TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    8.jpg 7.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 1.jpg KHKT3.jpg KHKT6.jpg KHKT7.jpg

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi Quý thầy cô và các em học sinh thân mến, Thư viện trân trọng giới thiệu Trang học liệu số – một kho tài nguyên tri thức phong phú được tuyển chọn dành riêng cho cộng đồng nhà trường. Tại đây, thầy cô và các em có thể truy cập sách điện tử, bài giảng tham khảo, tài liệu học tập theo chủ đề, video hướng dẫn kỹ năng đọc – tìm kiếm – sử dụng thông tin, cùng nhiều nguồn học liệu bổ ích khác. Việc khai thác trang học liệu là một cách mở rộng không gian học tập vượt ra ngoài lớp học, giúp các em rèn luyện tư duy, phát triển kỹ năng tự học và nuôi dưỡng niềm đam mê khám phá tri thức. Thầy cô có thể sử dụng các tài nguyên này để bổ trợ bài giảng, thiết kế hoạt động đọc hiệu quả và truyền cảm hứng học tập cho học sinh. Xin mời thầy cô và các em truy cập ngay hôm nay để trải nghiệm và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này. Mỗi trang học là một cơ hội để chúng ta cùng lớn lên về kiến thức và tư duy.

    💕💕Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với những bộ óc vĩ đại nhất của các thế kỷ đã qua.” – Descartes💕Điều chúng ta biết chỉ là giọt nước, điều chúng ta chưa biết là đại dương💕

    Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |

    Súng vi trùng và thép

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:43' 09-03-2024
    Dung lượng: 4.9 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    JARED DIAMOND

    SÚNG
    VI TRÙNG VÀ THÉP

    Định mệnh của các xã hội loài người

    Bản quyền tiếng Việt © Alphabooks

    Thực hiện ebook: Lê X
    facebook.com/groups/TuSachTamLy/

    MỤC LỤC

    § Jared Diamond và vận mệnh các xã hội loài người
    § Tại sao lịch sử thế giới giống như củ hành?
    § LỜI NÓI ĐẦU
    § PHẦN I.
    CHƯƠNG 1. Trước vạch xuất phát
    CHƯƠNG 2. Thí nghiệm tự nhiên về lịch sử
    CHƯƠNG 3. Cuộc đụng độ ở Cajamarca
    § PHẦN II.
    CHƯƠNG 4. Sức mạnh của nhà nông
    CHƯƠNG 5. Kẻ-có và kẻ-không-có trong lịch sử
    CHƯƠNG 6. Làm nông hay không làm nông
    CHƯƠNG 7. Làm ra một quả hạnh bằng cách nào?
    CHƯƠNG 8. Táo hay người Anh-Điêng?
    CHƯƠNG 9. Ngựa vằn, những cuộc hôn nhân bất hạnh, và nguyên lý anna
    karenina
    CHƯƠNG 10. Trời rộng và trục nghiêng
    § PHẦN III.
    CHƯƠNG 11. Tặng phẩm chết người của gia súc
    CHƯƠNG 12. Bản gốc và những chữ cái vay mượn
    CHƯƠNG 13. Mẹ đẻ của nhu cầu
    CHƯƠNG 14. Từ chủ nghĩa bình quyền đến chính quyền ăn cướp
    § PHẦN IV.
    CHƯƠNG 15. Dân tộc của Yali
    CHƯƠNG 16. Tại sao Trung Hoa đã trở thành Trung Quốc
    CHƯƠNG 17. Tàu tốc hành đến Polynesia
    CHƯƠNG 18. Đụng độ giữa hai bán cầu
    CHƯƠNG 19. Châu phi đã trở thành đen như thế nào?
    CHƯƠNG 20. Người Nhật là ai?

    Chú Thích

    Tặng Esa, Kariniga, Omwai, Paran, Sauakari, Wiwor cùng
    tất cả các bạn bè và người thầy New Guinea khác của
    tôi, những chủ nhân đích thực của một môi trường khắc
    nghiệt.

    Jared Diamond và vận mệnh các xã hội loài người

    Jared Mason Diamond (10/9/1937) là nhà khoa học Mỹ và tác
    giả nổi tiếng với các tác phẩm: Loài tinh tinh thứ ba; Súng, vi
    trùng và thép; Sụp đổ; Thế giới cho đến ngày hôm qua, v.v…
    Tuy theo học và có bằng tiến sĩ về sinh lý học, nhưng kiến
    thức của ông bao trùm hầu như mọi ngành, từ kiến trúc, ngôn
    ngữ, khảo cổ, đến động vật học, y học. Ông cũng không phải
    là một học giả “tháp ngà” khi từng chu du nhiều châu lục,
    thậm chí sống nhiều năm ở những nơi “tận cùng thế giới” (như
    đảo Tân Ghi-nê, đảo Phục Sinh). Ông cũng được xếp vào hàng
    ngũ những nhà tư tưởng hiện đại có nhiều ảnh hưởng nhất ở
    Mỹ.
    Từ khoảng đầu thập niên 90 đến nay, Jared Diamond luôn
    nung nấu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Sau hơn 13.000 năm
    lịch sử, tại sao sự phát triển của các giống dân trên thế giới đã
    trở thành quá khác nhau như ngày nay? Theo Diamond, các
    nhà viết sử (đơn cử ở phương Tây) đã phạm một lỗi lầm vì họ
    đã nhìn không đúng khuôn mặt lịch sử của loài người. Cụ thể,
    họ chỉ chú trọng vào các xã hội tương đối văn minh (ít nhất là
    có chữ viết) ở Âu Á (Eurasia) và Bắc Phi, và ngay trong dòng
    sử của lục địa Âu Á, họ lại chỉ tập trung vào phía Tây, ít chú ý
    đến các quốc gia phía Đông (nổi bật là Trung Quốc, rồi đến cả
    Nhật Bản và Đông Nam Á). Hơn nữa, phần lớn sử ký hiện nay
    chỉ nhìn vào khoảng 3.000 năm sau này, dù rằng khoảng thời
    gian đó chỉ là 0,1% trong chiều dài 5 triệu năm loài người có
    mặt trên trái đất. Theo Diamond, nhờ những tiến bộ như sinh
    vật học phân tử, di truyền học, sinh địa lý, khảo cổ học, và
    ngôn ngữ học đã đến lúc chúng ta có thể giải thích sự khác biệt
    về trình độ phát triển giữa các nước. Và những tác phẩm của
    ông lần lượt xuất bản qua các năm đã làm sáng tỏ vấn đề đó.
    Trong Súng, vi trùng và thép: Định mệnh của các xã hội
    loài người – tác phẩm đoạt giải Pulitzer năm 1997 và giải Phi

    Beta Kappa về khoa học – Jared Diamond đã đưa ra những
    minh chứng để giải thích việc tại sao các dân tộc ở một số lục
    địa đã có thể xâm chiếm, chinh phục hoặc chiếm chỗ những
    dân tộc đã có mặt từ trước ở các lục địa. Với cuốn sách này,
    ông đã tạo nên cuộc cách mạng về nghiên cứu lịch sử nhân
    loại.
    Cuối năm 2004, Jared Diamond xuất bản cuốn Sụp đổ:
    Cách xã hội chọn thất bại hoặc thành công, vẫn với góc tiếp
    cận của cuốn trước, tức là dựa vào những yếu tố môi trường và
    cơ cấu xã hội để giải thích lịch sử của xã hội ấy. Tuy nhiên,
    trong khi cuốn trước tìm cách lí giải sự thống trị của văn minh
    Tây phương trên phần lớn thế giới, thì trong tác phẩm này,
    Diamond nghiền ngẫm nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của
    một số nền văn minh.
    Thế giới cho đến ngày hôm qua: Chúng ta học được gì từ
    những xã hội truyền thống? Là cuốn sách mới nhất được xuất
    bản của Jared Diamond, tiếp tục phát triển các lý thuyết và
    nghiên cứu của ông về vận mệnh các xã hội loài người. Cuốn
    sách cung cấp một bức tranh trực diện đầy mê hoặc về quá khứ
    nhân loại tồn tại hàng triệu năm, một quá khứ hầu như đã biến
    mất, và xem xét những khác biệt giữa quá khứ và hiện tại… để
    trả lời câu hỏi: Chúng ta có thể học được gì từ các xã hội
    truyền thống để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.
    Nhận thấy tầm vóc và những giá trị to lớn mà bộ sách
    mang lại, Alpha Books tiến hành tái bản các cuốn Súng, vi
    trùng và thép; Sụp đổ – từng được Nhà xuất bản Tri thức xuất
    bản năm 2007 trong “Tủ sách tinh hoa tri thức thế giới” với sự
    bảo trợ của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh; xuất bản và giới
    thiệu tới độc giả Việt Nam cuốn Thế giới cho đến ngày hôm
    qua. Mong nhận được sự đón nhận và đóng góp ý kiến của bạn
    đọc!
    Công ty Cổ phần Sách Alpha

    Tại sao lịch sử thế giới giống như củ hành?

    Mục đích của cuốn sách này là cung cấp một lược sử về tất cả
    mọi con người trong khoảng 13.000 năm trở lại đây. Câu hỏi
    đã khiến tôi viết ra cuốn sách này là: tại sao lịch sử đã diễn ra
    trên mỗi châu lục một khác? Nếu như câu hỏi này lập tức
    khiến bạn nhún vai cho rằng bạn sắp phải đọc một luận văn
    phân biệt chủng tộc thì, xin thưa, không phải vậy. Như bạn sẽ
    thấy, những lời đáp cho câu hỏi này tuyệt không bao hàm
    những sự khác biệt về chủng tộc. Cuốn sách này tập trung truy
    tìm những lý giải tối hậu và đẩy lùi chuỗi nhân quả lịch sử
    càng xa bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
    Hầu hết những cuốn sách có mục đích điểm lại lịch sử thế
    giới đều tập trung vào lịch sử các xã hội có chữ viết ở lục địa
    Âu-Á và Bắc Phi. Các xã hội bản địa ở các vùng khác trên thế
    giới - châu Phi cận Sahara, châu Mỹ, Đông Nam Á hải đảo,
    châu Úc, New Guinea và các đảo Thái Bình Dương - chỉ được
    nhắc sơ qua, chủ yếu là về những gì xảy ra với họ ở giai đoạn
    rất muộn trong lịch sử, sau khi người châu Âu đã khám phá ra
    họ và chinh phục họ. Ngay cả với lục địa Âu-Á, hầu hết số
    trang trong sách được dành cho lịch sử phần phía Tây của ÂuÁ hơn là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Đông Nam Á xích
    đạo và các xã hội Âu-Á khác. Lịch sử trước thời điểm phát
    sinh chữ viết vào khoảng 3.000 năm tr.CN cũng chỉ được điểm
    qua vắn tắt, mặc dù nó chiếm tới 99,9% toàn bộ lịch sử năm
    triệu năm của loài người.
    Những tường trình về lịch sử nhân loại mà diện khảo sát bị
    bó hẹp như vậy thường gặp ba điều bất lợi. Trước hết, vì
    những nguyên nhân dễ hiểu, ngày càng có nhiều người quan
    tâm đến các xã hội khác ngoài các xã hội phía tây lục địa ÂuÁ. Nói gì thì nói, chính các xã hội “khác” kia mới bao hàm
    hầu hết dân số thế giới và đại đa số các nhóm dân tộc, văn hóa
    và ngôn ngữ trên thế giới. Một số xã hội trong đó đã trở thành

    - vài xã hội khác thì đang trở thành - những lực lượng kinh tế
    và chính trị mạnh mẽ nhất trên thế giới.
    Thứ hai, nhất là đối với những người đặc biệt quan tâm
    đến sự hình thành thế giới hiện đại, lịch sử mà chỉ biết tự giới
    hạn vào những diễn biến từ sau khi chữ viết ra đời thì không
    thể mang tới sự hiểu biết sâu sắc được. Chẳng phải vì các xã
    hội trên những châu lục khác nhau đã có thể so sánh với nhau
    cho đến 3.000 năm tr.CN, khi các xã hội ở phía tây Âu-Á bất
    ngờ phát minh chữ viết và cũng lần đầu tiên bứt lên dẫn đầu
    trong các lĩnh vực khác. Thay vì vậy, vào khoảng 3.000 năm
    tr.CN, đã có những xã hội Âu-Á và Bắc Phi không chỉ manh
    nha có chữ viết mà còn có cả chính phủ tập trung hóa, các
    thành thị, sử dụng phổ biến công cụ và vũ khí bằng kim loại,
    sử dụng động vật thuần hóa để vận chuyển, làm sức kéo và lực
    cơ giới, làm nghề nông và chăn nuôi để sản xuất lương thực. Ở
    hầu hết hay tất cả các vùng khác trên các châu lục khác thì tại
    thời điểm đó không hề có một cái gì trong những thứ kể trên;
    một số - nhưng không phải là tất cả - những cái đó mãi về sau
    mới nảy sinh ở một số vùng của châu Mỹ bản địa và châu Phi
    hạ Sahara, nhưng chỉ trong vòng năm ngàn năm sau, và không
    một cái nào trong số đó phát sinh ở châu Úc thổ dân. Điều đó
    ắt đã cảnh báo cho ta rằng, sự thống trị của các xã hội tây ÂuÁ trong thế giới hiện đại đã bắt nguồn từ trong quá khứ bất
    thành văn cách đây trên 3.000 năm (khi nói về sự thống trị của
    các xã hội phía tây lục địa Âu-Á, ý tôi muốn nói sự thống trị
    của bản thân các xã hội ở phía tây Âu-Á và các xã hội bắt
    nguồn từ họ mà ra ở các lục địa khác1).
    Thứ ba, nếu viết sử mà chỉ tập trung vào các xã hội tây
    Âu-Á thì sẽ hoàn toàn bỏ qua câu hỏi lớn hiển nhiên. Câu hỏi
    ấy là: tại sao chính các xã hội này mới là những xã hội trở nên
    hùng mạnh và đổi mới một cách bất cân xứng đến như vậy?
    Để trả lời câu hỏi đó người ta thường viện đến những nguyên
    nhân trực tiếp nhất, như sự phát sinh chủ nghĩa tư bản, chủ
    nghĩa trọng thương, sự tìm tòi khoa học, công nghệ, và các vi
    trùng độc hại đã giết chết hàng triệu người ở các châu lục khác
    khi họ tiếp xúc với người Âu-Á. Nhưng tại sao tất cả các nhân
    tố hỗ trợ cho sự chinh phục đó chỉ phát sinh ở Âu-Á mà thôi,
    còn ở các lục địa khác chúng chỉ phát sinh ở mức độ thấp hơn
    hoặc hoàn toàn vắng mặt?

    Tất cả các nhân tố trên đều chỉ là những nhân tố trực tiếp
    chứ không phải lời giải thích tối hậu. Tại sao chủ nghĩa tư bản
    không sinh sôi nảy nở tại Mexico bản địa, chủ nghĩa trọng
    thương không phát sinh ở châu Phi hạ Sahara, sự tìm tòi khoa
    học không phát triển ở Trung Quốc, công nghệ tiên tiến không
    nảy sinh ở Bắc Mỹ bản địa và vi trùng không ra đời ở châu Úc
    thổ dân? Nếu trả lời bằng cách viện tới các nhân tố văn hóa
    đặc thù - chẳng hạn như sự tìm tòi khoa học bị Khổng giáo
    bóp nghẹt ở Trung Hoa nhưng lại được người Hy Lạp hay các
    truyền thống Do thái-Cơ đốc giáo ở tây Âu-Á khích lệ - chúng
    ta vẫn sẽ tiếp tục lờ đi việc cần phải có lời giải thích tối hậu:
    tại sao các truyền thống như Khổng giáo không phát triển ở
    tây Âu-Á còn đạo đức Do Thái-Cơ đốc giáo không phát triển ở
    Trung Hoa? Ngoài ra, khi nói vậy, người ta vẫn lờ đi thực tế
    rằng cho đến khoảng 1.400 năm tr.CN nước Trung Hoa Khổng
    giáo đã đạt trình độ công nghệ tiên tiến hơn so với vùng tây
    Âu-Á.
    Không thể thấu hiểu được ngay cả bản thân các xã hội tây
    Âu-Á nếu chỉ tập trung vào đó mà thôi. Những câu hỏi thú vị
    là những câu hỏi liên quan đến sự khác biệt giữa những xã hội
    đó với các xã hội khác. Muốn trả lời các câu hỏi đó, ta cũng
    cần phải hiểu tất cả các xã hội khác kia nữa; được vậy thì mới
    có thể đặt các xã hội tây Âu-Á vào một bối cảnh rộng hơn.
    Một số độc giả có thể cảm thấy tôi đang đi từ chỗ lịch sử
    quy ước về phía thái cực ngược lại, bằng cách dành quá ít
    trang cho vùng tây Âu-Á mà nói quá nhiều về các vùng khác
    của thế giới. Tôi sẽ trả lời rằng, một số vùng khác kia của thế
    giới bao hàm rất nhiều thông tin, bởi chúng bao quát rất nhiều
    xã hội - và đấy là những xã hội rất khác nhau - trong một khu
    vực địa lý nhỏ hẹp. Với giọng điệu phê phán nhẹ nhàng, người
    điểm sách này đã viết rằng hình như tôi xem lịch sử thế giới
    như một củ hành, trong đó lịch sử hiện đại chỉ chiếm phần bề
    mặt, muốn hiểu lịch sử thì phải bóc dần đến các lớp bên trong.
    Phải, lịch sử thế giới đúng là một củ hành như vậy! Nhưng bản
    thân việc bóc dần từng lớp vỏ hành kia mới thật hấp dẫn, đầy
    thử thách - và có tầm quan trọng lớn lao đối với chúng ta ngày
    nay, một khi chúng ta muốn thấu hiểu những bài học của quá
    khứ ngõ hầu nhìn tới tương lai.
    Jared Diamond

    LỜI NÓI ĐẦU

    Câu hỏi của Yali

    Tất cả chúng ta đều biết, lịch sử đã diễn ra rất khác nhau đối
    với từng dân tộc ở những phần khác nhau trên trái đất. Trong
    vòng 13.000 năm kể từ cuối Kỷ Băng hà sau cùng, một số
    vùng trên thế giới đã phát triển được thành những xã hội công
    nghiệp có chữ viết, công cụ bằng kim loại, một số vùng khác
    chỉ phát triển được những xã hội chăn nuôi không chữ viết,
    nhiều vùng khác nữa vẫn chỉ là các xã hội săn bắt hái lượm
    dùng công cụ bằng đá. Những sự bất quân bình lịch sử này đã
    hắt những cái bóng dài lên thế giới hiện đại, bởi các xã hội có
    chữ viết và sử dụng công cụ bằng kim loại đã chinh phục hoặc
    tiêu diệt các xã hội khác. Tuy những khác biệt này vẫn là nhân
    tố cơ bản nhất của lịch sử thế giới, song nguyên nhân của
    chúng vẫn chưa rõ ràng và đang gây tranh cãi. Câu hỏi hóc búa
    về nguồn gốc của những khác biệt đó đã đặt ra trước mắt tôi từ
    25 năm trước, trong một dạng đơn giản và mang tính cá nhân.
    Vào tháng 7 năm 1972, có lần tôi đi bộ dọc bờ biển trên
    hòn đảo xích đạo New Guinea nơi tôi đang nghiên cứu sự tiến
    hóa của chim với tư cách nhà sinh vật học. Tôi từng nghe nói
    về một chính trị gia nổi tiếng người địa phương tên là Yali, lúc
    đó ông này đang đi kinh lý trong vùng. Hôm đó tình cờ Yali và
    tôi lại đi cùng một hướng, và ông ta bắt kịp tôi. Chúng tôi đi
    bên nhau trong khoảng một tiếng đồng hồ và nói chuyện suốt
    thời gian đó.
    Con người Yali đầy lôi cuốn và nghị lực. Cặp mắt ông ngời
    sáng đầy mê hoặc. Ông nói năng hết sức tự tin về bản thân
    mình, nhưng ông cũng đặt nhiều câu hỏi thấu đáo và biết chăm
    chú lắng nghe. Cuộc đàm đạo của chúng tôi bắt đầu với chủ đề
    mà lúc đó người New Guinea nào cũng canh cánh trong lòng:
    nhịp độ nhanh chóng của diễn tiến chính trị. Papua New
    Guinea, theo cách mà hiện nay người ta gọi dân tộc của Yali,

    lúc đó còn là lãnh thổ do Australia cai quản theo ủy trị của
    Liên Hợp Quốc, nhưng chẳng bao lâu nữa ắt sẽ giành được
    độc lập. Yali giải thích cho tôi về vai trò của ông trong việc
    giúp người dân địa phương chuẩn bị cho việc tự mình nắm
    chính quyền.
    Sau một hồi, Yali chuyển hướng cuộc trò chuyện và bắt
    đầu “quay” tôi. Ông ta chưa hề đi đâu ra khỏi New Guinea và
    chưa hề học quá bậc trung học, nhưng không gì có thể thỏa
    mãn được nỗi tò mò của ông. Trước hết ông ta muốn biết về
    công việc nghiên cứu chim của tôi ở New Guinea (kể cả
    chuyện tôi được trả bao nhiêu tiền). Tôi giải thích cho ông ta
    rằng có những nhóm chim rất khác nhau đã di cư đến New
    Guinea trong vòng hàng triệu năm qua. Rồi ông ta hỏi tôi tổ
    tiên của chính dân tộc ông ta đã đến New Guinea bằng cách
    nào trong mấy vạn năm trở lại đây, và người châu Âu đã biến
    New Guinea thành thuộc địa như thế nào trong 200 năm qua.
    Cuộc đối thoại vẫn khá thân thiện, mặc dù cả hai chúng tôi
    chẳng lạ gì về sự căng thẳng giữa hai xã hội mà Yali và tôi là
    đại diện. Hai thế kỷ trước đây, tất cả người New Guinea hãy
    còn “sống trong Thời đại Đồ đá”. Nghĩa là, họ vẫn dùng
    những công cụ bằng đá tương tự những gì mà ở châu Âu đã bị
    thay thế bằng công cụ kim loại từ hàng ngàn năm trước; và họ
    sống trong những ngôi làng không được quản lý dưới một
    chính quyền có tính tập trung. Người da trắng đã đến, áp đặt
    chính quyền tập trung và mang lại những hàng hóa vật chất mà
    người New Guinea lập tức nhận ra giá trị, từ rìu thép, diêm và
    thuốc men cho tới quần áo, rượu và ô. Ở New Guinea, tất cả
    các vật phẩm này được gọi chung là “hàng” (cargo).
    Nhiều thực dân da trắng thẳng thừng khinh miệt người
    New Guinea, coi họ là những kẻ “bán khai”. Ngay cả những
    “ông chủ” da trắng kém cỏi nhất - mãi đến năm 1972 họ vẫn
    được gọi là “ông chủ” - cũng có mức sống cao hơn nhiều so
    với người New Guinea, thậm chí cao hơn cả những chính trị
    gia đầy sức lôi cuốn như Yali. Thế nhưng Yali đã quay rất
    nhiều người da trắng cũng như đã “quay” tôi khi đó, còn tôi thì
    đã quay nhiều người New Guinea. Cả ông ta lẫn tôi đều biết rõ
    rằng người New Guinea trung bình ít nhất cũng thông minh
    ngang với người châu Âu. Tất cả những điều đó Yali đều có
    nghĩ tới khi ông ta hỏi tôi với một cái nhìn sáng quắc xuyên

    thấu nữa: “Thế thì tại sao người da trắng các ông lại chế ra
    nhiều hàng như vậy rồi đem sang New Guinea, còn người da
    đen chúng tôi lại có ít hàng của chính mình đến vậy?”
    Đó là một câu hỏi đơn giản nhưng chạm đến tâm điểm của
    đời sống, Yali nhận ra điều đó. Thế nhưng vẫn có một sự khác
    biệt to lớn giữa lối sống của người New Guinea trung bình với
    lối sống của người châu Âu hay người Mỹ trung bình. Giữa
    các dân tộc khác trên thế giới cũng có những khác biệt tương
    tự về lối sống. Những khác biệt lớn lao đó ắt có những nguyên
    nhân sâu xa mà người ta có thể cho là hiển nhiên.
    Thế nhưng câu hỏi bề ngoài đơn giản của Yali lại không dễ
    trả lời. Lúc ấy tôi đã không trả lời được. Các sử gia chuyên
    nghiệp vẫn còn tranh cãi với nhau về lời đáp cho câu hỏi đó,
    hầu hết thậm chí còn không đặt câu hỏi đó ra nữa kia. Trong
    nhiều năm kể từ khi Yali và tôi có cuộc đàm đạo kể trên, tôi đã
    nghiên cứu và viết về các phương diện khác của lịch sử loài
    người, lịch sử và ngôn ngữ. Cuốn sách này, được viết ra sau đó
    hai mươi lăm năm, là nỗ lực nhằm trả lời cho Yali.
    Mặc dù câu hỏi của Yali chỉ liên quan đến sự tương phản
    về lối sống giữa người New Guinea với người da trắng châu
    Âu, song ta có thể mở rộng ra nhiều cặp tương phản khác
    trong thế giới hiện đại. Các dân tộc có nguồn gốc Âu-Á, nhất
    là các dân tộc hiện vẫn đang sống ở châu Âu và Đông Á, cộng
    với những người đã di cư sang Bắc Mỹ, hiện đang thống trị thế
    giới về của cải và quyền lực. Các dân tộc khác, trong đó có
    hầu hết người châu Phi, đã dứt bỏ được ách thực dân châu Âu
    song vẫn còn tụt hậu rất xa về của cải và quyền lực. Lại có
    những dân tộc khác, chẳng hạn như cư dân bản địa châu Úc,
    người châu Mỹ bản địa và người cực nam châu Phi, không còn
    là chủ nhân mảnh đất của mình mà đã bị tàn sát, bị chinh phục,
    trong một số trường hợp thậm chí còn bị diệt chủng bởi người
    châu Âu thực dân.
    Vậy, ta có thể đặt lại những câu hỏi về sự bất bình đẳng
    trong thế giới hiện đại như sau: Tại sao của cải và quyền lực
    chỉ được phân phối như hiện nay chứ không được phân phối
    theo cách nào khác? Chẳng hạn, tại sao không phải người châu
    Mỹ bản địa, người châu Phi và người châu Úc bản địa là
    những kẻ đi tàn sát, chinh phục hay tiêu diệt người châu Âu và
    người châu Á?

    Ta có thể dễ dàng đẩy câu hỏi này lùi lại thêm một bước.
    Vào năm 1500, khi sự bành trướng thuộc địa của châu Âu chỉ
    mới khởi đầu, các dân tộc trên những lục địa khác nhau đã
    khác nhau rất nhiều về công nghệ và tổ chức chính trị. Hầu hết
    châu Âu, châu Á và Bắc Phi là nơi có những nhà nước hoặc đế
    quốc vũ trang bằng kim loại, trong số đó vài nước đang trên
    ngưỡng cửa công nghiệp hóa. Hai dân tộc châu Mỹ bản địa,
    người Aztec và người Inca, đang cai trị những đế quốc dùng
    công cụ bằng đá. Một số phần của châu Phi hạ Sahara được
    phân chia giữa các quốc gia hay tù trưởng quốc nhỏ dùng công
    cụ bằng sắt. Hầu hết các dân tộc khác - trong đó có tất cả các
    dân tộc ở châu Úc và New Guinea, nhiều đảo Thái Bình
    Dương, hầu hết châu Mỹ và nhiều phần nhỏ của châu Phi hạ
    Sahara - vẫn sống thành những bộ lạc chăn nuôi hay thậm chí
    như là những bộ lạc săn bắt hái lượm dùng công cụ bằng đá.
    Dĩ nhiên, những sự khác biệt về công nghệ và chính trị đó
    vào khoảng năm 1500 đã là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
    những bất quân bình của thế giới hiện đại. Các đế quốc có vũ
    khí bằng thép đã có thể chinh phục hay tiêu diệt các bộ lạc chỉ
    dùng vũ khí bằng đá và gỗ. Tuy nhiên, làm cách nào thế giới
    đã đạt tới tình trạng như vậy vào thời điểm năm 1500?
    Một lần nữa, chúng ta có thể dễ dàng đẩy lùi câu hỏi này
    thêm một bước, bằng cách dựa vào lịch sử thành văn và các di
    chỉ khảo cổ. Cho đến cuối kỷ Băng hà, khoảng 11.000 năm
    tr.CN, mọi dân tộc trên mọi lục địa đều hãy còn là dân săn bắt
    hái lượm. Mỗi lục địa phát triển với một tốc độ khác nhau
    trong khoảng từ 11.000 năm tr.CN đến năm 1500, đó chính
    là điều đã dẫn đến những bất quân bình về công nghệ và chính
    trị vào năm 1500. Trong khi người châu Úc bản địa và nhiều
    dân châu Mỹ bản địa vẫn cứ là dân săn bắt hái lượm, hầu hết
    người Âu-Á, hầu hết người châu Mỹ và châu Phi hạ Sahara đã
    dần dần phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, nghề luyện kim và
    các tổ chức chính trị phức tạp. Nhiều phần của Âu-Á và một
    khu vực của châu Mỹ cũng đã phát minh ra chữ viết một cách
    độc lập với nhau. Tuy nhiên, chính tại Âu-Á các phát minh này
    xuất hiện sớm hơn ở bất cứ nơi nào khác. Chẳng hạn, việc sản
    xuất đại trà công cụ bằng đồng, vốn chỉ mới khởi đầu ở vùng
    Andes Nam Mỹ vào các thế kỷ trước năm 1500, đã xuất hiện ở
    Âu-Á từ trước đó trên 4.000 năm. Công nghệ dùng đá của

    người Tasmania, khi được các nhà thám hiểm châu Âu phát
    hiện lần đầu vào năm 1642, còn đơn sơ hơn nhiều so với ở
    nhiều vùng của châu Âu Sơ kỳ Đồ đá cũ trước đó hàng vạn
    năm.
    Vậy là rốt cuộc ta có thể đặt lại câu hỏi về những sự bất
    quân bình của thế giới hiện đại như thế này: tại sao sự phát
    triển của loài người đã diễn ra trên những lục địa khác nhau
    với những tốc độ khác nhau đến vậy? Những tốc độ phát triển
    rất khác nhau đó chính là mẫu hình lớn nhất của lịch sử và là
    chủ đề cuốn sách của tôi.
    Tuy cuốn sách này nói cho cùng là về lịch sử và tiền sử,
    song chủ đề của nó không chỉ có giá trị hàn lâm mà còn có tầm
    quan trọng to lớn về thực tiễn và chính trị. Lịch sử những
    tương tác giữa các dân tộc khác nhau chính là cái đã định hình
    thế giới hiện đại thông qua sự chinh phục, bệnh truyền nhiễm
    và diệt chủng. Các xung đột đó tạo ra những ảnh hưởng lâu dài
    mà sau nhiều thế kỷ vẫn chưa thôi tác động, vẫn đang tích cực
    tiếp diễn ở một số khu vực nhiều vấn đề nhất của thế giới ngày
    nay.
    Chẳng hạn, hầu hết châu Phi vẫn đang phải đánh vật với di
    sản quá khứ thuộc địa của mình. Ở các khu vực khác - gồm
    hầu hết Trung Mỹ, Mexico, Peru, Tân Caledonia, Liên Xô cũ
    và nhiều phần của Indonesia - các cuộc nội loạn và chiến tranh
    du kích đang khiến những người dân bản địa mà dân số vẫn
    còn khá đông chống lại các chính phủ vốn chủ yếu nằm trong
    tay hậu duệ của những người chinh phục từ nơi khác đến.
    Nhiều dân tộc bản địa khác - như người Hawai bản địa, người
    Australia bản địa, người Siberia bản địa, người châu Mỹ bản
    địa ở Hoa Kỳ, Canada, Brazil, Argentina và Chile - đã bị giảm
    sút nghiêm trọng về dân số do nạn diệt chủng và bệnh tật đến
    nỗi ngày nay họ chỉ còn một dúm lọt thỏm giữa số đông hậu
    duệ những kẻ xâm lược. Mặc dù không có khả năng tiến hành
    chiến tranh du kích do dân số quá ít, họ vẫn đang ngày càng
    mạnh mẽ đòi quyền lợi của mình.
    Ngoài ảnh hưởng lâu dài của các xung đột giữa các dân tộc
    trong quá khứ đối với tình hình chính trị và kinh tế ngày nay,
    còn có những ảnh hưởng về ngôn ngữ, đặc biệt là sự biến mất
    trong ngày một ngày hai của hầu hết trong số 6.000 ngôn ngữ
    của thế giới hiện đại, do chúng bị thay thế bởi tiếng Anh, tiếng

    Trung Hoa, tiếng Nga và một số ít ngôn ngữ khác mà số người
    nói đã tăng vọt trong vài thế kỷ gần đây. Mọi vấn nạn đó của
    thế giới hiện đại đều là hệ quả của những quỹ đạo lịch sử khác
    nhau hàm chứa trong câu hỏi của Yali.
    Trước khi tìm lời đáp cho câu hỏi của Yali, ta nên dừng
    một chút để xem xét một số ý kiến phản đối bản thân việc thảo
    luận câu hỏi đó. Đối với một số người, nội việc đặt ra câu hỏi
    đó thôi cũng đủ khiến họ thấy mình bị xúc phạm, vì một số lý
    do.
    Một ý kiến phản đối như sau: Nếu chúng ta thành công
    trong việc lý giải làm cách nào một số người này thống trị
    những người khác, thì liệu điều đó có biện minh cho bản thân
    việc thống trị không? Liệu có phải nói vậy là hàm ý cái tình
    trạng thống trị kia là không tránh được và do đó việc đấu tranh
    hòng thay đổi tình trạng đó ngày nay là vô nghĩa? Ý kiến phản
    đối này dựa trên một khuynh hướng phổ biến là lẫn lộn
    giữa việc lý giải nguyên nhân với việc biện minh cho kết quả
    hoặc chấp nhận kết quả. Sử dụng một cách lý giải lịch sử vào
    việc gì và bản thân việc lý giải đó là hai chuyện hoàn toàn
    khác nhau. Hiểu một hệ quả thường là để tìm cách thay đổi hệ
    quả đó, chứ không phải để lặp lại hoặc kéo dài nó. Chính vì
    vậy các nhà tâm lý học mới cố thấu hiểu não trạng của những
    kẻ sát nhân hay kẻ hãm hiếp, chính vì vậy các sử gia chuyên
    ngành xã hội học mới cố thấu hiểu hành vi diệt chủng, các bác
    sĩ mới cố thấu hiểu các nguyên nhân bệnh tật ở người. Các nhà
    khoa học đó không tìm cách biện minh cho hành vi sát nhân,
    hãm hiếp, diệt chủng và bệnh tật. Họ tìm cách sử dụng hiểu
    biết của họ về chuỗi nhân quả hầu chặn đứng cái chuỗi đó.
    Thứ hai, liệu việc trả lời câu hỏi của Yali có tự động bao
    hàm một cách tiếp cận lịch sử theo hướng lấy châu Âu làm
    trung tâm, một sự vinh danh người Tây Âu và nỗi ám ảnh về
    tầm quan trọng của Tây Âu và châu Mỹ Âu hóa trong thế giới
    hiện đại hay không? Liệu cái tầm quan trọng đó chỉ là một
    hiện tượng nhất thời trong vài thế kỷ trước, còn nay thì đã lu
    mờ sau sự nổi lên của Nhật Bản và Đông Nam Á hay không?
    Trên thực tế, hầu hết cuốn sách này sẽ đề cập đến các dân tộc
    khác không phải người châu Âu. Thay vì chỉ tập trung vào
    những tương tác giữa người châu Âu với người không phải
    châu Âu, ta cũng sẽ xét những tương tác giữa các dân tộc

    ngoài châu Âu với nhau - nhất là các tương tác diễn ra trong
    nội bộ châu Phi hạ Sahara, Đông Nam Á, Indonesiavà New
    Guinea, giữa các dân tộc bản địa ở các khu vực đó. Còn xa
    mới là tán dương các dân tộc có nguồn gốc Tây Âu, ta sẽ thấy
    rằng hầu hết các yếu tố cơ bản trong nền văn minh của họ đã
    được phát triển bởi các dân tộc khác sống ở những nơi khác,
    chỉ sau đó mới được du nhập đến Tây Âu.
    Thứ ba, liệu những từ như “văn minh” và những cụm từ
    như “sự trỗi dậy của văn minh” có hàm chứa cái ấn tượng sai
    lạc rằng văn minh mới là hay ho còn săn bắt hái lượm thì khốn
    khổ và lịch sử trong suốt 13.000 năm qua là sự tiến bộ dần dần
    từ chỗ bất hạnh đến chỗ ngày càng hạnh phúc hơn cho con
    người? Thật tình, tôi không cho rằng các nước công nghiệp là
    “tốt” hơn các bộ lạc săn bắt hái lượm, hay việc từ bỏ lối sống
    săn bắt hái lượm để chuyển sang nhà nước dựa trên công
    cụ bằng sắt là đại diện cho “tiến bộ”, hay điều đó đã dẫn đến
    việc nâng cao hạnh phúc của con người. Ấn tượng riêng của
    tôi, do đã từng sống ở cả các thành phố Hoa Kỳ lẫn các làng
    mạc New Guinea, là không phải ai cũng hiểu như nhau cái gọi
    là những phúc lợi của văn minh. Chẳng hạn, so với những
    người săn bắt hái lượm, công dân ở các nước công nghiệp hóa
    được hưởng dịch vụ y tế tốt hơn, ít có rủi ro bị sát hại và được
    sống lâu hơn, nhưng lại ít được hưởng sự hỗ trợ xã hội từ tình
    bạn và gia đình mở rộng. Động cơ để tôi khảo sát những khác
    biệt địa lý trong các xã hội loài người không phải là để tán
    dương rằng một loại xã hội nào đó là hay ho hơn, mà chỉ để
    thấu hiểu điều gì đã xảy ra trong lịch sử.
    Liệu câu hỏi của Yali có thực sự cần một cuốn sách khác
    để trả lời không? Chẳng phải chúng ta chưa biết câu trả lời ư?
    Nếu có câu trả lời thì nó là gì?
    Có lẽ cách lý giải thông thường nhất đều hoặc ngấm ngầm
    hoặc thẳng thừng quy cho sự khác biệt về sinh học giữa các
    dân tộc. Trong các thế kỷ sau năm 1500, khi các nhà thám
    hiểm châu Âu bắt đầu biết đến những khác biệt to lớn về công
    nghệ và tổ chức chính trị giữa các dân tộc trên thế giới, họ cho
    rằng những khác biệt đó phát sinh từ những khác biệt về khả
    năng nội tại. Khi thuyết Darwin xuất hiện, người ta dùng các
    thuật ngữ về chọn lọc tự nhiên và nguồn gốc tiến hóa để nhào
    nặn lại cách lý giải này. Các dân tộc sơ khai về công nghệ bị

    họ coi là dấu vết sự tiến hóa của loài người từ tổ tiên loài
    vượn. Họ cho rằng việc những dân tộc như vậy bị các nhà thực
    dân từ các xã hội công nghiệp hóa đến giành đất đai là tiêu
    biểu cho sự sống sót của loài thích nghi nhất. Khi ngành di
    truyền học xuất hiện, cách lý giải này được nhào nặn lại thêm
    lần nữa, lần này dùng thuật ngữ di truyền học. Người châu Âu
    bắt đầu được coi như vốn dĩ từ trong gen di truyền đã sẵn
    thông minh hơn người châu Phi, đặc biệt là so với người châu
    Úc bản địa thì lại càng thông minh hơn.
    Ngày nay, một số bộ phận của xã hội phương Tây công
    khai bác bỏ chủ nghĩa phân chủng. Thế nhưng nhiều (có khi là
    hầu hết!) người phương Tây, dù với tư cách cá nhân hay trong
    tiềm thức, vẫn tiếp tục chấp nhận những cách lý giải theo
    hướng phân biệt chủng tộc. Mỗi khi nhắc đến chủ đề người
    châu Úc bản địa, ngay cả những người Mỹ, người châu Âu và
    người Úc da trắng có học thức đều cho rằng trong bản thân
    người châu Úc đã có cái gì đó sơ khai. Rõ ràng là trông họ
    khác người da trắng. Nhiều hậu duệ của những người bản địa
    đã sống sót qua thời kỳ thực dân châu Âu nay cảm thấy khó
    mà thành đạt về kinh tế trong xã hội của người Úc da trắng.
    Một lập luận có vẻ hấp dẫn thì phát biểu như sau: Những
    người di cư da trắng đến Úc đã xây dựng một nhà nước có học
    vấn, công nghiệp hóa, tập trung hóa về chính trị và dân chủ
    dựa trên công cụ kim loại và sản xuất lương thực, tất cả chỉ
    trong vòng một thế kỷ thực dân hóa một lục địa nơi mà người
    châu Úc bản địa đã sinh sống bằng cách săn bắt hái lượm và
    không có công cụ kim loại trong vòng ít nhất 40.000 năm. Đây
    là hai thử nghiệm liên tiếp nhau trong sự phát triển của loài
    người mà ở đó môi trường trước sau chỉ là một, biến tố duy
    nhất là những con người chiếm hữu môi trường đó. Còn phải
    có bằng chứng nào hơn thế nữa để có thể kết luận rằng những
    khác biệt giữa xã hội châu Úc bản địa với các xã hội châu Âu
    phát sinh từ những khác biệt ở bản thân các dân tộc đó?
    Lý do để ta phản đối những cách lý giải theo hướng phân
    biệt chủng tộc này không phải chỉ vì chúng thật đáng tởm mà
    còn bởi chúng sai. Không có bằng chứng vững chắc nào cho
    thấy có tồn tại những khác biệt ở trí thông minh của con người
    song song với những khác biệt về công nghệ. Trên thực tế, như
    tôi sẽ giải thích sau đây, các dân tộc “Đồ đá Mới” thời hiện

    đại, xét trên mức trung bình, có lẽ thông minh hơn chứ
    không phải kém hơn các dân tộc đã công nghiệp hóa. Nghe thì
    có vẻ nghịch lý, nhưng ở Chương 15 ta sẽ thấy, các di dân da
    trắng đến châu Úc không đáng được hưởng cái tiếng thơm mà
    lâu nay người ta vẫn gán cho là đã xây dựng một xã hội có văn
    hóa, công nghiệp hóa cùng với các đức tính khác như đã kể ở
    trên. Ngoài ra, các dân tộc mà chỉ mới gần đây hãy còn sơ khai
    về công nghệ - như người châu Úc bản địa và người New
    Guinea - thường nắm rất chắc công nghệ một khi họ đã được
    trao cơ hội làm điều đó.
    Các nhà tâm lý học nhận thức đã có những nỗ lực to lớn
    hòng tìm kiếm những khác biệt về IQ giữa những người xuất
    thân từ nhiều vùng địa lý khác nhau nhưng hiện nay sống
    trong cùng một nước. Đặc biệt, nhiều nhà tâm lý học người
    Mỹ da trắng suốt nhiều thập kỷ qua đã ra sức chứng minh rằng
    người Mỹ da đen gốc Phi tự trong di truyền đã kém thông
    minh hơn người Mỹ da trắng gốc Âu. Tuy nhiên, như mọi
    người đều biết, những người được đem ra so sánh vốn dĩ khác
    nhau rất nhiều về môi trường xã hội và cơ hội học hành. Sự
    thật này càng gây khó khăn gấp đôi cho những nỗ lực nhằm
    kiểm chứng cái giả thiết rằng những khác biệt về trí tuệ là
    nguyên nhân sâu x...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là đầu tư duy nhất càng dùng càng sinh lợi trí tuệ.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TIỀN TIẾN - NAM ĐỒNG - TP HẢI PHÒNG !