phải vậy. Như bạn sẽ
thấy, những lời đáp cho câu hỏi này tuyệt không bao hàm
những sự khác biệt về chủng tộc. Cuốn sách này tập trung truy
tìm những lý giải tối hậu và đẩy lùi chuỗi nhân quả lịch sử
càng xa bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Hầu hết những cuốn sách có mục đích điểm lại lịch sử thế
giới đều tập trung vào lịch sử các xã hội có chữ viết ở lục địa
Âu-Á và Bắc Phi. Các xã hội bản địa ở các vùng khác trên thế
giới - châu Phi cận Sahara, châu Mỹ, Đông Nam Á hải đảo,
châu Úc, New Guinea và các đảo Thái Bình Dương - chỉ được
nhắc sơ qua, chủ yếu là về những gì xảy ra với họ ở giai đoạn
rất muộn trong lịch sử, sau khi người châu Âu đã khám phá ra
họ và chinh phục họ. Ngay cả với lục địa Âu-Á, hầu hết số
trang trong sách được dành cho lịch sử phần phía Tây của ÂuÁ hơn là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Đông Nam Á xích
đạo và các xã hội Âu-Á khác. Lịch sử trước thời điểm phát
sinh chữ viết vào khoảng 3.000 năm tr.CN cũng chỉ được điểm
qua vắn tắt, mặc dù nó chiếm tới 99,9% toàn bộ lịch sử năm
triệu năm của loài người.
Những tường trình về lịch sử nhân loại mà diện khảo sát bị
bó hẹp như vậy thường gặp ba điều bất lợi. Trước hết, vì
những nguyên nhân dễ hiểu, ngày càng có nhiều người quan
tâm đến các xã hội khác ngoài các xã hội phía tây lục địa ÂuÁ. Nói gì thì nói, chính các xã hội “khác” kia mới bao hàm
hầu hết dân số thế giới và đại đa số các nhóm dân tộc, văn hóa
và ngôn ngữ trên thế giới. Một số xã hội trong đó đã trở thành
- vài xã hội khác thì đang trở thành - những lực lượng kinh tế
và chính trị mạnh mẽ nhất trên thế giới.
Thứ hai, nhất là đối với những người đặc biệt quan tâm
đến sự hình thành thế giới hiện đại, lịch sử mà chỉ biết tự giới
hạn vào những diễn biến từ sau khi chữ viết ra đời thì không
thể mang tới sự hiểu biết sâu sắc được. Chẳng phải vì các xã
hội trên những châu lục khác nhau đã có thể so sánh với nhau
cho đến 3.000 năm tr.CN, khi các xã hội ở phía tây Âu-Á bất
ngờ phát minh chữ viết và cũng lần đầu tiên bứt lên dẫn đầu
trong các lĩnh vực khác. Thay vì vậy, vào khoảng 3.000 năm
tr.CN, đã có những xã hội Âu-Á và Bắc Phi không chỉ manh
nha có chữ viết mà còn có cả chính phủ tập trung hóa, các
thành thị, sử dụng phổ biến công cụ và vũ khí bằng kim loại,
sử dụng động vật thuần hóa để vận chuyển, làm sức kéo và lực
cơ giới, làm nghề nông và chăn nuôi để sản xuất lương thực. Ở
hầu hết hay tất cả các vùng khác trên các châu lục khác thì tại
thời điểm đó không hề có một cái gì trong những thứ kể trên;
một số - nhưng không phải là tất cả - những cái đó mãi về sau
mới nảy sinh ở một số vùng của châu Mỹ bản địa và châu Phi
hạ Sahara, nhưng chỉ trong vòng năm ngàn năm sau, và không
một cái nào trong số đó phát sinh ở châu Úc thổ dân. Điều đó
ắt đã cảnh báo cho ta rằng, sự thống trị của các xã hội tây ÂuÁ trong thế giới hiện đại đã bắt nguồn từ trong quá khứ bất
thành văn cách đây trên 3.000 năm (khi nói về sự thống trị của
các xã hội phía tây lục địa Âu-Á, ý tôi muốn nói sự thống trị
của bản thân các xã hội ở phía tây Âu-Á và các xã hội bắt
nguồn từ họ mà ra ở các lục địa khác1).
Thứ ba, nếu viết sử mà chỉ tập trung vào các xã hội tây
Âu-Á thì sẽ hoàn toàn bỏ qua câu hỏi lớn hiển nhiên. Câu hỏi
ấy là: tại sao chính các xã hội này mới là những xã hội trở nên
hùng mạnh và đổi mới một cách bất cân xứng đến như vậy?
Để trả lời câu hỏi đó người ta thường viện đến những nguyên
nhân trực tiếp nhất, như sự phát sinh chủ nghĩa tư bản, chủ
nghĩa trọng thương, sự tìm tòi khoa học, công nghệ, và các vi
trùng độc hại đã giết chết hàng triệu người ở các châu lục khác
khi họ tiếp xúc với người Âu-Á. Nhưng tại sao tất cả các nhân
tố hỗ trợ cho sự chinh phục đó chỉ phát sinh ở Âu-Á mà thôi,
còn ở các lục địa khác chúng chỉ phát sinh ở mức độ thấp hơn
hoặc hoàn toàn vắng mặt?
Tất cả các nhân tố trên đều chỉ là những nhân tố trực tiếp
chứ không phải lời giải thích tối hậu. Tại sao chủ nghĩa tư bản
không sinh sôi nảy nở tại Mexico bản địa, chủ nghĩa trọng
thương không phát sinh ở châu Phi hạ Sahara, sự tìm tòi khoa
học không phát triển ở Trung Quốc, công nghệ tiên tiến không
nảy sinh ở Bắc Mỹ bản địa và vi trùng không ra đời ở châu Úc
thổ dân? Nếu trả lời bằng cách viện tới các nhân tố văn hóa
đặc thù - chẳng hạn như sự tìm tòi khoa học bị Khổng giáo
bóp nghẹt ở Trung Hoa nhưng lại được người Hy Lạp hay các
truyền thống Do thái-Cơ đốc giáo ở tây Âu-Á khích lệ - chúng
ta vẫn sẽ tiếp tục lờ đi việc cần phải có lời giải thích tối hậu:
tại sao các truyền thống như Khổng giáo không phát triển ở
tây Âu-Á còn đạo đức Do Thái-Cơ đốc giáo không phát triển ở
Trung Hoa? Ngoài ra, khi nói vậy, người ta vẫn lờ đi thực tế
rằng cho đến khoảng 1.400 năm tr.CN nước Trung Hoa Khổng
giáo đã đạt trình độ công nghệ tiên tiến hơn so với vùng tây
Âu-Á.
Không thể thấu hiểu được ngay cả bản thân các xã hội tây
Âu-Á nếu chỉ tập trung vào đó mà thôi. Những câu hỏi thú vị
là những câu hỏi liên quan đến sự khác biệt giữa những xã hội
đó với các xã hội khác. Muốn trả lời các câu hỏi đó, ta cũng
cần phải hiểu tất cả các xã hội khác kia nữa; được vậy thì mới
có thể đặt các xã hội tây Âu-Á vào một bối cảnh rộng hơn.
Một số độc giả có thể cảm thấy tôi đang đi từ chỗ lịch sử
quy ước về phía thái cực ngược lại, bằng cách dành quá ít
trang cho vùng tây Âu-Á mà nói quá nhiều về các vùng khác
của thế giới. Tôi sẽ trả lời rằng, một số vùng khác kia của thế
giới bao hàm rất nhiều thông tin, bởi chúng bao quát rất nhiều
xã hội - và đấy là những xã hội rất khác nhau - trong một khu
vực địa lý nhỏ hẹp. Với giọng điệu phê phán nhẹ nhàng, người
điểm sách này đã viết rằng hình như tôi xem lịch sử thế giới
như một củ hành, trong đó lịch sử hiện đại chỉ chiếm phần bề
mặt, muốn hiểu lịch sử thì phải bóc dần đến các lớp bên trong.
Phải, lịch sử thế giới đúng là một củ hành như vậy! Nhưng bản
thân việc bóc dần từng lớp vỏ hành kia mới thật hấp dẫn, đầy
thử thách - và có tầm quan trọng lớn lao đối với chúng ta ngày
nay, một khi chúng ta muốn thấu hiểu những bài học của quá
khứ ngõ hầu nhìn tới tương lai.
Jared Diamond
LỜI NÓI ĐẦU
Câu hỏi của Yali
Tất cả chúng ta đều biết, lịch sử đã diễn ra rất khác nhau đối
với từng dân tộc ở những phần khác nhau trên trái đất. Trong
vòng 13.000 năm kể từ cuối Kỷ Băng hà sau cùng, một số
vùng trên thế giới đã phát triển được thành những xã hội công
nghiệp có chữ viết, công cụ bằng kim loại, một số vùng khác
chỉ phát triển được những xã hội chăn nuôi không chữ viết,
nhiều vùng khác nữa vẫn chỉ là các xã hội săn bắt hái lượm
dùng công cụ bằng đá. Những sự bất quân bình lịch sử này đã
hắt những cái bóng dài lên thế giới hiện đại, bởi các xã hội có
chữ viết và sử dụng công cụ bằng kim loại đã chinh phục hoặc
tiêu diệt các xã hội khác. Tuy những khác biệt này vẫn là nhân
tố cơ bản nhất của lịch sử thế giới, song nguyên nhân của
chúng vẫn chưa rõ ràng và đang gây tranh cãi. Câu hỏi hóc búa
về nguồn gốc của những khác biệt đó đã đặt ra trước mắt tôi từ
25 năm trước, trong một dạng đơn giản và mang tính cá nhân.
Vào tháng 7 năm 1972, có lần tôi đi bộ dọc bờ biển trên
hòn đảo xích đạo New Guinea nơi tôi đang nghiên cứu sự tiến
hóa của chim với tư cách nhà sinh vật học. Tôi từng nghe nói
về một chính trị gia nổi tiếng người địa phương tên là Yali, lúc
đó ông này đang đi kinh lý trong vùng. Hôm đó tình cờ Yali và
tôi lại đi cùng một hướng, và ông ta bắt kịp tôi. Chúng tôi đi
bên nhau trong khoảng một tiếng đồng hồ và nói chuyện suốt
thời gian đó.
Con người Yali đầy lôi cuốn và nghị lực. Cặp mắt ông ngời
sáng đầy mê hoặc. Ông nói năng hết sức tự tin về bản thân
mình, nhưng ông cũng đặt nhiều câu hỏi thấu đáo và biết chăm
chú lắng nghe. Cuộc đàm đạo của chúng tôi bắt đầu với chủ đề
mà lúc đó người New Guinea nào cũng canh cánh trong lòng:
nhịp độ nhanh chóng của diễn tiến chính trị. Papua New
Guinea, theo cách mà hiện nay người ta gọi dân tộc của Yali,
lúc đó còn là lãnh thổ do Australia cai quản theo ủy trị của
Liên Hợp Quốc, nhưng chẳng bao lâu nữa ắt sẽ giành được
độc lập. Yali giải thích cho tôi về vai trò của ông trong việc
giúp người dân địa phương chuẩn bị cho việc tự mình nắm
chính quyền.
Sau một hồi, Yali chuyển hướng cuộc trò chuyện và bắt
đầu “quay” tôi. Ông ta chưa hề đi đâu ra khỏi New Guinea và
chưa hề học quá bậc trung học, nhưng không gì có thể thỏa
mãn được nỗi tò mò của ông. Trước hết ông ta muốn biết về
công việc nghiên cứu chim của tôi ở New Guinea (kể cả
chuyện tôi được trả bao nhiêu tiền). Tôi giải thích cho ông ta
rằng có những nhóm chim rất khác nhau đã di cư đến New
Guinea trong vòng hàng triệu năm qua. Rồi ông ta hỏi tôi tổ
tiên của chính dân tộc ông ta đã đến New Guinea bằng cách
nào trong mấy vạn năm trở lại đây, và người châu Âu đã biến
New Guinea thành thuộc địa như thế nào trong 200 năm qua.
Cuộc đối thoại vẫn khá thân thiện, mặc dù cả hai chúng tôi
chẳng lạ gì về sự căng thẳng giữa hai xã hội mà Yali và tôi là
đại diện. Hai thế kỷ trước đây, tất cả người New Guinea hãy
còn “sống trong Thời đại Đồ đá”. Nghĩa là, họ vẫn dùng
những công cụ bằng đá tương tự những gì mà ở châu Âu đã bị
thay thế bằng công cụ kim loại từ hàng ngàn năm trước; và họ
sống trong những ngôi làng không được quản lý dưới một
chính quyền có tính tập trung. Người da trắng đã đến, áp đặt
chính quyền tập trung và mang lại những hàng hóa vật chất mà
người New Guinea lập tức nhận ra giá trị, từ rìu thép, diêm và
thuốc men cho tới quần áo, rượu và ô. Ở New Guinea, tất cả
các vật phẩm này được gọi chung là “hàng” (cargo).
Nhiều thực dân da trắng thẳng thừng khinh miệt người
New Guinea, coi họ là những kẻ “bán khai”. Ngay cả những
“ông chủ” da trắng kém cỏi nhất - mãi đến năm 1972 họ vẫn
được gọi là “ông chủ” - cũng có mức sống cao hơn nhiều so
với người New Guinea, thậm chí cao hơn cả những chính trị
gia đầy sức lôi cuốn như Yali. Thế nhưng Yali đã quay rất
nhiều người da trắng cũng như đã “quay” tôi khi đó, còn tôi thì
đã quay nhiều người New Guinea. Cả ông ta lẫn tôi đều biết rõ
rằng người New Guinea trung bình ít nhất cũng thông minh
ngang với người châu Âu. Tất cả những điều đó Yali đều có
nghĩ tới khi ông ta hỏi tôi với một cái nhìn sáng quắc xuyên
thấu nữa: “Thế thì tại sao người da trắng các ông lại chế ra
nhiều hàng như vậy rồi đem sang New Guinea, còn người da
đen chúng tôi lại có ít hàng của chính mình đến vậy?”
Đó là một câu hỏi đơn giản nhưng chạm đến tâm điểm của
đời sống, Yali nhận ra điều đó. Thế nhưng vẫn có một sự khác
biệt to lớn giữa lối sống của người New Guinea trung bình với
lối sống của người châu Âu hay người Mỹ trung bình. Giữa
các dân tộc khác trên thế giới cũng có những khác biệt tương
tự về lối sống. Những khác biệt lớn lao đó ắt có những nguyên
nhân sâu xa mà người ta có thể cho là hiển nhiên.
Thế nhưng câu hỏi bề ngoài đơn giản của Yali lại không dễ
trả lời. Lúc ấy tôi đã không trả lời được. Các sử gia chuyên
nghiệp vẫn còn tranh cãi với nhau về lời đáp cho câu hỏi đó,
hầu hết thậm chí còn không đặt câu hỏi đó ra nữa kia. Trong
nhiều năm kể từ khi Yali và tôi có cuộc đàm đạo kể trên, tôi đã
nghiên cứu và viết về các phương diện khác của lịch sử loài
người, lịch sử và ngôn ngữ. Cuốn sách này, được viết ra sau đó
hai mươi lăm năm, là nỗ lực nhằm trả lời cho Yali.
Mặc dù câu hỏi của Yali chỉ liên quan đến sự tương phản
về lối sống giữa người New Guinea với người da trắng châu
Âu, song ta có thể mở rộng ra nhiều cặp tương phản khác
trong thế giới hiện đại. Các dân tộc có nguồn gốc Âu-Á, nhất
là các dân tộc hiện vẫn đang sống ở châu Âu và Đông Á, cộng
với những người đã di cư sang Bắc Mỹ, hiện đang thống trị thế
giới về của cải và quyền lực. Các dân tộc khác, trong đó có
hầu hết người châu Phi, đã dứt bỏ được ách thực dân châu Âu
song vẫn còn tụt hậu rất xa về của cải và quyền lực. Lại có
những dân tộc khác, chẳng hạn như cư dân bản địa châu Úc,
người châu Mỹ bản địa và người cực nam châu Phi, không còn
là chủ nhân mảnh đất của mình mà đã bị tàn sát, bị chinh phục,
trong một số trường hợp thậm chí còn bị diệt chủng bởi người
châu Âu thực dân.
Vậy, ta có thể đặt lại những câu hỏi về sự bất bình đẳng
trong thế giới hiện đại như sau: Tại sao của cải và quyền lực
chỉ được phân phối như hiện nay chứ không được phân phối
theo cách nào khác? Chẳng hạn, tại sao không phải người châu
Mỹ bản địa, người châu Phi và người châu Úc bản địa là
những kẻ đi tàn sát, chinh phục hay tiêu diệt người châu Âu và
người châu Á?
Ta có thể dễ dàng đẩy câu hỏi này lùi lại thêm một bước.
Vào năm 1500, khi sự bành trướng thuộc địa của châu Âu chỉ
mới khởi đầu, các dân tộc trên những lục địa khác nhau đã
khác nhau rất nhiều về công nghệ và tổ chức chính trị. Hầu hết
châu Âu, châu Á và Bắc Phi là nơi có những nhà nước hoặc đế
quốc vũ trang bằng kim loại, trong số đó vài nước đang trên
ngưỡng cửa công nghiệp hóa. Hai dân tộc châu Mỹ bản địa,
người Aztec và người Inca, đang cai trị những đế quốc dùng
công cụ bằng đá. Một số phần của châu Phi hạ Sahara được
phân chia giữa các quốc gia hay tù trưởng quốc nhỏ dùng công
cụ bằng sắt. Hầu hết các dân tộc khác - trong đó có tất cả các
dân tộc ở châu Úc và New Guinea, nhiều đảo Thái Bình
Dương, hầu hết châu Mỹ và nhiều phần nhỏ của châu Phi hạ
Sahara - vẫn sống thành những bộ lạc chăn nuôi hay thậm chí
như là những bộ lạc săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá.
Dĩ nhiên, những sự khác biệt về công nghệ và chính trị đó
vào khoảng năm 1500 đã là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
những bất quân bình của thế giới hiện đại. Các đế quốc có vũ
khí bằng thép đã có thể chinh phục hay tiêu diệt các bộ lạc chỉ
dùng vũ khí bằng đá và gỗ. Tuy nhiên, làm cách nào thế giới
đã đạt tới tình trạng như vậy vào thời điểm năm 1500?
Một lần nữa, chúng ta có thể dễ dàng đẩy lùi câu hỏi này
thêm một bước, bằng cách dựa vào lịch sử thành văn và các di
chỉ khảo cổ. Cho đến cuối kỷ Băng hà, khoảng 11.000 năm
tr.CN, mọi dân tộc trên mọi lục địa đều hãy còn là dân săn bắt
hái lượm. Mỗi lục địa phát triển với một tốc độ khác nhau
trong khoảng từ 11.000 năm tr.CN đến năm 1500, đó chính
là điều đã dẫn đến những bất quân bình về công nghệ và chính
trị vào năm 1500. Trong khi người châu Úc bản địa và nhiều
dân châu Mỹ bản địa vẫn cứ là dân săn bắt hái lượm, hầu hết
người Âu-Á, hầu hết người châu Mỹ và châu Phi hạ Sahara đã
dần dần phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, nghề luyện kim và
các tổ chức chính trị phức tạp. Nhiều phần của Âu-Á và một
khu vực của châu Mỹ cũng đã phát minh ra chữ viết một cách
độc lập với nhau. Tuy nhiên, chính tại Âu-Á các phát minh này
xuất hiện sớm hơn ở bất cứ nơi nào khác. Chẳng hạn, việc sản
xuất đại trà công cụ bằng đồng, vốn chỉ mới khởi đầu ở vùng
Andes Nam Mỹ vào các thế kỷ trước năm 1500, đã xuất hiện ở
Âu-Á từ trước đó trên 4.000 năm. Công nghệ dùng đá của
người Tasmania, khi được các nhà thám hiểm châu Âu phát
hiện lần đầu vào năm 1642, còn đơn sơ hơn nhiều so với ở
nhiều vùng của châu Âu Sơ kỳ Đồ đá cũ trước đó hàng vạn
năm.
Vậy là rốt cuộc ta có thể đặt lại câu hỏi về những sự bất
quân bình của thế giới hiện đại như thế này: tại sao sự phát
triển của loài người đã diễn ra trên những lục địa khác nhau
với những tốc độ khác nhau đến vậy? Những tốc độ phát triển
rất khác nhau đó chính là mẫu hình lớn nhất của lịch sử và là
chủ đề cuốn sách của tôi.
Tuy cuốn sách này nói cho cùng là về lịch sử và tiền sử,
song chủ đề của nó không chỉ có giá trị hàn lâm mà còn có tầm
quan trọng to lớn về thực tiễn và chính trị. Lịch sử những
tương tác giữa các dân tộc khác nhau chính là cái đã định hình
thế giới hiện đại thông qua sự chinh phục, bệnh truyền nhiễm
và diệt chủng. Các xung đột đó tạo ra những ảnh hưởng lâu dài
mà sau nhiều thế kỷ vẫn chưa thôi tác động, vẫn đang tích cực
tiếp diễn ở một số khu vực nhiều vấn đề nhất của thế giới ngày
nay.
Chẳng hạn, hầu hết châu Phi vẫn đang phải đánh vật với di
sản quá khứ thuộc địa của mình. Ở các khu vực khác - gồm
hầu hết Trung Mỹ, Mexico, Peru, Tân Caledonia, Liên Xô cũ
và nhiều phần của Indonesia - các cuộc nội loạn và chiến tranh
du kích đang khiến những người dân bản địa mà dân số vẫn
còn khá đông chống lại các chính phủ vốn chủ yếu nằm trong
tay hậu duệ của những người chinh phục từ nơi khác đến.
Nhiều dân tộc bản địa khác - như người Hawai bản địa, người
Australia bản địa, người Siberia bản địa, người châu Mỹ bản
địa ở Hoa Kỳ, Canada, Brazil, Argentina và Chile - đã bị giảm
sút nghiêm trọng về dân số do nạn diệt chủng và bệnh tật đến
nỗi ngày nay họ chỉ còn một dúm lọt thỏm giữa số đông hậu
duệ những kẻ xâm lược. Mặc dù không có khả năng tiến hành
chiến tranh du kích do dân số quá ít, họ vẫn đang ngày càng
mạnh mẽ đòi quyền lợi của mình.
Ngoài ảnh hưởng lâu dài của các xung đột giữa các dân tộc
trong quá khứ đối với tình hình chính trị và kinh tế ngày nay,
còn có những ảnh hưởng về ngôn ngữ, đặc biệt là sự biến mất
trong ngày một ngày hai của hầu hết trong số 6.000 ngôn ngữ
của thế giới hiện đại, do chúng bị thay thế bởi tiếng Anh, tiếng
Trung Hoa, tiếng Nga và một số ít ngôn ngữ khác mà số người
nói đã tăng vọt trong vài thế kỷ gần đây. Mọi vấn nạn đó của
thế giới hiện đại đều là hệ quả của những quỹ đạo lịch sử khác
nhau hàm chứa trong câu hỏi của Yali.
Trước khi tìm lời đáp cho câu hỏi của Yali, ta nên dừng
một chút để xem xét một số ý kiến phản đối bản thân việc thảo
luận câu hỏi đó. Đối với một số người, nội việc đặt ra câu hỏi
đó thôi cũng đủ khiến họ thấy mình bị xúc phạm, vì một số lý
do.
Một ý kiến phản đối như sau: Nếu chúng ta thành công
trong việc lý giải làm cách nào một số người này thống trị
những người khác, thì liệu điều đó có biện minh cho bản thân
việc thống trị không? Liệu có phải nói vậy là hàm ý cái tình
trạng thống trị kia là không tránh được và do đó việc đấu tranh
hòng thay đổi tình trạng đó ngày nay là vô nghĩa? Ý kiến phản
đối này dựa trên một khuynh hướng phổ biến là lẫn lộn
giữa việc lý giải nguyên nhân với việc biện minh cho kết quả
hoặc chấp nhận kết quả. Sử dụng một cách lý giải lịch sử vào
việc gì và bản thân việc lý giải đó là hai chuyện hoàn toàn
khác nhau. Hiểu một hệ quả thường là để tìm cách thay đổi hệ
quả đó, chứ không phải để lặp lại hoặc kéo dài nó. Chính vì
vậy các nhà tâm lý học mới cố thấu hiểu não trạng của những
kẻ sát nhân hay kẻ hãm hiếp, chính vì vậy các sử gia chuyên
ngành xã hội học mới cố thấu hiểu hành vi diệt chủng, các bác
sĩ mới cố thấu hiểu các nguyên nhân bệnh tật ở người. Các nhà
khoa học đó không tìm cách biện minh cho hành vi sát nhân,
hãm hiếp, diệt chủng và bệnh tật. Họ tìm cách sử dụng hiểu
biết của họ về chuỗi nhân quả hầu chặn đứng cái chuỗi đó.
Thứ hai, liệu việc trả lời câu hỏi của Yali có tự động bao
hàm một cách tiếp cận lịch sử theo hướng lấy châu Âu làm
trung tâm, một sự vinh danh người Tây Âu và nỗi ám ảnh về
tầm quan trọng của Tây Âu và châu Mỹ Âu hóa trong thế giới
hiện đại hay không? Liệu cái tầm quan trọng đó chỉ là một
hiện tượng nhất thời trong vài thế kỷ trước, còn nay thì đã lu
mờ sau sự nổi lên của Nhật Bản và Đông Nam Á hay không?
Trên thực tế, hầu hết cuốn sách này sẽ đề cập đến các dân tộc
khác không phải người châu Âu. Thay vì chỉ tập trung vào
những tương tác giữa người châu Âu với người không phải
châu Âu, ta cũng sẽ xét những tương tác giữa các dân tộc
ngoài châu Âu với nhau - nhất là các tương tác diễn ra trong
nội bộ châu Phi hạ Sahara, Đông Nam Á, Indonesiavà New
Guinea, giữa các dân tộc bản địa ở các khu vực đó. Còn xa
mới là tán dương các dân tộc có nguồn gốc Tây Âu, ta sẽ thấy
rằng hầu hết các yếu tố cơ bản trong nền văn minh của họ đã
được phát triển bởi các dân tộc khác sống ở những nơi khác,
chỉ sau đó mới được du nhập đến Tây Âu.
Thứ ba, liệu những từ như “văn minh” và những cụm từ
như “sự trỗi dậy của văn minh” có hàm chứa cái ấn tượng sai
lạc rằng văn minh mới là hay ho còn săn bắt hái lượm thì khốn
khổ và lịch sử trong suốt 13.000 năm qua là sự tiến bộ dần dần
từ chỗ bất hạnh đến chỗ ngày càng hạnh phúc hơn cho con
người? Thật tình, tôi không cho rằng các nước công nghiệp là
“tốt” hơn các bộ lạc săn bắt hái lượm, hay việc từ bỏ lối sống
săn bắt hái lượm để chuyển sang nhà nước dựa trên công
cụ bằng sắt là đại diện cho “tiến bộ”, hay điều đó đã dẫn đến
việc nâng cao hạnh phúc của con người. Ấn tượng riêng của
tôi, do đã từng sống ở cả các thành phố Hoa Kỳ lẫn các làng
mạc New Guinea, là không phải ai cũng hiểu như nhau cái gọi
là những phúc lợi của văn minh. Chẳng hạn, so với những
người săn bắt hái lượm, công dân ở các nước công nghiệp hóa
được hưởng dịch vụ y tế tốt hơn, ít có rủi ro bị sát hại và được
sống lâu hơn, nhưng lại ít được hưởng sự hỗ trợ xã hội từ tình
bạn và gia đình mở rộng. Động cơ để tôi khảo sát những khác
biệt địa lý trong các xã hội loài người không phải là để tán
dương rằng một loại xã hội nào đó là hay ho hơn, mà chỉ để
thấu hiểu điều gì đã xảy ra trong lịch sử.
Liệu câu hỏi của Yali có thực sự cần một cuốn sách khác
để trả lời không? Chẳng phải chúng ta chưa biết câu trả lời ư?
Nếu có câu trả lời thì nó là gì?
Có lẽ cách lý giải thông thường nhất đều hoặc ngấm ngầm
hoặc thẳng thừng quy cho sự khác biệt về sinh học giữa các
dân tộc. Trong các thế kỷ sau năm 1500, khi các nhà thám
hiểm châu Âu bắt đầu biết đến những khác biệt to lớn về công
nghệ và tổ chức chính trị giữa các dân tộc trên thế giới, họ cho
rằng những khác biệt đó phát sinh từ những khác biệt về khả
năng nội tại. Khi thuyết Darwin xuất hiện, người ta dùng các
thuật ngữ về chọn lọc tự nhiên và nguồn gốc tiến hóa để nhào
nặn lại cách lý giải này. Các dân tộc sơ khai về công nghệ bị
họ coi là dấu vết sự tiến hóa của loài người từ tổ tiên loài
vượn. Họ cho rằng việc những dân tộc như vậy bị các nhà thực
dân từ các xã hội công nghiệp hóa đến giành đất đai là tiêu
biểu cho sự sống sót của loài thích nghi nhất. Khi ngành di
truyền học xuất hiện, cách lý giải này được nhào nặn lại thêm
lần nữa, lần này dùng thuật ngữ di truyền học. Người châu Âu
bắt đầu được coi như vốn dĩ từ trong gen di truyền đã sẵn
thông minh hơn người châu Phi, đặc biệt là so với người châu
Úc bản địa thì lại càng thông minh hơn.
Ngày nay, một số bộ phận của xã hội phương Tây công
khai bác bỏ chủ nghĩa phân chủng. Thế nhưng nhiều (có khi là
hầu hết!) người phương Tây, dù với tư cách cá nhân hay trong
tiềm thức, vẫn tiếp tục chấp nhận những cách lý giải theo
hướng phân biệt chủng tộc. Mỗi khi nhắc đến chủ đề người
châu Úc bản địa, ngay cả những người Mỹ, người châu Âu và
người Úc da trắng có học thức đều cho rằng trong bản thân
người châu Úc đã có cái gì đó sơ khai. Rõ ràng là trông họ
khác người da trắng. Nhiều hậu duệ của những người bản địa
đã sống sót qua thời kỳ thực dân châu Âu nay cảm thấy khó
mà thành đạt về kinh tế trong xã hội của người Úc da trắng.
Một lập luận có vẻ hấp dẫn thì phát biểu như sau: Những
người di cư da trắng đến Úc đã xây dựng một nhà nước có học
vấn, công nghiệp hóa, tập trung hóa về chính trị và dân chủ
dựa trên công cụ kim loại và sản xuất lương thực, tất cả chỉ
trong vòng một thế kỷ thực dân hóa một lục địa nơi mà người
châu Úc bản địa đã sinh sống bằng cách săn bắt hái lượm và
không có công cụ kim loại trong vòng ít nhất 40.000 năm. Đây
là hai thử nghiệm liên tiếp nhau trong sự phát triển của loài
người mà ở đó môi trường trước sau chỉ là một, biến tố duy
nhất là những con người chiếm hữu môi trường đó. Còn phải
có bằng chứng nào hơn thế nữa để có thể kết luận rằng những
khác biệt giữa xã hội châu Úc bản địa với các xã hội châu Âu
phát sinh từ những khác biệt ở bản thân các dân tộc đó?
Lý do để ta phản đối những cách lý giải theo hướng phân
biệt chủng tộc này không phải chỉ vì chúng thật đáng tởm mà
còn bởi chúng sai. Không có bằng chứng vững chắc nào cho
thấy có tồn tại những khác biệt ở trí thông minh của con người
song song với những khác biệt về công nghệ. Trên thực tế, như
tôi sẽ giải thích sau đây, các dân tộc “Đồ đá Mới” thời hiện
đại, xét trên mức trung bình, có lẽ thông minh hơn chứ
không phải kém hơn các dân tộc đã công nghiệp hóa. Nghe thì
có vẻ nghịch lý, nhưng ở Chương 15 ta sẽ thấy, các di dân da
trắng đến châu Úc không đáng được hưởng cái tiếng thơm mà
lâu nay người ta vẫn gán cho là đã xây dựng một xã hội có văn
hóa, công nghiệp hóa cùng với các đức tính khác như đã kể ở
trên. Ngoài ra, các dân tộc mà chỉ mới gần đây hãy còn sơ khai
về công nghệ - như người châu Úc bản địa và người New
Guinea - thường nắm rất chắc công nghệ một khi họ đã được
trao cơ hội làm điều đó.
Các nhà tâm lý học nhận thức đã có những nỗ lực to lớn
hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất
thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện nay sống
trong cùng một nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người
Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng
người Mỹ da đen gốc Phi tự trong di truyền đã kém thông
minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi
người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác
nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự
thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm
kiểm chứng cái giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là
nguyên nhân sâu x...
SÚNG
VI TRÙNG VÀ THÉP
Định mệnh của các xã hội loài người
Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks
Thực hiện ebook: Lê X
facebook.com/groups/TuSachTamLy/
MỤC LỤC
§ Jared Diamond và vận mệnh các xã hội loài người
§ Tại sao lịch sử thế giới giống như củ hành?
§ LỜI NÓI ĐẦU
§ PHẦN I.
CHƯƠNG 1. Trước vạch xuất phát
CHƯƠNG 2. Thí nghiệm tự nhiên về lịch sử
CHƯƠNG 3. Cuộc đụng độ ở Cajamarca
§ PHẦN II.
CHƯƠNG 4. Sức mạnh của nhà nông
CHƯƠNG 5. Kẻ-có và kẻ-không-có trong lịch sử
CHƯƠNG 6. Làm nông hay không làm nông
CHƯƠNG 7. Làm ra một quả hạnh bằng cách nào?
CHƯƠNG 8. Táo hay người Anh-Điêng?
CHƯƠNG 9. Ngựa vằn, những cuộc hôn nhân bất hạnh, và nguyên lý anna
karenina
CHƯƠNG 10. Trời rộng và trục nghiêng
§ PHẦN III.
CHƯƠNG 11. Tặng phẩm chết người của gia súc
CHƯƠNG 12. Bản gốc và những chữ cái vay mượn
CHƯƠNG 13. Mẹ đẻ của nhu cầu
CHƯƠNG 14. Từ chủ nghĩa bình quyền đến chính quyền ăn cướp
§ PHẦN IV.
CHƯƠNG 15. Dân tộc của Yali
CHƯƠNG 16. Tại sao Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc
CHƯƠNG 17. Tàu tốc hành đến Polynesia
CHƯƠNG 18. Đụng độ giữa hai bán cầu
CHƯƠNG 19. Châu phi đã trở thành đen như thế nào?
CHƯƠNG 20. Người Nhật là ai?
Chú Thích
Tặng Esa, Kariniga, Omwai, Paran, Sauakari, Wiwor cùng
tất cả các bạn bè và người thầy New Guinea khác của
tôi, những chủ nhân đích thực của một môi trường khắc
nghiệt.
Jared Diamond và vận mệnh các xã hội loài người
Jared Mason Diamond (10/9/1937) là nhà khoa học Mỹ và tác
giả nổi tiếng với các tác phẩm: Loài tinh tinh thứ ba; Súng, vi
trùng và thép; Sụp đổ; Thế giới cho đến ngày hôm qua, v.v…
Tuy theo học và có bằng tiến sĩ về sinh lý học, nhưng kiến
thức của ông bao trùm hầu như mọi ngành, từ kiến trúc, ngôn
ngữ, khảo cổ, đến động vật học, y học. Ông cũng không phải
là một học giả “tháp ngà” khi từng chu du nhiều châu lục,
thậm chí sống nhiều năm ở những nơi “tận cùng thế giới” (như
đảo Tân Ghi-nê, đảo Phục Sinh). Ông cũng được xếp vào hàng
ngũ những nhà tư tưởng hiện đại có nhiều ảnh hưởng nhất ở
Mỹ.
Từ khoảng đầu thập niên 90 đến nay, Jared Diamond luôn
nung nấu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Sau hơn 13.000 năm
lịch sử, tại sao sự phát triển của các giống dân trên thế giới đã
trở thành quá khác nhau như ngày nay? Theo Diamond, các
nhà viết sử (đơn cử ở phương Tây) đã phạm một lỗi lầm vì họ
đã nhìn không đúng khuôn mặt lịch sử của loài người. Cụ thể,
họ chỉ chú trọng vào các xã hội tương đối văn minh (ít nhất là
có chữ viết) ở Âu Á (Eurasia) và Bắc Phi, và ngay trong dòng
sử của lục địa Âu Á, họ lại chỉ tập trung vào phía Tây, ít chú ý
đến các quốc gia phía Đông (nổi bật là Trung Quốc, rồi đến cả
Nhật Bản và Đông Nam Á). Hơn nữa, phần lớn sử ký hiện nay
chỉ nhìn vào khoảng 3.000 năm sau này, dù rằng khoảng thời
gian đó chỉ là 0,1% trong chiều dài 5 triệu năm loài người có
mặt trên trái đất. Theo Diamond, nhờ những tiến bộ như sinh
vật học phân tử, di truyền học, sinh địa lý, khảo cổ học, và
ngôn ngữ học đã đến lúc chúng ta có thể giải thích sự khác biệt
về trình độ phát triển giữa các nước. Và những tác phẩm của
ông lần lượt xuất bản qua các năm đã làm sáng tỏ vấn đề đó.
Trong Súng, vi trùng và thép: Định mệnh của các xã hội
loài người – tác phẩm đoạt giải Pulitzer năm 1997 và giải Phi
Beta Kappa về khoa học – Jared Diamond đã đưa ra những
minh chứng để giải thích việc tại sao các dân tộc ở một số lục
địa đã có thể xâm chiếm, chinh phục hoặc chiếm chỗ những
dân tộc đã có mặt từ trước ở các lục địa. Với cuốn sách này,
ông đã tạo nên cuộc cách mạng về nghiên cứu lịch sử nhân
loại.
Cuối năm 2004, Jared Diamond xuất bản cuốn Sụp đổ:
Cách xã hội chọn thất bại hoặc thành công, vẫn với góc tiếp
cận của cuốn trước, tức là dựa vào những yếu tố môi trường và
cơ cấu xã hội để giải thích lịch sử của xã hội ấy. Tuy nhiên,
trong khi cuốn trước tìm cách lí giải sự thống trị của văn minh
Tây phương trên phần lớn thế giới, thì trong tác phẩm này,
Diamond nghiền ngẫm nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của
một số nền văn minh.
Thế giới cho đến ngày hôm qua: Chúng ta học được gì từ
những xã hội truyền thống? Là cuốn sách mới nhất được xuất
bản của Jared Diamond, tiếp tục phát triển các lý thuyết và
nghiên cứu của ông về vận mệnh các xã hội loài người. Cuốn
sách cung cấp một bức tranh trực diện đầy mê hoặc về quá khứ
nhân loại tồn tại hàng triệu năm, một quá khứ hầu như đã biến
mất, và xem xét những khác biệt giữa quá khứ và hiện tại… để
trả lời câu hỏi: Chúng ta có thể học được gì từ các xã hội
truyền thống để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.
Nhận thấy tầm vóc và những giá trị to lớn mà bộ sách
mang lại, Alpha Books tiến hành tái bản các cuốn Súng, vi
trùng và thép; Sụp đổ – từng được Nhà xuất bản Tri thức xuất
bản năm 2007 trong “Tủ sách tinh hoa tri thức thế giới” với sự
bảo trợ của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh; xuất bản và giới
thiệu tới độc giả Việt Nam cuốn Thế giới cho đến ngày hôm
qua. Mong nhận được sự đón nhận và đóng góp ý kiến của bạn
đọc!
Công ty Cổ phần Sách Alpha
Tại sao lịch sử thế giới giống như củ hành?
Mục đích của cuốn sách này là cung cấp một lược sử về tất cả
mọi con người trong khoảng 13.000 năm trở lại đây. Câu hỏi
đã khiến tôi viết ra cuốn sách này là: tại sao lịch sử đã diễn ra
trên mỗi châu lục một khác? Nếu như câu hỏi này lập tức
khiến bạn nhún vai cho rằng bạn sắp phải đọc một luận văn
phân biệt chủng tộc thì, xin thưa, không phải vậy. Như bạn sẽ
thấy, những lời đáp cho câu hỏi này tuyệt không bao hàm
những sự khác biệt về chủng tộc. Cuốn sách này tập trung truy
tìm những lý giải tối hậu và đẩy lùi chuỗi nhân quả lịch sử
càng xa bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Hầu hết những cuốn sách có mục đích điểm lại lịch sử thế
giới đều tập trung vào lịch sử các xã hội có chữ viết ở lục địa
Âu-Á và Bắc Phi. Các xã hội bản địa ở các vùng khác trên thế
giới - châu Phi cận Sahara, châu Mỹ, Đông Nam Á hải đảo,
châu Úc, New Guinea và các đảo Thái Bình Dương - chỉ được
nhắc sơ qua, chủ yếu là về những gì xảy ra với họ ở giai đoạn
rất muộn trong lịch sử, sau khi người châu Âu đã khám phá ra
họ và chinh phục họ. Ngay cả với lục địa Âu-Á, hầu hết số
trang trong sách được dành cho lịch sử phần phía Tây của ÂuÁ hơn là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Đông Nam Á xích
đạo và các xã hội Âu-Á khác. Lịch sử trước thời điểm phát
sinh chữ viết vào khoảng 3.000 năm tr.CN cũng chỉ được điểm
qua vắn tắt, mặc dù nó chiếm tới 99,9% toàn bộ lịch sử năm
triệu năm của loài người.
Những tường trình về lịch sử nhân loại mà diện khảo sát bị
bó hẹp như vậy thường gặp ba điều bất lợi. Trước hết, vì
những nguyên nhân dễ hiểu, ngày càng có nhiều người quan
tâm đến các xã hội khác ngoài các xã hội phía tây lục địa ÂuÁ. Nói gì thì nói, chính các xã hội “khác” kia mới bao hàm
hầu hết dân số thế giới và đại đa số các nhóm dân tộc, văn hóa
và ngôn ngữ trên thế giới. Một số xã hội trong đó đã trở thành
- vài xã hội khác thì đang trở thành - những lực lượng kinh tế
và chính trị mạnh mẽ nhất trên thế giới.
Thứ hai, nhất là đối với những người đặc biệt quan tâm
đến sự hình thành thế giới hiện đại, lịch sử mà chỉ biết tự giới
hạn vào những diễn biến từ sau khi chữ viết ra đời thì không
thể mang tới sự hiểu biết sâu sắc được. Chẳng phải vì các xã
hội trên những châu lục khác nhau đã có thể so sánh với nhau
cho đến 3.000 năm tr.CN, khi các xã hội ở phía tây Âu-Á bất
ngờ phát minh chữ viết và cũng lần đầu tiên bứt lên dẫn đầu
trong các lĩnh vực khác. Thay vì vậy, vào khoảng 3.000 năm
tr.CN, đã có những xã hội Âu-Á và Bắc Phi không chỉ manh
nha có chữ viết mà còn có cả chính phủ tập trung hóa, các
thành thị, sử dụng phổ biến công cụ và vũ khí bằng kim loại,
sử dụng động vật thuần hóa để vận chuyển, làm sức kéo và lực
cơ giới, làm nghề nông và chăn nuôi để sản xuất lương thực. Ở
hầu hết hay tất cả các vùng khác trên các châu lục khác thì tại
thời điểm đó không hề có một cái gì trong những thứ kể trên;
một số - nhưng không phải là tất cả - những cái đó mãi về sau
mới nảy sinh ở một số vùng của châu Mỹ bản địa và châu Phi
hạ Sahara, nhưng chỉ trong vòng năm ngàn năm sau, và không
một cái nào trong số đó phát sinh ở châu Úc thổ dân. Điều đó
ắt đã cảnh báo cho ta rằng, sự thống trị của các xã hội tây ÂuÁ trong thế giới hiện đại đã bắt nguồn từ trong quá khứ bất
thành văn cách đây trên 3.000 năm (khi nói về sự thống trị của
các xã hội phía tây lục địa Âu-Á, ý tôi muốn nói sự thống trị
của bản thân các xã hội ở phía tây Âu-Á và các xã hội bắt
nguồn từ họ mà ra ở các lục địa khác1).
Thứ ba, nếu viết sử mà chỉ tập trung vào các xã hội tây
Âu-Á thì sẽ hoàn toàn bỏ qua câu hỏi lớn hiển nhiên. Câu hỏi
ấy là: tại sao chính các xã hội này mới là những xã hội trở nên
hùng mạnh và đổi mới một cách bất cân xứng đến như vậy?
Để trả lời câu hỏi đó người ta thường viện đến những nguyên
nhân trực tiếp nhất, như sự phát sinh chủ nghĩa tư bản, chủ
nghĩa trọng thương, sự tìm tòi khoa học, công nghệ, và các vi
trùng độc hại đã giết chết hàng triệu người ở các châu lục khác
khi họ tiếp xúc với người Âu-Á. Nhưng tại sao tất cả các nhân
tố hỗ trợ cho sự chinh phục đó chỉ phát sinh ở Âu-Á mà thôi,
còn ở các lục địa khác chúng chỉ phát sinh ở mức độ thấp hơn
hoặc hoàn toàn vắng mặt?
Tất cả các nhân tố trên đều chỉ là những nhân tố trực tiếp
chứ không phải lời giải thích tối hậu. Tại sao chủ nghĩa tư bản
không sinh sôi nảy nở tại Mexico bản địa, chủ nghĩa trọng
thương không phát sinh ở châu Phi hạ Sahara, sự tìm tòi khoa
học không phát triển ở Trung Quốc, công nghệ tiên tiến không
nảy sinh ở Bắc Mỹ bản địa và vi trùng không ra đời ở châu Úc
thổ dân? Nếu trả lời bằng cách viện tới các nhân tố văn hóa
đặc thù - chẳng hạn như sự tìm tòi khoa học bị Khổng giáo
bóp nghẹt ở Trung Hoa nhưng lại được người Hy Lạp hay các
truyền thống Do thái-Cơ đốc giáo ở tây Âu-Á khích lệ - chúng
ta vẫn sẽ tiếp tục lờ đi việc cần phải có lời giải thích tối hậu:
tại sao các truyền thống như Khổng giáo không phát triển ở
tây Âu-Á còn đạo đức Do Thái-Cơ đốc giáo không phát triển ở
Trung Hoa? Ngoài ra, khi nói vậy, người ta vẫn lờ đi thực tế
rằng cho đến khoảng 1.400 năm tr.CN nước Trung Hoa Khổng
giáo đã đạt trình độ công nghệ tiên tiến hơn so với vùng tây
Âu-Á.
Không thể thấu hiểu được ngay cả bản thân các xã hội tây
Âu-Á nếu chỉ tập trung vào đó mà thôi. Những câu hỏi thú vị
là những câu hỏi liên quan đến sự khác biệt giữa những xã hội
đó với các xã hội khác. Muốn trả lời các câu hỏi đó, ta cũng
cần phải hiểu tất cả các xã hội khác kia nữa; được vậy thì mới
có thể đặt các xã hội tây Âu-Á vào một bối cảnh rộng hơn.
Một số độc giả có thể cảm thấy tôi đang đi từ chỗ lịch sử
quy ước về phía thái cực ngược lại, bằng cách dành quá ít
trang cho vùng tây Âu-Á mà nói quá nhiều về các vùng khác
của thế giới. Tôi sẽ trả lời rằng, một số vùng khác kia của thế
giới bao hàm rất nhiều thông tin, bởi chúng bao quát rất nhiều
xã hội - và đấy là những xã hội rất khác nhau - trong một khu
vực địa lý nhỏ hẹp. Với giọng điệu phê phán nhẹ nhàng, người
điểm sách này đã viết rằng hình như tôi xem lịch sử thế giới
như một củ hành, trong đó lịch sử hiện đại chỉ chiếm phần bề
mặt, muốn hiểu lịch sử thì phải bóc dần đến các lớp bên trong.
Phải, lịch sử thế giới đúng là một củ hành như vậy! Nhưng bản
thân việc bóc dần từng lớp vỏ hành kia mới thật hấp dẫn, đầy
thử thách - và có tầm quan trọng lớn lao đối với chúng ta ngày
nay, một khi chúng ta muốn thấu hiểu những bài học của quá
khứ ngõ hầu nhìn tới tương lai.
Jared Diamond
LỜI NÓI ĐẦU
Câu hỏi của Yali
Tất cả chúng ta đều biết, lịch sử đã diễn ra rất khác nhau đối
với từng dân tộc ở những phần khác nhau trên trái đất. Trong
vòng 13.000 năm kể từ cuối Kỷ Băng hà sau cùng, một số
vùng trên thế giới đã phát triển được thành những xã hội công
nghiệp có chữ viết, công cụ bằng kim loại, một số vùng khác
chỉ phát triển được những xã hội chăn nuôi không chữ viết,
nhiều vùng khác nữa vẫn chỉ là các xã hội săn bắt hái lượm
dùng công cụ bằng đá. Những sự bất quân bình lịch sử này đã
hắt những cái bóng dài lên thế giới hiện đại, bởi các xã hội có
chữ viết và sử dụng công cụ bằng kim loại đã chinh phục hoặc
tiêu diệt các xã hội khác. Tuy những khác biệt này vẫn là nhân
tố cơ bản nhất của lịch sử thế giới, song nguyên nhân của
chúng vẫn chưa rõ ràng và đang gây tranh cãi. Câu hỏi hóc búa
về nguồn gốc của những khác biệt đó đã đặt ra trước mắt tôi từ
25 năm trước, trong một dạng đơn giản và mang tính cá nhân.
Vào tháng 7 năm 1972, có lần tôi đi bộ dọc bờ biển trên
hòn đảo xích đạo New Guinea nơi tôi đang nghiên cứu sự tiến
hóa của chim với tư cách nhà sinh vật học. Tôi từng nghe nói
về một chính trị gia nổi tiếng người địa phương tên là Yali, lúc
đó ông này đang đi kinh lý trong vùng. Hôm đó tình cờ Yali và
tôi lại đi cùng một hướng, và ông ta bắt kịp tôi. Chúng tôi đi
bên nhau trong khoảng một tiếng đồng hồ và nói chuyện suốt
thời gian đó.
Con người Yali đầy lôi cuốn và nghị lực. Cặp mắt ông ngời
sáng đầy mê hoặc. Ông nói năng hết sức tự tin về bản thân
mình, nhưng ông cũng đặt nhiều câu hỏi thấu đáo và biết chăm
chú lắng nghe. Cuộc đàm đạo của chúng tôi bắt đầu với chủ đề
mà lúc đó người New Guinea nào cũng canh cánh trong lòng:
nhịp độ nhanh chóng của diễn tiến chính trị. Papua New
Guinea, theo cách mà hiện nay người ta gọi dân tộc của Yali,
lúc đó còn là lãnh thổ do Australia cai quản theo ủy trị của
Liên Hợp Quốc, nhưng chẳng bao lâu nữa ắt sẽ giành được
độc lập. Yali giải thích cho tôi về vai trò của ông trong việc
giúp người dân địa phương chuẩn bị cho việc tự mình nắm
chính quyền.
Sau một hồi, Yali chuyển hướng cuộc trò chuyện và bắt
đầu “quay” tôi. Ông ta chưa hề đi đâu ra khỏi New Guinea và
chưa hề học quá bậc trung học, nhưng không gì có thể thỏa
mãn được nỗi tò mò của ông. Trước hết ông ta muốn biết về
công việc nghiên cứu chim của tôi ở New Guinea (kể cả
chuyện tôi được trả bao nhiêu tiền). Tôi giải thích cho ông ta
rằng có những nhóm chim rất khác nhau đã di cư đến New
Guinea trong vòng hàng triệu năm qua. Rồi ông ta hỏi tôi tổ
tiên của chính dân tộc ông ta đã đến New Guinea bằng cách
nào trong mấy vạn năm trở lại đây, và người châu Âu đã biến
New Guinea thành thuộc địa như thế nào trong 200 năm qua.
Cuộc đối thoại vẫn khá thân thiện, mặc dù cả hai chúng tôi
chẳng lạ gì về sự căng thẳng giữa hai xã hội mà Yali và tôi là
đại diện. Hai thế kỷ trước đây, tất cả người New Guinea hãy
còn “sống trong Thời đại Đồ đá”. Nghĩa là, họ vẫn dùng
những công cụ bằng đá tương tự những gì mà ở châu Âu đã bị
thay thế bằng công cụ kim loại từ hàng ngàn năm trước; và họ
sống trong những ngôi làng không được quản lý dưới một
chính quyền có tính tập trung. Người da trắng đã đến, áp đặt
chính quyền tập trung và mang lại những hàng hóa vật chất mà
người New Guinea lập tức nhận ra giá trị, từ rìu thép, diêm và
thuốc men cho tới quần áo, rượu và ô. Ở New Guinea, tất cả
các vật phẩm này được gọi chung là “hàng” (cargo).
Nhiều thực dân da trắng thẳng thừng khinh miệt người
New Guinea, coi họ là những kẻ “bán khai”. Ngay cả những
“ông chủ” da trắng kém cỏi nhất - mãi đến năm 1972 họ vẫn
được gọi là “ông chủ” - cũng có mức sống cao hơn nhiều so
với người New Guinea, thậm chí cao hơn cả những chính trị
gia đầy sức lôi cuốn như Yali. Thế nhưng Yali đã quay rất
nhiều người da trắng cũng như đã “quay” tôi khi đó, còn tôi thì
đã quay nhiều người New Guinea. Cả ông ta lẫn tôi đều biết rõ
rằng người New Guinea trung bình ít nhất cũng thông minh
ngang với người châu Âu. Tất cả những điều đó Yali đều có
nghĩ tới khi ông ta hỏi tôi với một cái nhìn sáng quắc xuyên
thấu nữa: “Thế thì tại sao người da trắng các ông lại chế ra
nhiều hàng như vậy rồi đem sang New Guinea, còn người da
đen chúng tôi lại có ít hàng của chính mình đến vậy?”
Đó là một câu hỏi đơn giản nhưng chạm đến tâm điểm của
đời sống, Yali nhận ra điều đó. Thế nhưng vẫn có một sự khác
biệt to lớn giữa lối sống của người New Guinea trung bình với
lối sống của người châu Âu hay người Mỹ trung bình. Giữa
các dân tộc khác trên thế giới cũng có những khác biệt tương
tự về lối sống. Những khác biệt lớn lao đó ắt có những nguyên
nhân sâu xa mà người ta có thể cho là hiển nhiên.
Thế nhưng câu hỏi bề ngoài đơn giản của Yali lại không dễ
trả lời. Lúc ấy tôi đã không trả lời được. Các sử gia chuyên
nghiệp vẫn còn tranh cãi với nhau về lời đáp cho câu hỏi đó,
hầu hết thậm chí còn không đặt câu hỏi đó ra nữa kia. Trong
nhiều năm kể từ khi Yali và tôi có cuộc đàm đạo kể trên, tôi đã
nghiên cứu và viết về các phương diện khác của lịch sử loài
người, lịch sử và ngôn ngữ. Cuốn sách này, được viết ra sau đó
hai mươi lăm năm, là nỗ lực nhằm trả lời cho Yali.
Mặc dù câu hỏi của Yali chỉ liên quan đến sự tương phản
về lối sống giữa người New Guinea với người da trắng châu
Âu, song ta có thể mở rộng ra nhiều cặp tương phản khác
trong thế giới hiện đại. Các dân tộc có nguồn gốc Âu-Á, nhất
là các dân tộc hiện vẫn đang sống ở châu Âu và Đông Á, cộng
với những người đã di cư sang Bắc Mỹ, hiện đang thống trị thế
giới về của cải và quyền lực. Các dân tộc khác, trong đó có
hầu hết người châu Phi, đã dứt bỏ được ách thực dân châu Âu
song vẫn còn tụt hậu rất xa về của cải và quyền lực. Lại có
những dân tộc khác, chẳng hạn như cư dân bản địa châu Úc,
người châu Mỹ bản địa và người cực nam châu Phi, không còn
là chủ nhân mảnh đất của mình mà đã bị tàn sát, bị chinh phục,
trong một số trường hợp thậm chí còn bị diệt chủng bởi người
châu Âu thực dân.
Vậy, ta có thể đặt lại những câu hỏi về sự bất bình đẳng
trong thế giới hiện đại như sau: Tại sao của cải và quyền lực
chỉ được phân phối như hiện nay chứ không được phân phối
theo cách nào khác? Chẳng hạn, tại sao không phải người châu
Mỹ bản địa, người châu Phi và người châu Úc bản địa là
những kẻ đi tàn sát, chinh phục hay tiêu diệt người châu Âu và
người châu Á?
Ta có thể dễ dàng đẩy câu hỏi này lùi lại thêm một bước.
Vào năm 1500, khi sự bành trướng thuộc địa của châu Âu chỉ
mới khởi đầu, các dân tộc trên những lục địa khác nhau đã
khác nhau rất nhiều về công nghệ và tổ chức chính trị. Hầu hết
châu Âu, châu Á và Bắc Phi là nơi có những nhà nước hoặc đế
quốc vũ trang bằng kim loại, trong số đó vài nước đang trên
ngưỡng cửa công nghiệp hóa. Hai dân tộc châu Mỹ bản địa,
người Aztec và người Inca, đang cai trị những đế quốc dùng
công cụ bằng đá. Một số phần của châu Phi hạ Sahara được
phân chia giữa các quốc gia hay tù trưởng quốc nhỏ dùng công
cụ bằng sắt. Hầu hết các dân tộc khác - trong đó có tất cả các
dân tộc ở châu Úc và New Guinea, nhiều đảo Thái Bình
Dương, hầu hết châu Mỹ và nhiều phần nhỏ của châu Phi hạ
Sahara - vẫn sống thành những bộ lạc chăn nuôi hay thậm chí
như là những bộ lạc săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá.
Dĩ nhiên, những sự khác biệt về công nghệ và chính trị đó
vào khoảng năm 1500 đã là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
những bất quân bình của thế giới hiện đại. Các đế quốc có vũ
khí bằng thép đã có thể chinh phục hay tiêu diệt các bộ lạc chỉ
dùng vũ khí bằng đá và gỗ. Tuy nhiên, làm cách nào thế giới
đã đạt tới tình trạng như vậy vào thời điểm năm 1500?
Một lần nữa, chúng ta có thể dễ dàng đẩy lùi câu hỏi này
thêm một bước, bằng cách dựa vào lịch sử thành văn và các di
chỉ khảo cổ. Cho đến cuối kỷ Băng hà, khoảng 11.000 năm
tr.CN, mọi dân tộc trên mọi lục địa đều hãy còn là dân săn bắt
hái lượm. Mỗi lục địa phát triển với một tốc độ khác nhau
trong khoảng từ 11.000 năm tr.CN đến năm 1500, đó chính
là điều đã dẫn đến những bất quân bình về công nghệ và chính
trị vào năm 1500. Trong khi người châu Úc bản địa và nhiều
dân châu Mỹ bản địa vẫn cứ là dân săn bắt hái lượm, hầu hết
người Âu-Á, hầu hết người châu Mỹ và châu Phi hạ Sahara đã
dần dần phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, nghề luyện kim và
các tổ chức chính trị phức tạp. Nhiều phần của Âu-Á và một
khu vực của châu Mỹ cũng đã phát minh ra chữ viết một cách
độc lập với nhau. Tuy nhiên, chính tại Âu-Á các phát minh này
xuất hiện sớm hơn ở bất cứ nơi nào khác. Chẳng hạn, việc sản
xuất đại trà công cụ bằng đồng, vốn chỉ mới khởi đầu ở vùng
Andes Nam Mỹ vào các thế kỷ trước năm 1500, đã xuất hiện ở
Âu-Á từ trước đó trên 4.000 năm. Công nghệ dùng đá của
người Tasmania, khi được các nhà thám hiểm châu Âu phát
hiện lần đầu vào năm 1642, còn đơn sơ hơn nhiều so với ở
nhiều vùng của châu Âu Sơ kỳ Đồ đá cũ trước đó hàng vạn
năm.
Vậy là rốt cuộc ta có thể đặt lại câu hỏi về những sự bất
quân bình của thế giới hiện đại như thế này: tại sao sự phát
triển của loài người đã diễn ra trên những lục địa khác nhau
với những tốc độ khác nhau đến vậy? Những tốc độ phát triển
rất khác nhau đó chính là mẫu hình lớn nhất của lịch sử và là
chủ đề cuốn sách của tôi.
Tuy cuốn sách này nói cho cùng là về lịch sử và tiền sử,
song chủ đề của nó không chỉ có giá trị hàn lâm mà còn có tầm
quan trọng to lớn về thực tiễn và chính trị. Lịch sử những
tương tác giữa các dân tộc khác nhau chính là cái đã định hình
thế giới hiện đại thông qua sự chinh phục, bệnh truyền nhiễm
và diệt chủng. Các xung đột đó tạo ra những ảnh hưởng lâu dài
mà sau nhiều thế kỷ vẫn chưa thôi tác động, vẫn đang tích cực
tiếp diễn ở một số khu vực nhiều vấn đề nhất của thế giới ngày
nay.
Chẳng hạn, hầu hết châu Phi vẫn đang phải đánh vật với di
sản quá khứ thuộc địa của mình. Ở các khu vực khác - gồm
hầu hết Trung Mỹ, Mexico, Peru, Tân Caledonia, Liên Xô cũ
và nhiều phần của Indonesia - các cuộc nội loạn và chiến tranh
du kích đang khiến những người dân bản địa mà dân số vẫn
còn khá đông chống lại các chính phủ vốn chủ yếu nằm trong
tay hậu duệ của những người chinh phục từ nơi khác đến.
Nhiều dân tộc bản địa khác - như người Hawai bản địa, người
Australia bản địa, người Siberia bản địa, người châu Mỹ bản
địa ở Hoa Kỳ, Canada, Brazil, Argentina và Chile - đã bị giảm
sút nghiêm trọng về dân số do nạn diệt chủng và bệnh tật đến
nỗi ngày nay họ chỉ còn một dúm lọt thỏm giữa số đông hậu
duệ những kẻ xâm lược. Mặc dù không có khả năng tiến hành
chiến tranh du kích do dân số quá ít, họ vẫn đang ngày càng
mạnh mẽ đòi quyền lợi của mình.
Ngoài ảnh hưởng lâu dài của các xung đột giữa các dân tộc
trong quá khứ đối với tình hình chính trị và kinh tế ngày nay,
còn có những ảnh hưởng về ngôn ngữ, đặc biệt là sự biến mất
trong ngày một ngày hai của hầu hết trong số 6.000 ngôn ngữ
của thế giới hiện đại, do chúng bị thay thế bởi tiếng Anh, tiếng
Trung Hoa, tiếng Nga và một số ít ngôn ngữ khác mà số người
nói đã tăng vọt trong vài thế kỷ gần đây. Mọi vấn nạn đó của
thế giới hiện đại đều là hệ quả của những quỹ đạo lịch sử khác
nhau hàm chứa trong câu hỏi của Yali.
Trước khi tìm lời đáp cho câu hỏi của Yali, ta nên dừng
một chút để xem xét một số ý kiến phản đối bản thân việc thảo
luận câu hỏi đó. Đối với một số người, nội việc đặt ra câu hỏi
đó thôi cũng đủ khiến họ thấy mình bị xúc phạm, vì một số lý
do.
Một ý kiến phản đối như sau: Nếu chúng ta thành công
trong việc lý giải làm cách nào một số người này thống trị
những người khác, thì liệu điều đó có biện minh cho bản thân
việc thống trị không? Liệu có phải nói vậy là hàm ý cái tình
trạng thống trị kia là không tránh được và do đó việc đấu tranh
hòng thay đổi tình trạng đó ngày nay là vô nghĩa? Ý kiến phản
đối này dựa trên một khuynh hướng phổ biến là lẫn lộn
giữa việc lý giải nguyên nhân với việc biện minh cho kết quả
hoặc chấp nhận kết quả. Sử dụng một cách lý giải lịch sử vào
việc gì và bản thân việc lý giải đó là hai chuyện hoàn toàn
khác nhau. Hiểu một hệ quả thường là để tìm cách thay đổi hệ
quả đó, chứ không phải để lặp lại hoặc kéo dài nó. Chính vì
vậy các nhà tâm lý học mới cố thấu hiểu não trạng của những
kẻ sát nhân hay kẻ hãm hiếp, chính vì vậy các sử gia chuyên
ngành xã hội học mới cố thấu hiểu hành vi diệt chủng, các bác
sĩ mới cố thấu hiểu các nguyên nhân bệnh tật ở người. Các nhà
khoa học đó không tìm cách biện minh cho hành vi sát nhân,
hãm hiếp, diệt chủng và bệnh tật. Họ tìm cách sử dụng hiểu
biết của họ về chuỗi nhân quả hầu chặn đứng cái chuỗi đó.
Thứ hai, liệu việc trả lời câu hỏi của Yali có tự động bao
hàm một cách tiếp cận lịch sử theo hướng lấy châu Âu làm
trung tâm, một sự vinh danh người Tây Âu và nỗi ám ảnh về
tầm quan trọng của Tây Âu và châu Mỹ Âu hóa trong thế giới
hiện đại hay không? Liệu cái tầm quan trọng đó chỉ là một
hiện tượng nhất thời trong vài thế kỷ trước, còn nay thì đã lu
mờ sau sự nổi lên của Nhật Bản và Đông Nam Á hay không?
Trên thực tế, hầu hết cuốn sách này sẽ đề cập đến các dân tộc
khác không phải người châu Âu. Thay vì chỉ tập trung vào
những tương tác giữa người châu Âu với người không phải
châu Âu, ta cũng sẽ xét những tương tác giữa các dân tộc
ngoài châu Âu với nhau - nhất là các tương tác diễn ra trong
nội bộ châu Phi hạ Sahara, Đông Nam Á, Indonesiavà New
Guinea, giữa các dân tộc bản địa ở các khu vực đó. Còn xa
mới là tán dương các dân tộc có nguồn gốc Tây Âu, ta sẽ thấy
rằng hầu hết các yếu tố cơ bản trong nền văn minh của họ đã
được phát triển bởi các dân tộc khác sống ở những nơi khác,
chỉ sau đó mới được du nhập đến Tây Âu.
Thứ ba, liệu những từ như “văn minh” và những cụm từ
như “sự trỗi dậy của văn minh” có hàm chứa cái ấn tượng sai
lạc rằng văn minh mới là hay ho còn săn bắt hái lượm thì khốn
khổ và lịch sử trong suốt 13.000 năm qua là sự tiến bộ dần dần
từ chỗ bất hạnh đến chỗ ngày càng hạnh phúc hơn cho con
người? Thật tình, tôi không cho rằng các nước công nghiệp là
“tốt” hơn các bộ lạc săn bắt hái lượm, hay việc từ bỏ lối sống
săn bắt hái lượm để chuyển sang nhà nước dựa trên công
cụ bằng sắt là đại diện cho “tiến bộ”, hay điều đó đã dẫn đến
việc nâng cao hạnh phúc của con người. Ấn tượng riêng của
tôi, do đã từng sống ở cả các thành phố Hoa Kỳ lẫn các làng
mạc New Guinea, là không phải ai cũng hiểu như nhau cái gọi
là những phúc lợi của văn minh. Chẳng hạn, so với những
người săn bắt hái lượm, công dân ở các nước công nghiệp hóa
được hưởng dịch vụ y tế tốt hơn, ít có rủi ro bị sát hại và được
sống lâu hơn, nhưng lại ít được hưởng sự hỗ trợ xã hội từ tình
bạn và gia đình mở rộng. Động cơ để tôi khảo sát những khác
biệt địa lý trong các xã hội loài người không phải là để tán
dương rằng một loại xã hội nào đó là hay ho hơn, mà chỉ để
thấu hiểu điều gì đã xảy ra trong lịch sử.
Liệu câu hỏi của Yali có thực sự cần một cuốn sách khác
để trả lời không? Chẳng phải chúng ta chưa biết câu trả lời ư?
Nếu có câu trả lời thì nó là gì?
Có lẽ cách lý giải thông thường nhất đều hoặc ngấm ngầm
hoặc thẳng thừng quy cho sự khác biệt về sinh học giữa các
dân tộc. Trong các thế kỷ sau năm 1500, khi các nhà thám
hiểm châu Âu bắt đầu biết đến những khác biệt to lớn về công
nghệ và tổ chức chính trị giữa các dân tộc trên thế giới, họ cho
rằng những khác biệt đó phát sinh từ những khác biệt về khả
năng nội tại. Khi thuyết Darwin xuất hiện, người ta dùng các
thuật ngữ về chọn lọc tự nhiên và nguồn gốc tiến hóa để nhào
nặn lại cách lý giải này. Các dân tộc sơ khai về công nghệ bị
họ coi là dấu vết sự tiến hóa của loài người từ tổ tiên loài
vượn. Họ cho rằng việc những dân tộc như vậy bị các nhà thực
dân từ các xã hội công nghiệp hóa đến giành đất đai là tiêu
biểu cho sự sống sót của loài thích nghi nhất. Khi ngành di
truyền học xuất hiện, cách lý giải này được nhào nặn lại thêm
lần nữa, lần này dùng thuật ngữ di truyền học. Người châu Âu
bắt đầu được coi như vốn dĩ từ trong gen di truyền đã sẵn
thông minh hơn người châu Phi, đặc biệt là so với người châu
Úc bản địa thì lại càng thông minh hơn.
Ngày nay, một số bộ phận của xã hội phương Tây công
khai bác bỏ chủ nghĩa phân chủng. Thế nhưng nhiều (có khi là
hầu hết!) người phương Tây, dù với tư cách cá nhân hay trong
tiềm thức, vẫn tiếp tục chấp nhận những cách lý giải theo
hướng phân biệt chủng tộc. Mỗi khi nhắc đến chủ đề người
châu Úc bản địa, ngay cả những người Mỹ, người châu Âu và
người Úc da trắng có học thức đều cho rằng trong bản thân
người châu Úc đã có cái gì đó sơ khai. Rõ ràng là trông họ
khác người da trắng. Nhiều hậu duệ của những người bản địa
đã sống sót qua thời kỳ thực dân châu Âu nay cảm thấy khó
mà thành đạt về kinh tế trong xã hội của người Úc da trắng.
Một lập luận có vẻ hấp dẫn thì phát biểu như sau: Những
người di cư da trắng đến Úc đã xây dựng một nhà nước có học
vấn, công nghiệp hóa, tập trung hóa về chính trị và dân chủ
dựa trên công cụ kim loại và sản xuất lương thực, tất cả chỉ
trong vòng một thế kỷ thực dân hóa một lục địa nơi mà người
châu Úc bản địa đã sinh sống bằng cách săn bắt hái lượm và
không có công cụ kim loại trong vòng ít nhất 40.000 năm. Đây
là hai thử nghiệm liên tiếp nhau trong sự phát triển của loài
người mà ở đó môi trường trước sau chỉ là một, biến tố duy
nhất là những con người chiếm hữu môi trường đó. Còn phải
có bằng chứng nào hơn thế nữa để có thể kết luận rằng những
khác biệt giữa xã hội châu Úc bản địa với các xã hội châu Âu
phát sinh từ những khác biệt ở bản thân các dân tộc đó?
Lý do để ta phản đối những cách lý giải theo hướng phân
biệt chủng tộc này không phải chỉ vì chúng thật đáng tởm mà
còn bởi chúng sai. Không có bằng chứng vững chắc nào cho
thấy có tồn tại những khác biệt ở trí thông minh của con người
song song với những khác biệt về công nghệ. Trên thực tế, như
tôi sẽ giải thích sau đây, các dân tộc “Đồ đá Mới” thời hiện
đại, xét trên mức trung bình, có lẽ thông minh hơn chứ
không phải kém hơn các dân tộc đã công nghiệp hóa. Nghe thì
có vẻ nghịch lý, nhưng ở Chương 15 ta sẽ thấy, các di dân da
trắng đến châu Úc không đáng được hưởng cái tiếng thơm mà
lâu nay người ta vẫn gán cho là đã xây dựng một xã hội có văn
hóa, công nghiệp hóa cùng với các đức tính khác như đã kể ở
trên. Ngoài ra, các dân tộc mà chỉ mới gần đây hãy còn sơ khai
về công nghệ - như người châu Úc bản địa và người New
Guinea - thường nắm rất chắc công nghệ một khi họ đã được
trao cơ hội làm điều đó.
Các nhà tâm lý học nhận thức đã có những nỗ lực to lớn
hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất
thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện nay sống
trong cùng một nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người
Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng
người Mỹ da đen gốc Phi tự trong di truyền đã kém thông
minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi
người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác
nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự
thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm
kiểm chứng cái giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là
nguyên nhân sâu x...
 





