Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
Truyện cổ Grim

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường TH Tân Trường
Ngày gửi: 21h:12' 15-05-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường TH Tân Trường
Ngày gửi: 21h:12' 15-05-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Truyện cổ Grim
Anh em nhà GRIM
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
.
Mục lục
Nàng công chúa chăn ngỗng
Cây củ cải
Jôrinđơ và Jôgigơn
Lên thiên đàng
Hênxen và Grêten
Chú Hanh lười biếng
Con quỷ và bà nó
Ả Grêten thông minh
Bà lão chăn ngỗng
Con mèo đi hia
Cô bé quàng khăn đỏ
Chú bé tí hon
Cô bé lọ lem
Nàng Bạch Tuyết
Ngôi nhà trong rừng
Đứa con vàng
Cô bé hai mắt
Ba cô chị
Con quỷ nhốt trong lọ
Vua trộm
Con rắn trắng
Người đầy tớ trung thành
Cuộc ngao du của tí hon
Mười hai người thợ săn
Ba sợi tóc vàng của quỷ
Mèo làm thân với chuột
Hai anh em
Người thợ săn tài giỏi
Chọn vợ
Gã thợ xay nghèo khó
Hanxơ sắt
Hai ông cháu
Sáu con thiên nga
Chú bé nghèo dưới nấm mồ
Những người khôn
Chú Hanxơ sung sướng
Người da gấu
Bác nông dân và con quỷ
Cỗ quan tài thủy tinh
Quà của người tí hon
Sợi vứt đi
Một đòn chết bảy
Con nam ở ao
Sáu người hầu
Đồ bỏ xó
Vua quạ
Ngọn đèn xanh
Thỏ và nhím
Hoàng Anh và gấu
Con ngỗng vàng
Học rùng mình
Anh và em gái
Ba bà kéo sợi
Thần chết đỡ đầu
Vua núi vàng
Ba người lùn trong rừng
Rau lừa
Ong chúa
Bảy con quạ
Nước trường sinh
Chim ưng thần
Bạch Tuyết và Hồng Hoa
Đôi giày ủng da trâu
Chim sơn ca
Anh chàng đánh trống
Ba anh em
Vợ chồng người đánh cá
Đóa hồng
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Nàng công chúa chăn ngỗng
Ngày xưa có một bà hoàng hậu tuổi đã cao. Đức vua chết đã
lâu. Bà có một cô con gái rất xinh đẹp. Khi lớn lên, nàng được hứa
hôn với một chàng Hoàng tử con vua một nước xa xôi. Đến ngày tổ
chức lễ cưới, nàng công chúa sửa soạn đi nước xa lạ. Mẹ nàng gói
ghém cho nàng những vật quí giá: đồ trang sức, vàng, bạc, cốc, châu
ngọc, tóm lại là tất cả những gì xứng đáng làm của hồi môn cho một
công chúa, vì mẹ nàng rất mực thương nàng. Mẹ nàng gửi gắm
nàng cho một thị nữ có nhiệm vụ dẫn nàng đi đến chỗ ở người
chồng chưa cưới. Mỗi người cưỡi một con ngựa. Ngựa công chúa cưỡi
tên là Phalađa, biết nói. Đến lúc chia tay, bà hoàng vào trong phòng
ngủ, lấy một con dao nhỏ trích ngón tay, để chảy ba giọt máu. Bà
cho máu thấm xuống một cái khăn trắng nhỏ, đưa cho cô gái và
dặn: "Con thân yêu, con hãy giữ gìn cẩn thận cái khăn này, nó sẽ có
ích cho con trên đường đi".
Hai mẹ con buồn bã từ biệt nhau. Công chúa áp cái khăn lên
ngực, nhảy lên yên ngựa để đi đến nơi ở của người yêu. Sau khi đã
đi một tiếng, cô cảm thấy khát khô họng, bèn bảo thị nữ: "Em hãy
xuống ngựa, lấy cốc của ta múc nước suối kia và mang lại đây cho
ta, ta khát nước lắm" - "Nếu cô khát, thị nữ trả lời, thì hãy tự nhảy
xuống, rồi vươn người ra trên mặt nước mà uống. Tôi không phải là
đầy tớ của cô".
Công chúa khát lắm, bèn xuống ngựa, cúi xuống dòng nước
suối để uống nước. Nàng không dám uống nước bằng cốc vàng. "Trời
ơi!" nàng kêu to. Ba giọt máu bảo cô: "Nếu mẹ cô biết sự tình thế
này, thì hẳn tim bà sẽ tan nát trong ngực". Nhưng công chúa là
người can đảm. Nàng không nói gì và lại nhảy lên ngựa. Ngựa phi
được vài dặm. Trời thì nóng nực, chẳng mấy chốc nàng lại khát
nước. Tới một con sông, nàng bảo thị nữ: "Em hãy xuống ngựa và
cho ta uống nước bằng cái cốc vàng". Cô đã quên đứt những lời độc
ác của thị nữ. Nhưng thị nữ lại trả lời ngạo mạn hơn: "Nếu cô khát
thì tự đi uống nước một mình, tôi không phải là đầy tớ của cô".
Công chúa khát quá, nhảy xuống ngựa, cúi xuống dòng nước chảy
xiết, khóc và kêu lên: "Trời ơi!" Ba giọt máu liền đáp lại: "Nếu mẹ cô
biết sự tình thế này, thì hẳn tim bà tan nát trong ngực". Trong khi
cô cúi xuống để uống thì cái khăn có thấm ba giọt máu, tuột khỏi
ngực cô và trôi theo dòng nước mà cô không hay biết, vì lúc đó cô rất
sợ hãi. Thị nữ thì lại trông thấy hết và nó rất vui mừng từ giờ trở đi
công chúa sẽ bị nó trả thù. Từ lúc đánh mất ba giọt máu, công chúa
trở nên yếu đuối, không đủ sức tự vệ nữa. Khi nàng định trèo lên
con ngựa Phalađa thì thị nữ bảo: "Tôi sẽ cưỡi con Phalađa, còn cô,
cô hãy cưỡi con ngựa tồi của tôi". Công chúa đành làm như vậy.
Tiếp đó thị nữ ra lệnh, lời lẽ gay gắt, bắt nàng phải cởi quần áo
hoàng cung ra và mặc quần áo của nó vào.
Cô lại phải thề với trời đất là khi đến cung điện sẽ không nói lộ
ra. Nếu cô không chịu thề thì nó sẽ giết cô tại chỗ. Nhưng con
Phalađa đã quan sát tất cả và ghi nhớ tất cả.
Thị nữ cưỡi con Phalađa, còn công chúa thì cưỡi con ngựa tồi.
Nó lại tiếp tục đi, cuối cùng đến lâu đài nhà vua. Ở đấy, mọi người
rất vui mừng khi họ tới, và Hoàng tử vội chạy tới tận nơi đón họ, đỡ
thị nữ xuống ngựa, vì tưởng rằng đó là vợ chưa cưới của mình. Thị
nữ đi lên bậc thềm lâu đài, còn nàng công chúa thì phải đứng lại
ngoài sân. Vua cha nhìn ra, qua cửa sổ thấy nàng duyên dáng và
tuyệt đẹp. Người vào trong cung hỏi cô gái được coi là vợ chưa cưới
của Hoàng tử xem cô gái đứng ngoài sân là ai. "Tâu vua cha, con đã
gặp cô gái đó trên đường đi và con đưa cô ta đi cùng để đỡ lẻ loi một
mình. Xin vua cha cho cô ta làm việc để cô ta khỏi phải vô công rồi
nghề".
Nhưng vua cha không có việc gì giao cho cô làm cả. Người bảo:
"Ở ngoài kia, ta có một anh chàng chăn ngỗng, hãy để cô ta giúp
việc vậy. Chàng trai tên là Cuốc. Vợ chưa cưới của Hoàng tử phải
giúp anh chăn ngỗng.
Ít lâu sau, vợ chưa cưới giả tâu với hoàng tử: "Chàng thân yêu
ơi, em muốn một điều, chàng hãy làm vui lòng em". Hoàng tử nói:
"Được thôi!"
- Chàng hãy cho gọi người thợ lột da đến đập chết con ngựa em
đang cưỡi đến đây, vì trong khi đi đường nó làm em bực tức".
Thật ra thì nó sợ con ngựa kể lại cách nó đã đối xử với công
chúa. Đến lúc con ngựa trung thành Phalađa phải chết thì công
chúa được tin. Nàng hứa với người thợ lột da là sẽ bí mật biếu anh
một đồng tiền bằng bạc nếu anh giúp nàng một việc nhỏ. Trong đô
thị có một cái cổng to rất tối, hàng ngày, sớm tối nàng phải dẫn đàn
ngỗng đi qua. Nàng xin người thợ lột da hãy đóng đanh treo đầu
con Phalađa vào cái cổng ấy để nàng có thể luôn luôn trông thấy nó.
Người thợ lột da hứa sẽ làm và bác đóng chặt đanh treo đầu ngựa
vào dưới cái cổng tối om.
Sáng sớm, khi cùng Cuốc đi qua cổng, cô bảo cái đầu:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Lặng lẽ, cô đi khỏi đô thị, dẫn đàn ngỗng ra cánh đồng. Đến
đồng cỏ, cô ngồi xuống và rũ tóc ra. Tóc cô óng ánh như vàng
nguyên chất và Cuốc rất thích nhìn mớ tóc ấy lóe sáng. Anh muốn
nhổ vài sợi tóc. Công chúa bèn nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ. Hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Tức thì gió thổi mạnh cuốn đi cái mũ của Cuốc. Anh ta chạy
theo ngay. Khi anh trở về thì công chúa đã chải đầu xong và anh
không nhổ được sợi tóc nào. Anh rất bực và không nói năng gì với cô
nữa. Họ lại tiếp tục chăn ngỗng đến chiều, rồi cùng về nhà.
Sáng sớm hôm sau, khi lùa ngỗng qua cổng, cô gái nói:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này, tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Đi ra khỏi đô thị, cô lại ngồi trên đồng cỏ và lại rũ tóc ra chải.
Cuốc muốn nắm lấy mớ tóc. Cô vội vàng nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Gió nổi lên, cuốn cái mũ đi. Cuốc phải chạy theo. Khi anh trở
về thì công chúa đã chải đầu xong từ lâu và anh không nắm được
mớ tóc ấy. Và rồi hai người lại cùng chăn ngỗng đến chiều.
Nhưng chiều hôm ấy, về tới nhà, Cuốc đến gặp vua cha và tâu:
"Kính thưa hoàng thượng, con không thể chăn ngỗng cùng cô gái
này nữa" - "Tại sao vậy?", vua hỏi. "Suốt ngày, cô ta làm con bực
mình!" - Vua cha bảo anh kể lại sự việc đã xảy ra. Cuốc nói: "Buổi
sáng, chúng con dẫn đàn ngỗng qua cái cổng tối om, ở đấy có một
cái đầu ngựa treo trên tường. Cô ta nói với nó: "Ôi, Phalađa, mày bị
treo ở đây ư!" Cái đầu trả lời: "Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng
qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Và Cuốc kể các sự việc đã xảy ra ở cánh đồng chăn ngỗng và tại
sao anh ta lại phải chạy theo cái mũ.
Vua cha dặn anh ta ngày hôm sau cứ đi chăn ngỗng như
thường lệ. Sáng sớm ngài thân chinh đến dưới cái cổng tối om và
nghe được những câu cô gái nói với cái đầu Phalađa. Ông theo ra
cánh đồng và nấp vào một bụi cây. Chính mắt ngài trông thấy anh
thanh niên và cô gái lùa ngỗng thế nào và sau một lúc, cô gái ngồi
xuống gỡ mớ tóc vàng lóe sáng. Rồi cô lại nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Một cơn gió thổi mạnh, cuốn cái mũ đội đầu của Cuốc đi. Anh
phải chạy theo rất xa. Cô gái chăn ngỗng chải tóc và cuốn thành
từng búp. Vua cha nhìn thấy tất cả. Không ai nhận ra ngài khi ngài
rời khỏi đó. Chiều đến, cô gái về nhà, ngài cho gọi cô đến và hỏi tại
sao cô lại làm như thế. "Tâu bệ hạ, con không thể nói được", - cô trả
lời. - "Con không thể kể nỗi khổ của con với bất cứ ai trên thế gian
này, con đã thề như vậy để khỏi bị người ta giết".
Vua cha cô ép cô nói, nhưng ngài không biết được gì thêm bèn
nói: "Nếu con không muốn nói với ta, thì con hãy kể nỗi khổ của con
với cái bếp lò này". Rồi ông bỏ đi. Cô đến ngồi gần cái bếp lò, than
khóc, thổ lộ tâm can:
"Ta ngồi đây, bị cả thế gian ruồng bỏ, dù ta là con vua. Một tên
thị nữ độc ác đã áp chế ta, bắt ta đổi cho nó quần áo hoàng cung. Nó
thay thế ta để làm vợ chưa cưới của người yêu ta, và ta bắt buộc
phải làm công việc bình thường của người chăn ngỗng. Nếu mẹ ta
biết nông nỗi này, tim bà sẽ tan nát".
Vua cha đứng ở phía tường bên kia gần ống thông hơi, ngài đã
nghe thấy hết. Ngài trở về và gọi cô hãy rời cái lò đến gặp ngài.
Người ta mang đến cho cô quần áo hoàng cung, cô mặc vào đẹp
như là có phép lạ. Vua cha cho gọi con trai đến và bảo cho con biết
về cô vợ chưa cưới giả mạo. Cô người yêu thật đứng trước chàng,
đấy là cô gái chăn ngỗng.
Hoàng tử thấy cô rất đẹp và phúc hậu nên lòng tràn ngập niềm
vui. Một bữa tiệc được sửa soạn để mời tất cả các bạn bè thân
thuộc. Hoàng tử và công chúa ngồi ở đầu bàn, trước mặt họ là con
thị nữ. Nó bị chỗáng ngợp và không nhận ra cô chủ trang sức lộng
lẫy. Khi họ đang ăn uống vui vẻ, vua cha ra một câu đố cho thị nữ.
Nó phải trả lời là một người đàn bà lừa dối chủ thì sẽ bị xử tội như
thế nào. Ngài kể các sự việc đã xảy ra và hỏi nó: "Như thế sẽ xứng
đáng với hình phạt gì". - "Nó xứng đáng phải đuổi đi khỏi đất nước"
- "Kẻ ấy chính là mày, mày sẽ bị xử tội như mày nói".
Sau khi hình phạt được thi hành, Hoàng tử cưới nàng công
chúa làm vợ và họ trị vì đất nước trong hòa bình và hạnh phúc.
Các em được nghe một câu chuyện về cuộc đời. Những người
hiền hậu, tốt bụng sẽ có hạnh phúc, còn những kẻ có tâm địa xấu xa
sẽ bị trừng phạt.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Cây củ cải
Ngày xưa có hai anh em đều đi lính. Anh thì giàu, em thì
nghèo. Người em không muốn sống nghèo khổ mãi, bỏ lính về làm
nông dân. Anh cuốc một vạt đất ở đầu cánh đồng và gieo hạt củ cải.
Mầm mọc, củ lớn dần, lớn dần, lớn không ngừng đến mức có thể coi
là củ cải chúa, chưa bao giờ từng có củ cải nào to như vậy và cũng
sẽ chẳng bao giờ sẽ thấy củ cải to như thế. Cuối cùng, nó thành một
củ cải khổng lồ, một mình nó có thể chiếm hết một xe chở và phải
gióng hai con bò để kéo xe. Bác nông dân không biết dùng củ cải ấy
làm gì và tự hỏi không biết đây là phúc hay là họa. Rút cuộc, bác tự
bảo: "Nếu mang bán thì người ta sẽ trả bao nhiêu? Nếu ăn củ cải
thì ăn những củ nhỏ cũng đến thế thôi. Tốt nhất là ta mang tiến
vua để tỏ lòng thành kính".
Bác khiêng củ cải lên một cái xe, gióng hai con bò, dắt xe đến
cung nhà vua để dâng vua.
- Cái vật kỳ lại này là cái gì vậy?" - Vua phán - Ta đã từng trông thấy
nhiều vật lạ, nhưng chưa thấy một vật khổng lồ như thế này, không biết mọc từ
cái hạt giống gì ra? Hoặc giả ngươi là phù thủy và đã đích thân làm ra củ này?
- Tâu bệ hạ, không phải thế đâu ạ - Bác nông dân trả lời - Thần
là một anh lính nghèo nuôi thân không xong nên phải thôi lính về
làm đất. Thần có một người anh giàu có, bệ hạ biết nhiều về anh ấy.
Nhưng thần thì không có gì, nên bị mọi người ruồng bỏ.
Nhà vua thương hại bác nông dân và phán:
- Nhà ngươi sẽ không nghèo đói nữa, ta sẽ ban cho ngươi của
cải để nhà ngươi cũng giàu như anh nhà ngươi.
Vua ban cho bác nông dân rất nhiều vàng, ruộng nương, đồng
cỏ và gia súc, đến mức bác trở nên rất giàu, của cải người anh
không sánh được.
Khi người anh biết là em trở nên giàu có nhờ có một cây củ cải,
thì anh ta ghen tức và nghĩ nát óc ra tìm một cách để cũng gặp may
như em. Anh láu hơn em, mang biếu nhà vua vàng và ngựa, nghĩ
rằng vua sẽ ban cho anh nhiều của cải hơn em. Nếu em ta chỉ biếu
nhà vua có một củ cải mà được vua ban cho chừng nấy của thì vua
sẽ ban cho ta biết mấy để đáp lại những tặng phẩm quý giá! Vua
nhận đồ dâng của anh và phán là không có gì quí hơn và hiếm hơn
là cây củ cải. Vua bèn cho anh cây củ cải to tướng. Người anh đành
chất cây củ cải của người em lên một cái xe rồi kéo về nhà.
Về đến nhà, người anh không biết trút cơn tức giận lên đầu ai
cho tới khi nẩy ra ý nghĩ độc ác là giết em. Anh thuê những kẻ giết
người và cho chúng nấp ở một nơi. Anh đến gặp em và bảo: "Chú ạ,
tôi biết nơi cất giấu một kho vàng, chúng ta cùng đi lấy rồi chia
nhau". Người em đi với anh, không nghi ngờ gì cả. Khi hai người đi
tới nơi đã định, những kẻ giết người nhảy xổ vào người em, trói em
lại và chuẩn bị treo cổ lên một cái cây. Khi chúng đang làm việc đó
thì ở xa có tiếng hát và tiếng vó ngựa vọng lại. Chúng sợ hãi nhét
người bị bắt - đầu lộn ngược - vào một cái bao, treo lên một cái cây
rồi chạy trốn. Ở trên cây, người em giãy giụa cho tới khi cái bao bị
thủng một lỗ, đầu lọt ra. Người đi tới chẳng qua là một cậu sinh
viên đi lang thang, một thanh niên đang vừa ruổi ngựa trong rừng
và hát vang lên. Người em ở trên cây thấy có người vừa qua bên
dưới bèn kêu to:
- Cậu đến thật đúng lúc!
Cậu sinh viên ngó quanh, không biết tiếng nói từ đâu ra. Cuối
cùng cậu nói:
- Ai gọi tôi thế?
Từ ngọn cây, người em trả lời:
- Hãy ngẩng lên mà nhìn. Tôi ở trên cao, trong một cái túi dạy
khôn. Trong một thời gian ngắn, tôi đã học được không biết bao
nhiêu điều hay; những điều học ở trường chẳng thấm vào đâu. Tôi
học sắp xong rồi, tôi sẽ xuống và tôi sẽ giỏi hơn mọi người trên thế
gian này. Tôi thông thiên văn, biết hướng đi của gió, cát ở ngoài
biển, cách chữa mọi bệnh tật, công dụng của cây cỏ, các loại chim và
các loại đá. Nếu anh chui vào đây, anh sẽ thấy ở trong túi dạy khôn
này hạnh phúc biết chừng nào.
Cậu sinh viên nghe thấy thế ngạc nhiên vô cùng và nói:
- Quả là trời phù hộ cho tôi được gặp bác. Bác làm ơn cho tôi
vào trong túi một lúc có được không?
Người em trả lời như có vẻ chần chừ: "Tôi cũng muốn để anh
chui vào một tí nếu anh đưa tôi một ít tiền và ăn nói tử tế, nhưng
anh hãy đợi một giờ nhé. Còn có điều tôi muốn học thêm đã".
Cậu sinh viên chờ một chốc, sốt ruột năn nỉ xin người em cho
chui vào vì anh nóng lòng muốn học khôn. Người em giả bộ như
cũng chiều ý cậu và nói:
- Muốn để tôi bước ra khỏi cái nhà dạy khôn này, anh hãy hạ
túi dọc theo cái dây thừng. Sau đó sẽ đến lượt anh vào".
Cậu sinh viên hạ người em xuống, mở túi cho anh chui ra. Sau
đó, cậu kêu lên:
- Giờ thì hãy kéo tôi lên cao nhanh lên!"
Rồi anh chui vào trong túi. "Hượm đã!" - người em nói, - "như
thế chưa được". Anh đẩy cậu sinh viên đầu lộn ngược vào túi, buộc
miệng túi lại rồi kéo lên cây. Anh đẩy cho cái túi đu đưa trên không
rồi hỏi:
- Cậu thấy thế nào hở cậu? Cậu thấy đấy, cậu cảm thấy khôn
ngoan đang đến đấy, cậu đã học được nhiều. Hãy cứ nằm im, cho
đến khi nào khôn ngoan hơn."
Sau đó, người em nhảy lên con ngựa của anh sinh viên và đi.
Được một giờ, anh cho người đến tháo cho cậu sinh viên xuống.
“Ở hiền gặp lành" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung của các
truyện cổ tích. Trong câu chuyện trên ca ngợi người em sống thật
thà thì luôn gặp may mắn, hạnh phúc. Người anh tham lam dù có
cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được mục đích.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Jôrinđơ và Jôgigơn
Ngày xưa, có một bà già sống một mình trong một tòa lâu đài
cổ giữa một khu rừng bao la, rậm rạp. Đó là một mụ phù thủy cừ
khôi. Ban ngày, mụ hóa thành mèo hoặc cú vọ. Đến chiều tối, mụ
lại hiện nguyên hình người. Mụ có tài dụ dỗ muông thú để giết lấy
thịt nấu nước ăn. Quanh lâu đài một trăm bước, ai đi đến tự dưng
đứng sững tại chỗ, chỉ bước đi được khi mụ phù thủy cho phép. Khi
một cô gái trong sạch lọt vào cái vòng ma quái đó thì mụ sẽ hóa
phép biến thành chim, mụ đem nhốt vào lồng rồi đặt lồng vào một
phòng của lâu đài.
Có một cô gái tên là Jôrinđơ, đẹp hơn tất cả các cô gái khác. Cô
đã hứa hôn với chàng trai tên là Jôringơn. Đôi trai gái sống những
ngày chờ cưới và quấn quít bên nhau.
Để được chuyện trò thoải mái, một hôm họ vào rừng dạo chơi.
- Em cẩn thận chớ đến quá gần lâu đài! - Jôringơn dặn.
Buổi chiều thật là đẹp. Mặt trời còn chiếu nắng qua các thân
cây thành các vệt sáng trên nền trời xanh thẫm của rừng. Chim gáy
gù rầu rĩ trên cây sồi.
Jôrinđơ thỉnh thoảng lại khóc lóc, ngồi dưới ánh nắng mà than
vãn, Jôringơn cũng than vãn. Họ xúc động như chết đến nơi. Họ
nhìn quanh, nhưng lại không tìm ra đường về nhà. Mặt trời đã
khuất một nửa sau rặng núi. Đúng lúc đó Jôringơn nhìn qua bụi
rậm thấy các bức tường cổ của lâu đài hiện ra sát bên mình. Anh sợ
hãi tái nhợt như người chết. Jôrinđơ hát:
- Con chim bé nhỏ của tôi đeo chiếc nhẫn vàng.
Rên rỉ buồn thảm, nó khóc than cái chết của con chim bồ câu
Jôringơn quay lại nhìn Jôrinđơ thì thấy cô đã hóa thành một
con chim họa mi đang hót. Một con cú có đôi mắt như lửa đỏ bay
quanh cô ba lần và kêu ba lần: "Hú! Hú! Hú!" Jôringơn không nhúc
nhích được. Anh đứng nguyên tại chỗ như phỗng đá, không khóc
được. Mặt trời đã lặn. Con cú bay vào bụi rậm và ngay sau đó một
mụ già gù từ trong bụi bước ra. Mụ gày gò, vàng vọt, có đôi mắt đỏ
rực, cái mũi khoằm và nhọn chấm sát cằm. Mụ làu nhàu, bắt chim
họa mi để lên tay mang đi. Jôringơn không nói gì được, không động
đậy được. Chim họa mi không còn ở đấy nữa. Cuối cùng, mụ già trở
lại nói giọng âm u: "Ta chào ngươi, đồ ngu. Khi nào trăng chiếu
sáng cái rổ nhỏ này là lúc xéo đi ngay, đồ ngu ạ". Thế là Jôringơn
thoát. Anh quỳ xuống chân mụ già, van xin mụ hãy tha cho
Jôrinđơ. Mụ trả lời là không bao giờ anh lại nhìn thấy mặt cô nữa,
rồi mụ đi. Anh gào khóc và rên rỉ nhưng vô ích: "Trời ơi! Cái gì sẽ
đến với tôi đây?". Jôringơn rời chỗ đó đến một làng quê xa lạ. Một
thời gian dài, anh chăn cừu. Nhiều lần anh đi quanh lâu đài, nhưng
không lại gần quá.
Một đêm, anh ngủ mê thấy mình được một bông hoa đỏ như
máu, ở giữa có một hạt ngọc to và đẹp vô cùng. Anh hái bông hoa,
tiến đến lâu đài. Hoa đụng vào cái gì thì cái đó liền thoát khỏi phù
phép. Anh cũng mơ thấy nhờ có bông hoa, anh lấy lại được Jôrinđơ.
Sáng sớm ngủ dậy, anh ra đi, trèo đèo, lội suối, đi tìm bông hoa như
đã mơ thấy. Anh đi tám ngày, sáng sớm ngày thứ chín, anh tìm
thấy bông hoa đỏ như máu. Một giọt sương to, đẹp như hạt ngọc đẹp
nhất trần gian, nằm ở giữa nhị hoa. Anh cầm hoa đi suốt ngày đêm
tới lâu đài. Khi còn cách một trăm bước, anh không bị đứng bất
động. Anh tiếp tục đi đến cửa lâu đài. Lòng tràn ngập vui sướng,
anh chạm bông hoa vào cửa. Cửa mở toang ra. Đi qua sân, anh vào
lâu đài. Anh lắng nghe chim hót một lúc. Rồi anh đi về phía có chim
hót. Anh tìm ra căn phòng mà ở đó mụ phù thủy đang cho chim ăn;
chim bị nhốt trong bảy nghìn chiếc lồng nhỏ. Khi mụ nhận ra
Jôringơn, mụ nổi giận, mụ giận dữ kêu thét ầm ĩ, phun thuốc độc
và mật đắng vào anh, nhưng mụ không tiến lại gần anh một
khoảng cách là hai bước. Anh không để ý gì đến mụ, tiếp tục đi
nhìn các lồng có nhốt chim. Anh thấy hàng trăm con chim họa mi.
Làm thế nào tìm được ra Jôrinđơ trong số chim đó? Trong khi chú ý
nhìn chim, anh nhận thấy mụ già rón rén đi lấy một cái lồng nhốt
một con chim rồi bước về phía cửa.
Anh nhẩy bổ lại gần mụ, chạm bông hoa vào cái lồng và mụ ta.
Thế là phép phù thủy mụ hết thiêng! Jôrinđơ hiện ra đứng đó, ôm
cổ anh, vẫn đẹp như xưa. Rồi anh giúp cho tất cả mọi con chim hoàn
nguyên hình thành thiếu nữ. Anh cùng Jôrinđơ về nhà và sống
hạnh phúc cho đến khi đầu bạc răng long.
Câu chuyện ca ngợi tình yêu bất diệt: tình yêu sẽ chiến thắng
tất cả những thế lực xấu xa nhất. Đồng thời kẻ gây tội ác bao giờ
cũng bị trừng trị thích đáng.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Lên thiên đàng
Ngày xưa, một bác bần nông có tuổi và ngoan đạo chết. Bác đến
trước cổng Trời. Một lãnh chúa rất giàu, chết cùng một lúc với bác,
cùng đến cổng Trời lúc bác đến. Thánh Pêtrux mang chìa khóa đến
mở cửa đón ông ta vào. Hình như thánh không thấy bác bần nông
nên đóng sập cửa lại. Đứng bên ngoài, bác bần nông nghe rất rõ
tiếng đàn hát đón chào lãnh chúa lên trời. Cuối cùng yên tĩnh trở
lại.
Thánh Pêtrux đến, mở cửa Trời cho bác nông dân vào. Bác
tưởng là cũng sẽ có đàn hát đón chào. Nhưng bốn bề lặng ngắt. Dĩ
nhiên cuộc tiếp đón thân mật; các thiên thần ra đón bác. Nhưng
không có ca hát. Bác bần nông hỏi Thánh Pêtrux tại sao người ta
không ca hát đón bác như đón vị lãnh chúa. Bác thấy hình như ở
trên trời cũng bất công như ở trần gian.
Thánh Pêtrux bèn trả lời:
- Không phải đâu, chúng tôi quý bác như bất cứ một người nào
khác. Bác sẽ được hưởng thú vui trên trời này như vị lãnh chúa
giàu có kia. Nhưng bác phải hiểu là những người bần nông như bác
thì ngày nào cũng có người lên trời. Nhưng lãnh chúa giàu có thì
hàng trăm năm họa có một người.
Câu chuyện muốn nói lên rằng: ở bất cứ đâu cũng có người tốt
kẻ xấu cho dù đó là thiên đàng, nơi mà mọi người quan niệm ở đó có
nhiều hạnh phúc, công bằng nhất.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Hênxen và Grêten
Ngày xưa có hai vợ chồng một bác tiều phu nghèo khó, sống ở
ven một khu rừng lớn. Gia đình có hai con. Con trai tên là Hênxen,
con gái tên là Grêten. Nhà không đủ ăn. Một năm, trời làm đói
kém, miếng bánh hàng ngày cũng chẳng có. Tối hôm ấy, chồng nằm
trằn trọc mãi, thở dài bảo vợ:
- Chả biết rồi sao đây? Lương thực cạn rồi, lấy gì nuôi con?
Đói khổ khiến người mẹ đâm ra nhẫn tâm. Hết đường xoay xở,
vợ bảo chồng:
- Thầy nó ạ, biết sao đây! Ngày mai, sớm tinh mơ, tôi với nhà
đưa chúng vào rừng rậm, đốt lửa lên, cho mỗi đứa một mẩu bánh
rồi bỏ chúng đấy mà đi làm. Chúng không biết đường mà về, thế là
rảnh.
Chồng đáp:
- Nhà nó ạ, tôi chịu không làm thế được đâu. Nỡ nào đem bỏ
con vào rừng cho thú đói ăn thịt!
- Thầy nó thật là điên. Không làm thế thì chết đói cả bốn mạng,
chỉ còn việc bào gỗ đóng săng mà thôi.
Người vợ lèo nhèo mãi, kỳ đến lúc chồng phải làm theo ý mình.
Chồng nói:
- Nhưng tôi vẫn thương xót chúng nó lắm!
Hai đứa trẻ đói quá không ngủ được, nghe được hết. Grêten
khóc sướt mướt, bảo Hênxen:
- Anh em mình chết đến nơi rồi.
Hênxen đáp:
- Em đừng lo buồn, anh sẽ có cách thoát chết.
Chờ lúc bố mẹ ngủ rồi, nó dậy mặc áo, mở cửa, lén ra ngoài.
Trăng sáng. Sỏi trắng ở trước nhà lóng lánh như bạc. Hênxen nhặt
sỏi bỏ đầy túi áo, rồi về nhà bảo Grêten:
- Em ơi, cứ yên trí mà ngủ đi.
Rồi nó lại đi ngủ.
Tang tảng sáng, mặt trời chưa mọc thì mẹ đã đến đánh thức
hai con:
- Đồ lười! Dậy đi, còn phải vào rừng lấy củi chứ!
Rồi mẹ đưa cho mỗi con một mẩu bánh dặn:
- Chúng mày cầm lấy mà ăn trưa. Chớ có ăn nghiến ngấu
trước, không còn nữa mà cho đâu.
Grêten bỏ bánh vào túi áo và Hênxen đã bỏ đá đầy túi rồi. Cả
nhà cùng nhau đi vào rừng.
Đi được một lát, Hênxen chốc chốc lại dừng lại ngoảnh về mé
nhà. Bố thấy vậy bảo:
- Hênxen, sao mày cứ lùi lại nhìn gì mãi thế? Liệu đấy, đừng có
dềnh dàng.
Hênxen đáp:
- Con nhìn con mèo trắng của nhà ngồi trên mái từ biệt con
đấy.
Mẹ nói:
- Đồ ngốc! Không phải con mèo đâu, đấy là ống khói phản chiếu
ánh mặt trời đấy.
Hênxen lùi lại không phải để nhìn mèo, mà cốt để rắc sỏi trắng
ra đường.
Khi đến giữa rừng, bố nói:
- Chúng mày hãy đi nhặt củi, còn bố đốt lửa để chúng mày khỏi
rét.
Hênxen và Grêten đi nhặt củi khô xếp thành đống. Khi ngọn
lửa đã cao, củi cháy nỏ, mẹ nói:
- Thôi bây giờ chúng mày nằm gần lửa mà nghỉ. Tao và bố đi
đẵn củi, xong sẽ quay về đón.
Hai đứa trẻ ngồi bên lửa. Đến trưa, chúng lấy bánh ra ăn.
Nghe thấy tiếng bổ vào cây, chúng tưởng bố chúng ở gần đấy.
Nhưng không phải tiếng rìu của bố, mà đó chỉ là tiếng cành cây bị
gió đập vào cây khô.
Chúng ăn xong, mắt díp lại vì mệt, liền ngủ một giấc say. Khi
chúng thức dậy thì trời đã tối như mực. Grêten khóc nói:
- Bây giờ làm thế nào mà ra khỏi rừng được?
Hênxen dỗ em:
- Em cứ đợi một lát, chờ trăng lên, chúng mình sẽ tìm được lối
về nhà.
Khi trăng mọc, Hênxen cầm tay em theo vết sỏi lóng lánh như
tiền mới mà lần về nhà. Chúng gõ cửa. Mẹ mở, thấy Hênxen và
Grêten liền nói:
- Đồ khốn kiếp, sao chúng mày ngủ kỹ ở trong rừng thế? Tao cứ
tưởng chúng mày không muốn về nữa.
Bố thấy con về thì mừng lắm vì trong thâm tâm bố không
muốn bỏ con.
Sau đó ít lâu, trời lại làm đói kém khắp nơi.
Một đêm hai anh em nghe thấy mẹ nằm trên giường nói với bố:
- Mọi thứ lại hết sạch rồi. Chỉ còn có nửa cái bánh ăn nốt là hết
nhẵn. Phải tống chúng nó đi. Lần này ta đem bỏ chúng vào rừng
sâu hơn trước để chúng không tìm được lối về. Bằng không thì
không còn cách nào thoát.
Người chồng không đành lòng nghĩ bụng:
- Thà chia nhau với con ăn miếng bánh cuối cùng còn hơn.
Vợ không nghe, chửi chồng thậm tệ, cho là đã chót thì phải
trét, lần trước đã theo ý mụ thì lần này cũng phải theo.
Hai đứa trẻ chưa ngủ, nghe hết những chuyện bố mẹ bàn nhau.
Khi thấy bố mẹ đã ngủ rồi, Hênxen dậy định ra ngoài nhặt sỏi như
lần trước. Nhưng mẹ nó đã khóa cửa mất rồi, nó không ra được. Nó
dỗ em gái:
- Em ạ, đừng khóc nữa, em cứ ngủ yên đi, anh sẽ có cách.
Sáng sớm tinh mơ, mẹ kéo cổ chúng dậy, cho mỗi đứa một mẩu
bánh bé hơn lần trước.
Dọc đường đi đến rừng, Hênxen cho tay vào túi bẻ vụn bánh mì
ra và chốc chốc lại dừng lại rắc bánh xuống đất.
Bố hỏi Hênxen:
- Sao mày cứ hay dừng chân ngoảnh lại thế? Đi đi.
Hênxen đáp:
- Con nhìn con chim bồ câu của con nó đậu trên mái nhà để
chào con kia kìa.
Mụ đàn bà nói:
- Đồ ngốc, không phải là chim bồ câu đâu mà là cái ống khói có
mặt trời chiếu vào đấy.
Dù sao, dọc đường, Hênxen cũng rắc được hết bánh.
Mụ đàn bà dẫn hai con vào tít chỗ rừng sâu mà từ thủa cha
sinh mẹ đẻ mụ chưa tới bao giờ. Sau khi đốt lửa cháy to lên, mụ nói:
- Chúng mày ngồi đó. Lúc nào mệt thì ngủ đi một tí. Tao với bố
mày đi đẵn gỗ, chiều tối xong sẽ quay lại đón chúng mày.
Đến trưa Grêten chia bánh cho anh vì bánh của anh đã rắc ở
dọc đường rồi. Ăn xong, chúng ngủ. Tối đến, chẳng ai đến đón hai
đứa bé đáng thương cả.
Đêm tối như mực, hai đứa thức giấc, Hênxen dỗ em gái:
- Em ạ, chờ cho trăng lên, trông rõ bánh anh đã rắc, thì ta lại
tìm thấy đường về.
Trăng vừa mọc lên thì hai đứa đứng dậy đi, nhưng chẳng thấy
tí bánh nào vì hàng ngàn con chim trong rừng đã ăn mất cả rồi.
Hênxen bảo em:
- Thế nào rồi chúng ta cũng sẽ tìm được đường.
Nhưng chúng không tìm ra đường. Chúng đi suốt cả đêm, suốt
cả ngày hôm sau, mà không ra được khỏi rừng. Hai anh em bụng
đói như cào mà chỉ nhặt được ít quả dại ở dưới đất.
Chúng mệt quá, bước không nổi, nằm lăn ra ngủ dưới gốc cây.
Chúng xa nhà đã ba ngày rồi.
Chúng lại đi, đâm sâu mãi vào rừng, và nếu không gặp ai cứu
giúp thì đến chết đói, chết mệt thôi.
Giữa trưa, chúng thấy một con chim đẹp, trắng như tuyết đậu
trên cành hót hay lắm. Chúng liền dừng lại để nghe. Chim hót xong
xòe cánh bay trước mặt chúng. Chúng theo chim đến tận một túp
nhà con; chim đến đậu trên mái nhà ấy. Chúng lại gần thấy nhà xây
bằng bánh mì, lợp bằng bánh ngọt, cửa sổ bằng đường trắng tinh.
Hênxen nói:
- Thôi ổn rồi. Chúng ta được bữa ăn ngon đấy. Anh ăn một góc
mái nhà, còn em ăn một mảnh cửa sổ, ngọt đấy.
Hênxen giơ tay bẻ một mảnh mái nhà để nếm thử và Grêten
đứng bên cửa kính nhấm nháp một mảnh. Bỗng trong nhà có tiếng
người nhẹ nhàng vọng ra:
- Ai gặm nhà ta đấy?
Hai đứa trẻ đáp:
- Gió đấy! Gió đấy! Con trời đấy!
Rồi hai đứa cứ việc ăn, không e ngại gì cả.
Hênxen thích ăn mái nhà, bẻ một miếng tướng, và Grêten cũng
gỡ lấy cả một khung kính tròn xuống.
Bỗng cửa mở, một bà lão bé nhỏ chống nạng rón rén bước ra.
Hai anh em sợ rụng rời, đánh rời hết cả các thứ cầm trong tay. Bà
lão lắc lư đầu, nói:
- Các cháu yêu dấu, ai đưa các cháu đến đây? Các cháu đừng
sợ, cứ vào. Ở đây với bà, bà không làm gì đâu.
Bà lão dắt hai đứa vào, cho ăn ngon: sữa, bánh tráng đường,
táo và hạnh đào. Rồi bà sửa soạn hai cái giường nhỏ xinh đẹp trắng
tinh cho hai đứa trẻ ngủ. Hai đứa bé ngỡ là ở trên thiên đàng.
Nhưng mụ già chỉ giả bộ tử tế ngoài mặt đó thôi. Đó là một mụ
phù thủy gian ác rình bắt trẻ con nên làm nhà bằng bánh kẹo để
nhử chúng. Khi thấy hai đứa bé vừa tới, mụ đã cười nham hiểm mà
nói đùa:
- Chúng mày vào tay bà rồi, có bay lên trời cũng chẳng thoát
được tay bà.
Sáng sớm, mụ dậy trước hai đứa, thấy chúng ngủ thật đáng
yêu, má hồng phinh phính, mụ lẩm bẩm:
- Thật là món ngon.
Mụ đưa đôi tay khô héo ra nắm lấy Hênxen đem nhốt vào một
cái cũi nhỏ, đóng cửa chấn song lại. Thằng bé kêu gào mãi mụ cũng
mặc kệ.
Rồi mụ đánh thức Grêten dậy bảo:
- Đồ con gái lười chảy thây, đi dậy lấy nước làm một bữa ngon
cho anh mày. Nó ở trong cũi kia, tao muốn nó chóng béo. Khi nào
nó thực béo, tao sẽ ăn thịt.
Grêten khóc thảm thiết, nhưng nào có ích gì, vì con mụ phù
thủy sai gì phải làm nấy.
Hênxen được ăn thức ăn nấu nướng ngon lành còn Grêten phải
ăn thừa.
Sáng nào mụ già cũng lê đến bên cũi bảo Hênxen:
- Giơ ngón tay tao xem đã béo chưa.
Hênxen chỉ đưa cho mụ xem một cái xương nhỏ. Mắt kém, mụ
tưởng đó là ngón tay thật, lấy làm lạ sao không thấy béo.
Được một tháng vẫn không thấy Hênxen béo lên chút nào mụ
đâm ra sốt ruột, không muốn chờ nữa. Mụ gọi Grêten:
- Con Grêtên đâu? Nhanh lên, đem nước lại đây, thằng Hênxen
dù béo hay gầy, ngày mai tao cũng cứ làm thịt đem nấu.
Khốn nạn con bé vừa xách nước vừa khóc, nước mắt dòng dòng
hai má. Nó kêu la:
- Lạy trời phù hộ cho chúng con. Thà để thú dữ ăn thịt trong
rừng thì hai anh em cũng được cùng nhau chết.
Mụ già bảo:
- Thôi đừng kêu khóc nữa mà vô ích.
Mới bảnh mắt, Grêten đã phải đặt nồi, lấy nước và dóm bếp.
Mụ già bảo:
- Hãy nướng bánh trước đã. Tao đã dóm lò và nhào bột rồi.
Mụ đẩy Grêten đáng thương tới bên lò.
Ngọn lửa trong lò đã bắt đầu bốc lên. Mụ già bảo:
- Mày bò vào lò xem đủ nóng chưa, để cho bánh vào nướng.
Mụ định khi Grêten vào lò r...
Anh em nhà GRIM
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
.
Mục lục
Nàng công chúa chăn ngỗng
Cây củ cải
Jôrinđơ và Jôgigơn
Lên thiên đàng
Hênxen và Grêten
Chú Hanh lười biếng
Con quỷ và bà nó
Ả Grêten thông minh
Bà lão chăn ngỗng
Con mèo đi hia
Cô bé quàng khăn đỏ
Chú bé tí hon
Cô bé lọ lem
Nàng Bạch Tuyết
Ngôi nhà trong rừng
Đứa con vàng
Cô bé hai mắt
Ba cô chị
Con quỷ nhốt trong lọ
Vua trộm
Con rắn trắng
Người đầy tớ trung thành
Cuộc ngao du của tí hon
Mười hai người thợ săn
Ba sợi tóc vàng của quỷ
Mèo làm thân với chuột
Hai anh em
Người thợ săn tài giỏi
Chọn vợ
Gã thợ xay nghèo khó
Hanxơ sắt
Hai ông cháu
Sáu con thiên nga
Chú bé nghèo dưới nấm mồ
Những người khôn
Chú Hanxơ sung sướng
Người da gấu
Bác nông dân và con quỷ
Cỗ quan tài thủy tinh
Quà của người tí hon
Sợi vứt đi
Một đòn chết bảy
Con nam ở ao
Sáu người hầu
Đồ bỏ xó
Vua quạ
Ngọn đèn xanh
Thỏ và nhím
Hoàng Anh và gấu
Con ngỗng vàng
Học rùng mình
Anh và em gái
Ba bà kéo sợi
Thần chết đỡ đầu
Vua núi vàng
Ba người lùn trong rừng
Rau lừa
Ong chúa
Bảy con quạ
Nước trường sinh
Chim ưng thần
Bạch Tuyết và Hồng Hoa
Đôi giày ủng da trâu
Chim sơn ca
Anh chàng đánh trống
Ba anh em
Vợ chồng người đánh cá
Đóa hồng
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Nàng công chúa chăn ngỗng
Ngày xưa có một bà hoàng hậu tuổi đã cao. Đức vua chết đã
lâu. Bà có một cô con gái rất xinh đẹp. Khi lớn lên, nàng được hứa
hôn với một chàng Hoàng tử con vua một nước xa xôi. Đến ngày tổ
chức lễ cưới, nàng công chúa sửa soạn đi nước xa lạ. Mẹ nàng gói
ghém cho nàng những vật quí giá: đồ trang sức, vàng, bạc, cốc, châu
ngọc, tóm lại là tất cả những gì xứng đáng làm của hồi môn cho một
công chúa, vì mẹ nàng rất mực thương nàng. Mẹ nàng gửi gắm
nàng cho một thị nữ có nhiệm vụ dẫn nàng đi đến chỗ ở người
chồng chưa cưới. Mỗi người cưỡi một con ngựa. Ngựa công chúa cưỡi
tên là Phalađa, biết nói. Đến lúc chia tay, bà hoàng vào trong phòng
ngủ, lấy một con dao nhỏ trích ngón tay, để chảy ba giọt máu. Bà
cho máu thấm xuống một cái khăn trắng nhỏ, đưa cho cô gái và
dặn: "Con thân yêu, con hãy giữ gìn cẩn thận cái khăn này, nó sẽ có
ích cho con trên đường đi".
Hai mẹ con buồn bã từ biệt nhau. Công chúa áp cái khăn lên
ngực, nhảy lên yên ngựa để đi đến nơi ở của người yêu. Sau khi đã
đi một tiếng, cô cảm thấy khát khô họng, bèn bảo thị nữ: "Em hãy
xuống ngựa, lấy cốc của ta múc nước suối kia và mang lại đây cho
ta, ta khát nước lắm" - "Nếu cô khát, thị nữ trả lời, thì hãy tự nhảy
xuống, rồi vươn người ra trên mặt nước mà uống. Tôi không phải là
đầy tớ của cô".
Công chúa khát lắm, bèn xuống ngựa, cúi xuống dòng nước
suối để uống nước. Nàng không dám uống nước bằng cốc vàng. "Trời
ơi!" nàng kêu to. Ba giọt máu bảo cô: "Nếu mẹ cô biết sự tình thế
này, thì hẳn tim bà sẽ tan nát trong ngực". Nhưng công chúa là
người can đảm. Nàng không nói gì và lại nhảy lên ngựa. Ngựa phi
được vài dặm. Trời thì nóng nực, chẳng mấy chốc nàng lại khát
nước. Tới một con sông, nàng bảo thị nữ: "Em hãy xuống ngựa và
cho ta uống nước bằng cái cốc vàng". Cô đã quên đứt những lời độc
ác của thị nữ. Nhưng thị nữ lại trả lời ngạo mạn hơn: "Nếu cô khát
thì tự đi uống nước một mình, tôi không phải là đầy tớ của cô".
Công chúa khát quá, nhảy xuống ngựa, cúi xuống dòng nước chảy
xiết, khóc và kêu lên: "Trời ơi!" Ba giọt máu liền đáp lại: "Nếu mẹ cô
biết sự tình thế này, thì hẳn tim bà tan nát trong ngực". Trong khi
cô cúi xuống để uống thì cái khăn có thấm ba giọt máu, tuột khỏi
ngực cô và trôi theo dòng nước mà cô không hay biết, vì lúc đó cô rất
sợ hãi. Thị nữ thì lại trông thấy hết và nó rất vui mừng từ giờ trở đi
công chúa sẽ bị nó trả thù. Từ lúc đánh mất ba giọt máu, công chúa
trở nên yếu đuối, không đủ sức tự vệ nữa. Khi nàng định trèo lên
con ngựa Phalađa thì thị nữ bảo: "Tôi sẽ cưỡi con Phalađa, còn cô,
cô hãy cưỡi con ngựa tồi của tôi". Công chúa đành làm như vậy.
Tiếp đó thị nữ ra lệnh, lời lẽ gay gắt, bắt nàng phải cởi quần áo
hoàng cung ra và mặc quần áo của nó vào.
Cô lại phải thề với trời đất là khi đến cung điện sẽ không nói lộ
ra. Nếu cô không chịu thề thì nó sẽ giết cô tại chỗ. Nhưng con
Phalađa đã quan sát tất cả và ghi nhớ tất cả.
Thị nữ cưỡi con Phalađa, còn công chúa thì cưỡi con ngựa tồi.
Nó lại tiếp tục đi, cuối cùng đến lâu đài nhà vua. Ở đấy, mọi người
rất vui mừng khi họ tới, và Hoàng tử vội chạy tới tận nơi đón họ, đỡ
thị nữ xuống ngựa, vì tưởng rằng đó là vợ chưa cưới của mình. Thị
nữ đi lên bậc thềm lâu đài, còn nàng công chúa thì phải đứng lại
ngoài sân. Vua cha nhìn ra, qua cửa sổ thấy nàng duyên dáng và
tuyệt đẹp. Người vào trong cung hỏi cô gái được coi là vợ chưa cưới
của Hoàng tử xem cô gái đứng ngoài sân là ai. "Tâu vua cha, con đã
gặp cô gái đó trên đường đi và con đưa cô ta đi cùng để đỡ lẻ loi một
mình. Xin vua cha cho cô ta làm việc để cô ta khỏi phải vô công rồi
nghề".
Nhưng vua cha không có việc gì giao cho cô làm cả. Người bảo:
"Ở ngoài kia, ta có một anh chàng chăn ngỗng, hãy để cô ta giúp
việc vậy. Chàng trai tên là Cuốc. Vợ chưa cưới của Hoàng tử phải
giúp anh chăn ngỗng.
Ít lâu sau, vợ chưa cưới giả tâu với hoàng tử: "Chàng thân yêu
ơi, em muốn một điều, chàng hãy làm vui lòng em". Hoàng tử nói:
"Được thôi!"
- Chàng hãy cho gọi người thợ lột da đến đập chết con ngựa em
đang cưỡi đến đây, vì trong khi đi đường nó làm em bực tức".
Thật ra thì nó sợ con ngựa kể lại cách nó đã đối xử với công
chúa. Đến lúc con ngựa trung thành Phalađa phải chết thì công
chúa được tin. Nàng hứa với người thợ lột da là sẽ bí mật biếu anh
một đồng tiền bằng bạc nếu anh giúp nàng một việc nhỏ. Trong đô
thị có một cái cổng to rất tối, hàng ngày, sớm tối nàng phải dẫn đàn
ngỗng đi qua. Nàng xin người thợ lột da hãy đóng đanh treo đầu
con Phalađa vào cái cổng ấy để nàng có thể luôn luôn trông thấy nó.
Người thợ lột da hứa sẽ làm và bác đóng chặt đanh treo đầu ngựa
vào dưới cái cổng tối om.
Sáng sớm, khi cùng Cuốc đi qua cổng, cô bảo cái đầu:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Lặng lẽ, cô đi khỏi đô thị, dẫn đàn ngỗng ra cánh đồng. Đến
đồng cỏ, cô ngồi xuống và rũ tóc ra. Tóc cô óng ánh như vàng
nguyên chất và Cuốc rất thích nhìn mớ tóc ấy lóe sáng. Anh muốn
nhổ vài sợi tóc. Công chúa bèn nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ. Hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Tức thì gió thổi mạnh cuốn đi cái mũ của Cuốc. Anh ta chạy
theo ngay. Khi anh trở về thì công chúa đã chải đầu xong và anh
không nhổ được sợi tóc nào. Anh rất bực và không nói năng gì với cô
nữa. Họ lại tiếp tục chăn ngỗng đến chiều, rồi cùng về nhà.
Sáng sớm hôm sau, khi lùa ngỗng qua cổng, cô gái nói:
"Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!"
Cái đầu trả lời:
"Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết
nông nỗi này, tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Đi ra khỏi đô thị, cô lại ngồi trên đồng cỏ và lại rũ tóc ra chải.
Cuốc muốn nắm lấy mớ tóc. Cô vội vàng nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Gió nổi lên, cuốn cái mũ đi. Cuốc phải chạy theo. Khi anh trở
về thì công chúa đã chải đầu xong từ lâu và anh không nắm được
mớ tóc ấy. Và rồi hai người lại cùng chăn ngỗng đến chiều.
Nhưng chiều hôm ấy, về tới nhà, Cuốc đến gặp vua cha và tâu:
"Kính thưa hoàng thượng, con không thể chăn ngỗng cùng cô gái
này nữa" - "Tại sao vậy?", vua hỏi. "Suốt ngày, cô ta làm con bực
mình!" - Vua cha bảo anh kể lại sự việc đã xảy ra. Cuốc nói: "Buổi
sáng, chúng con dẫn đàn ngỗng qua cái cổng tối om, ở đấy có một
cái đầu ngựa treo trên tường. Cô ta nói với nó: "Ôi, Phalađa, mày bị
treo ở đây ư!" Cái đầu trả lời: "Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng
qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành"
Và Cuốc kể các sự việc đã xảy ra ở cánh đồng chăn ngỗng và tại
sao anh ta lại phải chạy theo cái mũ.
Vua cha dặn anh ta ngày hôm sau cứ đi chăn ngỗng như
thường lệ. Sáng sớm ngài thân chinh đến dưới cái cổng tối om và
nghe được những câu cô gái nói với cái đầu Phalađa. Ông theo ra
cánh đồng và nấp vào một bụi cây. Chính mắt ngài trông thấy anh
thanh niên và cô gái lùa ngỗng thế nào và sau một lúc, cô gái ngồi
xuống gỡ mớ tóc vàng lóe sáng. Rồi cô lại nói:
"Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ
của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải
và tết xong".
Một cơn gió thổi mạnh, cuốn cái mũ đội đầu của Cuốc đi. Anh
phải chạy theo rất xa. Cô gái chăn ngỗng chải tóc và cuốn thành
từng búp. Vua cha nhìn thấy tất cả. Không ai nhận ra ngài khi ngài
rời khỏi đó. Chiều đến, cô gái về nhà, ngài cho gọi cô đến và hỏi tại
sao cô lại làm như thế. "Tâu bệ hạ, con không thể nói được", - cô trả
lời. - "Con không thể kể nỗi khổ của con với bất cứ ai trên thế gian
này, con đã thề như vậy để khỏi bị người ta giết".
Vua cha cô ép cô nói, nhưng ngài không biết được gì thêm bèn
nói: "Nếu con không muốn nói với ta, thì con hãy kể nỗi khổ của con
với cái bếp lò này". Rồi ông bỏ đi. Cô đến ngồi gần cái bếp lò, than
khóc, thổ lộ tâm can:
"Ta ngồi đây, bị cả thế gian ruồng bỏ, dù ta là con vua. Một tên
thị nữ độc ác đã áp chế ta, bắt ta đổi cho nó quần áo hoàng cung. Nó
thay thế ta để làm vợ chưa cưới của người yêu ta, và ta bắt buộc
phải làm công việc bình thường của người chăn ngỗng. Nếu mẹ ta
biết nông nỗi này, tim bà sẽ tan nát".
Vua cha đứng ở phía tường bên kia gần ống thông hơi, ngài đã
nghe thấy hết. Ngài trở về và gọi cô hãy rời cái lò đến gặp ngài.
Người ta mang đến cho cô quần áo hoàng cung, cô mặc vào đẹp
như là có phép lạ. Vua cha cho gọi con trai đến và bảo cho con biết
về cô vợ chưa cưới giả mạo. Cô người yêu thật đứng trước chàng,
đấy là cô gái chăn ngỗng.
Hoàng tử thấy cô rất đẹp và phúc hậu nên lòng tràn ngập niềm
vui. Một bữa tiệc được sửa soạn để mời tất cả các bạn bè thân
thuộc. Hoàng tử và công chúa ngồi ở đầu bàn, trước mặt họ là con
thị nữ. Nó bị chỗáng ngợp và không nhận ra cô chủ trang sức lộng
lẫy. Khi họ đang ăn uống vui vẻ, vua cha ra một câu đố cho thị nữ.
Nó phải trả lời là một người đàn bà lừa dối chủ thì sẽ bị xử tội như
thế nào. Ngài kể các sự việc đã xảy ra và hỏi nó: "Như thế sẽ xứng
đáng với hình phạt gì". - "Nó xứng đáng phải đuổi đi khỏi đất nước"
- "Kẻ ấy chính là mày, mày sẽ bị xử tội như mày nói".
Sau khi hình phạt được thi hành, Hoàng tử cưới nàng công
chúa làm vợ và họ trị vì đất nước trong hòa bình và hạnh phúc.
Các em được nghe một câu chuyện về cuộc đời. Những người
hiền hậu, tốt bụng sẽ có hạnh phúc, còn những kẻ có tâm địa xấu xa
sẽ bị trừng phạt.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Cây củ cải
Ngày xưa có hai anh em đều đi lính. Anh thì giàu, em thì
nghèo. Người em không muốn sống nghèo khổ mãi, bỏ lính về làm
nông dân. Anh cuốc một vạt đất ở đầu cánh đồng và gieo hạt củ cải.
Mầm mọc, củ lớn dần, lớn dần, lớn không ngừng đến mức có thể coi
là củ cải chúa, chưa bao giờ từng có củ cải nào to như vậy và cũng
sẽ chẳng bao giờ sẽ thấy củ cải to như thế. Cuối cùng, nó thành một
củ cải khổng lồ, một mình nó có thể chiếm hết một xe chở và phải
gióng hai con bò để kéo xe. Bác nông dân không biết dùng củ cải ấy
làm gì và tự hỏi không biết đây là phúc hay là họa. Rút cuộc, bác tự
bảo: "Nếu mang bán thì người ta sẽ trả bao nhiêu? Nếu ăn củ cải
thì ăn những củ nhỏ cũng đến thế thôi. Tốt nhất là ta mang tiến
vua để tỏ lòng thành kính".
Bác khiêng củ cải lên một cái xe, gióng hai con bò, dắt xe đến
cung nhà vua để dâng vua.
- Cái vật kỳ lại này là cái gì vậy?" - Vua phán - Ta đã từng trông thấy
nhiều vật lạ, nhưng chưa thấy một vật khổng lồ như thế này, không biết mọc từ
cái hạt giống gì ra? Hoặc giả ngươi là phù thủy và đã đích thân làm ra củ này?
- Tâu bệ hạ, không phải thế đâu ạ - Bác nông dân trả lời - Thần
là một anh lính nghèo nuôi thân không xong nên phải thôi lính về
làm đất. Thần có một người anh giàu có, bệ hạ biết nhiều về anh ấy.
Nhưng thần thì không có gì, nên bị mọi người ruồng bỏ.
Nhà vua thương hại bác nông dân và phán:
- Nhà ngươi sẽ không nghèo đói nữa, ta sẽ ban cho ngươi của
cải để nhà ngươi cũng giàu như anh nhà ngươi.
Vua ban cho bác nông dân rất nhiều vàng, ruộng nương, đồng
cỏ và gia súc, đến mức bác trở nên rất giàu, của cải người anh
không sánh được.
Khi người anh biết là em trở nên giàu có nhờ có một cây củ cải,
thì anh ta ghen tức và nghĩ nát óc ra tìm một cách để cũng gặp may
như em. Anh láu hơn em, mang biếu nhà vua vàng và ngựa, nghĩ
rằng vua sẽ ban cho anh nhiều của cải hơn em. Nếu em ta chỉ biếu
nhà vua có một củ cải mà được vua ban cho chừng nấy của thì vua
sẽ ban cho ta biết mấy để đáp lại những tặng phẩm quý giá! Vua
nhận đồ dâng của anh và phán là không có gì quí hơn và hiếm hơn
là cây củ cải. Vua bèn cho anh cây củ cải to tướng. Người anh đành
chất cây củ cải của người em lên một cái xe rồi kéo về nhà.
Về đến nhà, người anh không biết trút cơn tức giận lên đầu ai
cho tới khi nẩy ra ý nghĩ độc ác là giết em. Anh thuê những kẻ giết
người và cho chúng nấp ở một nơi. Anh đến gặp em và bảo: "Chú ạ,
tôi biết nơi cất giấu một kho vàng, chúng ta cùng đi lấy rồi chia
nhau". Người em đi với anh, không nghi ngờ gì cả. Khi hai người đi
tới nơi đã định, những kẻ giết người nhảy xổ vào người em, trói em
lại và chuẩn bị treo cổ lên một cái cây. Khi chúng đang làm việc đó
thì ở xa có tiếng hát và tiếng vó ngựa vọng lại. Chúng sợ hãi nhét
người bị bắt - đầu lộn ngược - vào một cái bao, treo lên một cái cây
rồi chạy trốn. Ở trên cây, người em giãy giụa cho tới khi cái bao bị
thủng một lỗ, đầu lọt ra. Người đi tới chẳng qua là một cậu sinh
viên đi lang thang, một thanh niên đang vừa ruổi ngựa trong rừng
và hát vang lên. Người em ở trên cây thấy có người vừa qua bên
dưới bèn kêu to:
- Cậu đến thật đúng lúc!
Cậu sinh viên ngó quanh, không biết tiếng nói từ đâu ra. Cuối
cùng cậu nói:
- Ai gọi tôi thế?
Từ ngọn cây, người em trả lời:
- Hãy ngẩng lên mà nhìn. Tôi ở trên cao, trong một cái túi dạy
khôn. Trong một thời gian ngắn, tôi đã học được không biết bao
nhiêu điều hay; những điều học ở trường chẳng thấm vào đâu. Tôi
học sắp xong rồi, tôi sẽ xuống và tôi sẽ giỏi hơn mọi người trên thế
gian này. Tôi thông thiên văn, biết hướng đi của gió, cát ở ngoài
biển, cách chữa mọi bệnh tật, công dụng của cây cỏ, các loại chim và
các loại đá. Nếu anh chui vào đây, anh sẽ thấy ở trong túi dạy khôn
này hạnh phúc biết chừng nào.
Cậu sinh viên nghe thấy thế ngạc nhiên vô cùng và nói:
- Quả là trời phù hộ cho tôi được gặp bác. Bác làm ơn cho tôi
vào trong túi một lúc có được không?
Người em trả lời như có vẻ chần chừ: "Tôi cũng muốn để anh
chui vào một tí nếu anh đưa tôi một ít tiền và ăn nói tử tế, nhưng
anh hãy đợi một giờ nhé. Còn có điều tôi muốn học thêm đã".
Cậu sinh viên chờ một chốc, sốt ruột năn nỉ xin người em cho
chui vào vì anh nóng lòng muốn học khôn. Người em giả bộ như
cũng chiều ý cậu và nói:
- Muốn để tôi bước ra khỏi cái nhà dạy khôn này, anh hãy hạ
túi dọc theo cái dây thừng. Sau đó sẽ đến lượt anh vào".
Cậu sinh viên hạ người em xuống, mở túi cho anh chui ra. Sau
đó, cậu kêu lên:
- Giờ thì hãy kéo tôi lên cao nhanh lên!"
Rồi anh chui vào trong túi. "Hượm đã!" - người em nói, - "như
thế chưa được". Anh đẩy cậu sinh viên đầu lộn ngược vào túi, buộc
miệng túi lại rồi kéo lên cây. Anh đẩy cho cái túi đu đưa trên không
rồi hỏi:
- Cậu thấy thế nào hở cậu? Cậu thấy đấy, cậu cảm thấy khôn
ngoan đang đến đấy, cậu đã học được nhiều. Hãy cứ nằm im, cho
đến khi nào khôn ngoan hơn."
Sau đó, người em nhảy lên con ngựa của anh sinh viên và đi.
Được một giờ, anh cho người đến tháo cho cậu sinh viên xuống.
“Ở hiền gặp lành" là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung của các
truyện cổ tích. Trong câu chuyện trên ca ngợi người em sống thật
thà thì luôn gặp may mắn, hạnh phúc. Người anh tham lam dù có
cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đạt được mục đích.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Jôrinđơ và Jôgigơn
Ngày xưa, có một bà già sống một mình trong một tòa lâu đài
cổ giữa một khu rừng bao la, rậm rạp. Đó là một mụ phù thủy cừ
khôi. Ban ngày, mụ hóa thành mèo hoặc cú vọ. Đến chiều tối, mụ
lại hiện nguyên hình người. Mụ có tài dụ dỗ muông thú để giết lấy
thịt nấu nước ăn. Quanh lâu đài một trăm bước, ai đi đến tự dưng
đứng sững tại chỗ, chỉ bước đi được khi mụ phù thủy cho phép. Khi
một cô gái trong sạch lọt vào cái vòng ma quái đó thì mụ sẽ hóa
phép biến thành chim, mụ đem nhốt vào lồng rồi đặt lồng vào một
phòng của lâu đài.
Có một cô gái tên là Jôrinđơ, đẹp hơn tất cả các cô gái khác. Cô
đã hứa hôn với chàng trai tên là Jôringơn. Đôi trai gái sống những
ngày chờ cưới và quấn quít bên nhau.
Để được chuyện trò thoải mái, một hôm họ vào rừng dạo chơi.
- Em cẩn thận chớ đến quá gần lâu đài! - Jôringơn dặn.
Buổi chiều thật là đẹp. Mặt trời còn chiếu nắng qua các thân
cây thành các vệt sáng trên nền trời xanh thẫm của rừng. Chim gáy
gù rầu rĩ trên cây sồi.
Jôrinđơ thỉnh thoảng lại khóc lóc, ngồi dưới ánh nắng mà than
vãn, Jôringơn cũng than vãn. Họ xúc động như chết đến nơi. Họ
nhìn quanh, nhưng lại không tìm ra đường về nhà. Mặt trời đã
khuất một nửa sau rặng núi. Đúng lúc đó Jôringơn nhìn qua bụi
rậm thấy các bức tường cổ của lâu đài hiện ra sát bên mình. Anh sợ
hãi tái nhợt như người chết. Jôrinđơ hát:
- Con chim bé nhỏ của tôi đeo chiếc nhẫn vàng.
Rên rỉ buồn thảm, nó khóc than cái chết của con chim bồ câu
Jôringơn quay lại nhìn Jôrinđơ thì thấy cô đã hóa thành một
con chim họa mi đang hót. Một con cú có đôi mắt như lửa đỏ bay
quanh cô ba lần và kêu ba lần: "Hú! Hú! Hú!" Jôringơn không nhúc
nhích được. Anh đứng nguyên tại chỗ như phỗng đá, không khóc
được. Mặt trời đã lặn. Con cú bay vào bụi rậm và ngay sau đó một
mụ già gù từ trong bụi bước ra. Mụ gày gò, vàng vọt, có đôi mắt đỏ
rực, cái mũi khoằm và nhọn chấm sát cằm. Mụ làu nhàu, bắt chim
họa mi để lên tay mang đi. Jôringơn không nói gì được, không động
đậy được. Chim họa mi không còn ở đấy nữa. Cuối cùng, mụ già trở
lại nói giọng âm u: "Ta chào ngươi, đồ ngu. Khi nào trăng chiếu
sáng cái rổ nhỏ này là lúc xéo đi ngay, đồ ngu ạ". Thế là Jôringơn
thoát. Anh quỳ xuống chân mụ già, van xin mụ hãy tha cho
Jôrinđơ. Mụ trả lời là không bao giờ anh lại nhìn thấy mặt cô nữa,
rồi mụ đi. Anh gào khóc và rên rỉ nhưng vô ích: "Trời ơi! Cái gì sẽ
đến với tôi đây?". Jôringơn rời chỗ đó đến một làng quê xa lạ. Một
thời gian dài, anh chăn cừu. Nhiều lần anh đi quanh lâu đài, nhưng
không lại gần quá.
Một đêm, anh ngủ mê thấy mình được một bông hoa đỏ như
máu, ở giữa có một hạt ngọc to và đẹp vô cùng. Anh hái bông hoa,
tiến đến lâu đài. Hoa đụng vào cái gì thì cái đó liền thoát khỏi phù
phép. Anh cũng mơ thấy nhờ có bông hoa, anh lấy lại được Jôrinđơ.
Sáng sớm ngủ dậy, anh ra đi, trèo đèo, lội suối, đi tìm bông hoa như
đã mơ thấy. Anh đi tám ngày, sáng sớm ngày thứ chín, anh tìm
thấy bông hoa đỏ như máu. Một giọt sương to, đẹp như hạt ngọc đẹp
nhất trần gian, nằm ở giữa nhị hoa. Anh cầm hoa đi suốt ngày đêm
tới lâu đài. Khi còn cách một trăm bước, anh không bị đứng bất
động. Anh tiếp tục đi đến cửa lâu đài. Lòng tràn ngập vui sướng,
anh chạm bông hoa vào cửa. Cửa mở toang ra. Đi qua sân, anh vào
lâu đài. Anh lắng nghe chim hót một lúc. Rồi anh đi về phía có chim
hót. Anh tìm ra căn phòng mà ở đó mụ phù thủy đang cho chim ăn;
chim bị nhốt trong bảy nghìn chiếc lồng nhỏ. Khi mụ nhận ra
Jôringơn, mụ nổi giận, mụ giận dữ kêu thét ầm ĩ, phun thuốc độc
và mật đắng vào anh, nhưng mụ không tiến lại gần anh một
khoảng cách là hai bước. Anh không để ý gì đến mụ, tiếp tục đi
nhìn các lồng có nhốt chim. Anh thấy hàng trăm con chim họa mi.
Làm thế nào tìm được ra Jôrinđơ trong số chim đó? Trong khi chú ý
nhìn chim, anh nhận thấy mụ già rón rén đi lấy một cái lồng nhốt
một con chim rồi bước về phía cửa.
Anh nhẩy bổ lại gần mụ, chạm bông hoa vào cái lồng và mụ ta.
Thế là phép phù thủy mụ hết thiêng! Jôrinđơ hiện ra đứng đó, ôm
cổ anh, vẫn đẹp như xưa. Rồi anh giúp cho tất cả mọi con chim hoàn
nguyên hình thành thiếu nữ. Anh cùng Jôrinđơ về nhà và sống
hạnh phúc cho đến khi đầu bạc răng long.
Câu chuyện ca ngợi tình yêu bất diệt: tình yêu sẽ chiến thắng
tất cả những thế lực xấu xa nhất. Đồng thời kẻ gây tội ác bao giờ
cũng bị trừng trị thích đáng.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Lên thiên đàng
Ngày xưa, một bác bần nông có tuổi và ngoan đạo chết. Bác đến
trước cổng Trời. Một lãnh chúa rất giàu, chết cùng một lúc với bác,
cùng đến cổng Trời lúc bác đến. Thánh Pêtrux mang chìa khóa đến
mở cửa đón ông ta vào. Hình như thánh không thấy bác bần nông
nên đóng sập cửa lại. Đứng bên ngoài, bác bần nông nghe rất rõ
tiếng đàn hát đón chào lãnh chúa lên trời. Cuối cùng yên tĩnh trở
lại.
Thánh Pêtrux đến, mở cửa Trời cho bác nông dân vào. Bác
tưởng là cũng sẽ có đàn hát đón chào. Nhưng bốn bề lặng ngắt. Dĩ
nhiên cuộc tiếp đón thân mật; các thiên thần ra đón bác. Nhưng
không có ca hát. Bác bần nông hỏi Thánh Pêtrux tại sao người ta
không ca hát đón bác như đón vị lãnh chúa. Bác thấy hình như ở
trên trời cũng bất công như ở trần gian.
Thánh Pêtrux bèn trả lời:
- Không phải đâu, chúng tôi quý bác như bất cứ một người nào
khác. Bác sẽ được hưởng thú vui trên trời này như vị lãnh chúa
giàu có kia. Nhưng bác phải hiểu là những người bần nông như bác
thì ngày nào cũng có người lên trời. Nhưng lãnh chúa giàu có thì
hàng trăm năm họa có một người.
Câu chuyện muốn nói lên rằng: ở bất cứ đâu cũng có người tốt
kẻ xấu cho dù đó là thiên đàng, nơi mà mọi người quan niệm ở đó có
nhiều hạnh phúc, công bằng nhất.
Anh em nhà GRIM
Truyện cổ Grim
Hênxen và Grêten
Ngày xưa có hai vợ chồng một bác tiều phu nghèo khó, sống ở
ven một khu rừng lớn. Gia đình có hai con. Con trai tên là Hênxen,
con gái tên là Grêten. Nhà không đủ ăn. Một năm, trời làm đói
kém, miếng bánh hàng ngày cũng chẳng có. Tối hôm ấy, chồng nằm
trằn trọc mãi, thở dài bảo vợ:
- Chả biết rồi sao đây? Lương thực cạn rồi, lấy gì nuôi con?
Đói khổ khiến người mẹ đâm ra nhẫn tâm. Hết đường xoay xở,
vợ bảo chồng:
- Thầy nó ạ, biết sao đây! Ngày mai, sớm tinh mơ, tôi với nhà
đưa chúng vào rừng rậm, đốt lửa lên, cho mỗi đứa một mẩu bánh
rồi bỏ chúng đấy mà đi làm. Chúng không biết đường mà về, thế là
rảnh.
Chồng đáp:
- Nhà nó ạ, tôi chịu không làm thế được đâu. Nỡ nào đem bỏ
con vào rừng cho thú đói ăn thịt!
- Thầy nó thật là điên. Không làm thế thì chết đói cả bốn mạng,
chỉ còn việc bào gỗ đóng săng mà thôi.
Người vợ lèo nhèo mãi, kỳ đến lúc chồng phải làm theo ý mình.
Chồng nói:
- Nhưng tôi vẫn thương xót chúng nó lắm!
Hai đứa trẻ đói quá không ngủ được, nghe được hết. Grêten
khóc sướt mướt, bảo Hênxen:
- Anh em mình chết đến nơi rồi.
Hênxen đáp:
- Em đừng lo buồn, anh sẽ có cách thoát chết.
Chờ lúc bố mẹ ngủ rồi, nó dậy mặc áo, mở cửa, lén ra ngoài.
Trăng sáng. Sỏi trắng ở trước nhà lóng lánh như bạc. Hênxen nhặt
sỏi bỏ đầy túi áo, rồi về nhà bảo Grêten:
- Em ơi, cứ yên trí mà ngủ đi.
Rồi nó lại đi ngủ.
Tang tảng sáng, mặt trời chưa mọc thì mẹ đã đến đánh thức
hai con:
- Đồ lười! Dậy đi, còn phải vào rừng lấy củi chứ!
Rồi mẹ đưa cho mỗi con một mẩu bánh dặn:
- Chúng mày cầm lấy mà ăn trưa. Chớ có ăn nghiến ngấu
trước, không còn nữa mà cho đâu.
Grêten bỏ bánh vào túi áo và Hênxen đã bỏ đá đầy túi rồi. Cả
nhà cùng nhau đi vào rừng.
Đi được một lát, Hênxen chốc chốc lại dừng lại ngoảnh về mé
nhà. Bố thấy vậy bảo:
- Hênxen, sao mày cứ lùi lại nhìn gì mãi thế? Liệu đấy, đừng có
dềnh dàng.
Hênxen đáp:
- Con nhìn con mèo trắng của nhà ngồi trên mái từ biệt con
đấy.
Mẹ nói:
- Đồ ngốc! Không phải con mèo đâu, đấy là ống khói phản chiếu
ánh mặt trời đấy.
Hênxen lùi lại không phải để nhìn mèo, mà cốt để rắc sỏi trắng
ra đường.
Khi đến giữa rừng, bố nói:
- Chúng mày hãy đi nhặt củi, còn bố đốt lửa để chúng mày khỏi
rét.
Hênxen và Grêten đi nhặt củi khô xếp thành đống. Khi ngọn
lửa đã cao, củi cháy nỏ, mẹ nói:
- Thôi bây giờ chúng mày nằm gần lửa mà nghỉ. Tao và bố đi
đẵn củi, xong sẽ quay về đón.
Hai đứa trẻ ngồi bên lửa. Đến trưa, chúng lấy bánh ra ăn.
Nghe thấy tiếng bổ vào cây, chúng tưởng bố chúng ở gần đấy.
Nhưng không phải tiếng rìu của bố, mà đó chỉ là tiếng cành cây bị
gió đập vào cây khô.
Chúng ăn xong, mắt díp lại vì mệt, liền ngủ một giấc say. Khi
chúng thức dậy thì trời đã tối như mực. Grêten khóc nói:
- Bây giờ làm thế nào mà ra khỏi rừng được?
Hênxen dỗ em:
- Em cứ đợi một lát, chờ trăng lên, chúng mình sẽ tìm được lối
về nhà.
Khi trăng mọc, Hênxen cầm tay em theo vết sỏi lóng lánh như
tiền mới mà lần về nhà. Chúng gõ cửa. Mẹ mở, thấy Hênxen và
Grêten liền nói:
- Đồ khốn kiếp, sao chúng mày ngủ kỹ ở trong rừng thế? Tao cứ
tưởng chúng mày không muốn về nữa.
Bố thấy con về thì mừng lắm vì trong thâm tâm bố không
muốn bỏ con.
Sau đó ít lâu, trời lại làm đói kém khắp nơi.
Một đêm hai anh em nghe thấy mẹ nằm trên giường nói với bố:
- Mọi thứ lại hết sạch rồi. Chỉ còn có nửa cái bánh ăn nốt là hết
nhẵn. Phải tống chúng nó đi. Lần này ta đem bỏ chúng vào rừng
sâu hơn trước để chúng không tìm được lối về. Bằng không thì
không còn cách nào thoát.
Người chồng không đành lòng nghĩ bụng:
- Thà chia nhau với con ăn miếng bánh cuối cùng còn hơn.
Vợ không nghe, chửi chồng thậm tệ, cho là đã chót thì phải
trét, lần trước đã theo ý mụ thì lần này cũng phải theo.
Hai đứa trẻ chưa ngủ, nghe hết những chuyện bố mẹ bàn nhau.
Khi thấy bố mẹ đã ngủ rồi, Hênxen dậy định ra ngoài nhặt sỏi như
lần trước. Nhưng mẹ nó đã khóa cửa mất rồi, nó không ra được. Nó
dỗ em gái:
- Em ạ, đừng khóc nữa, em cứ ngủ yên đi, anh sẽ có cách.
Sáng sớm tinh mơ, mẹ kéo cổ chúng dậy, cho mỗi đứa một mẩu
bánh bé hơn lần trước.
Dọc đường đi đến rừng, Hênxen cho tay vào túi bẻ vụn bánh mì
ra và chốc chốc lại dừng lại rắc bánh xuống đất.
Bố hỏi Hênxen:
- Sao mày cứ hay dừng chân ngoảnh lại thế? Đi đi.
Hênxen đáp:
- Con nhìn con chim bồ câu của con nó đậu trên mái nhà để
chào con kia kìa.
Mụ đàn bà nói:
- Đồ ngốc, không phải là chim bồ câu đâu mà là cái ống khói có
mặt trời chiếu vào đấy.
Dù sao, dọc đường, Hênxen cũng rắc được hết bánh.
Mụ đàn bà dẫn hai con vào tít chỗ rừng sâu mà từ thủa cha
sinh mẹ đẻ mụ chưa tới bao giờ. Sau khi đốt lửa cháy to lên, mụ nói:
- Chúng mày ngồi đó. Lúc nào mệt thì ngủ đi một tí. Tao với bố
mày đi đẵn gỗ, chiều tối xong sẽ quay lại đón chúng mày.
Đến trưa Grêten chia bánh cho anh vì bánh của anh đã rắc ở
dọc đường rồi. Ăn xong, chúng ngủ. Tối đến, chẳng ai đến đón hai
đứa bé đáng thương cả.
Đêm tối như mực, hai đứa thức giấc, Hênxen dỗ em gái:
- Em ạ, chờ cho trăng lên, trông rõ bánh anh đã rắc, thì ta lại
tìm thấy đường về.
Trăng vừa mọc lên thì hai đứa đứng dậy đi, nhưng chẳng thấy
tí bánh nào vì hàng ngàn con chim trong rừng đã ăn mất cả rồi.
Hênxen bảo em:
- Thế nào rồi chúng ta cũng sẽ tìm được đường.
Nhưng chúng không tìm ra đường. Chúng đi suốt cả đêm, suốt
cả ngày hôm sau, mà không ra được khỏi rừng. Hai anh em bụng
đói như cào mà chỉ nhặt được ít quả dại ở dưới đất.
Chúng mệt quá, bước không nổi, nằm lăn ra ngủ dưới gốc cây.
Chúng xa nhà đã ba ngày rồi.
Chúng lại đi, đâm sâu mãi vào rừng, và nếu không gặp ai cứu
giúp thì đến chết đói, chết mệt thôi.
Giữa trưa, chúng thấy một con chim đẹp, trắng như tuyết đậu
trên cành hót hay lắm. Chúng liền dừng lại để nghe. Chim hót xong
xòe cánh bay trước mặt chúng. Chúng theo chim đến tận một túp
nhà con; chim đến đậu trên mái nhà ấy. Chúng lại gần thấy nhà xây
bằng bánh mì, lợp bằng bánh ngọt, cửa sổ bằng đường trắng tinh.
Hênxen nói:
- Thôi ổn rồi. Chúng ta được bữa ăn ngon đấy. Anh ăn một góc
mái nhà, còn em ăn một mảnh cửa sổ, ngọt đấy.
Hênxen giơ tay bẻ một mảnh mái nhà để nếm thử và Grêten
đứng bên cửa kính nhấm nháp một mảnh. Bỗng trong nhà có tiếng
người nhẹ nhàng vọng ra:
- Ai gặm nhà ta đấy?
Hai đứa trẻ đáp:
- Gió đấy! Gió đấy! Con trời đấy!
Rồi hai đứa cứ việc ăn, không e ngại gì cả.
Hênxen thích ăn mái nhà, bẻ một miếng tướng, và Grêten cũng
gỡ lấy cả một khung kính tròn xuống.
Bỗng cửa mở, một bà lão bé nhỏ chống nạng rón rén bước ra.
Hai anh em sợ rụng rời, đánh rời hết cả các thứ cầm trong tay. Bà
lão lắc lư đầu, nói:
- Các cháu yêu dấu, ai đưa các cháu đến đây? Các cháu đừng
sợ, cứ vào. Ở đây với bà, bà không làm gì đâu.
Bà lão dắt hai đứa vào, cho ăn ngon: sữa, bánh tráng đường,
táo và hạnh đào. Rồi bà sửa soạn hai cái giường nhỏ xinh đẹp trắng
tinh cho hai đứa trẻ ngủ. Hai đứa bé ngỡ là ở trên thiên đàng.
Nhưng mụ già chỉ giả bộ tử tế ngoài mặt đó thôi. Đó là một mụ
phù thủy gian ác rình bắt trẻ con nên làm nhà bằng bánh kẹo để
nhử chúng. Khi thấy hai đứa bé vừa tới, mụ đã cười nham hiểm mà
nói đùa:
- Chúng mày vào tay bà rồi, có bay lên trời cũng chẳng thoát
được tay bà.
Sáng sớm, mụ dậy trước hai đứa, thấy chúng ngủ thật đáng
yêu, má hồng phinh phính, mụ lẩm bẩm:
- Thật là món ngon.
Mụ đưa đôi tay khô héo ra nắm lấy Hênxen đem nhốt vào một
cái cũi nhỏ, đóng cửa chấn song lại. Thằng bé kêu gào mãi mụ cũng
mặc kệ.
Rồi mụ đánh thức Grêten dậy bảo:
- Đồ con gái lười chảy thây, đi dậy lấy nước làm một bữa ngon
cho anh mày. Nó ở trong cũi kia, tao muốn nó chóng béo. Khi nào
nó thực béo, tao sẽ ăn thịt.
Grêten khóc thảm thiết, nhưng nào có ích gì, vì con mụ phù
thủy sai gì phải làm nấy.
Hênxen được ăn thức ăn nấu nướng ngon lành còn Grêten phải
ăn thừa.
Sáng nào mụ già cũng lê đến bên cũi bảo Hênxen:
- Giơ ngón tay tao xem đã béo chưa.
Hênxen chỉ đưa cho mụ xem một cái xương nhỏ. Mắt kém, mụ
tưởng đó là ngón tay thật, lấy làm lạ sao không thấy béo.
Được một tháng vẫn không thấy Hênxen béo lên chút nào mụ
đâm ra sốt ruột, không muốn chờ nữa. Mụ gọi Grêten:
- Con Grêtên đâu? Nhanh lên, đem nước lại đây, thằng Hênxen
dù béo hay gầy, ngày mai tao cũng cứ làm thịt đem nấu.
Khốn nạn con bé vừa xách nước vừa khóc, nước mắt dòng dòng
hai má. Nó kêu la:
- Lạy trời phù hộ cho chúng con. Thà để thú dữ ăn thịt trong
rừng thì hai anh em cũng được cùng nhau chết.
Mụ già bảo:
- Thôi đừng kêu khóc nữa mà vô ích.
Mới bảnh mắt, Grêten đã phải đặt nồi, lấy nước và dóm bếp.
Mụ già bảo:
- Hãy nướng bánh trước đã. Tao đã dóm lò và nhào bột rồi.
Mụ đẩy Grêten đáng thương tới bên lò.
Ngọn lửa trong lò đã bắt đầu bốc lên. Mụ già bảo:
- Mày bò vào lò xem đủ nóng chưa, để cho bánh vào nướng.
Mụ định khi Grêten vào lò r...
 





