Sách nói Con Chim Xanh Biếc Bay Về - Nguyễn Nhật Ánh |
Vang bóng 1 thời

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Huế
Ngày gửi: 09h:19' 08-01-2026
Dung lượng: 515.7 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Huế
Ngày gửi: 09h:19' 08-01-2026
Dung lượng: 515.7 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tác phẩm: Vang bóng một thời
Tác giả: Nguyễn Tuân
Nxb Mãi Lĩnh, Hà Nội 1940
Tạo ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Lời dẫn
Vang Bóng Một Thời viết năm 1940 đã được dư luận chung coi như một
trong những tác phẩm hay và nổi tiếng nhất của nền văn chương Việt Nam,
cũng là một trong những tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất, được coi như
ngang hàng với Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, Đôi Bạn của Nhất
Linh, truyện đã được tác giả Nhà Văn Hiện Đại ca ngợi như sau.
Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ.
Đó là tập Vang Bóng Một Thời (Tân Dân – Hà Nội 1940).
Tập truyện đã làm sống lại cả một thời phong kiến đã qua với những nghệ
thuật cổ thanh cao, những nếp sống, sinh hoạt xã hội nho phong của một nền
văn minh xưa cũ, nó cũng là niềm nuối tiếc của một tâm hồn hoài cổ trước
những cái hay, cái đẹp, những nghệ thuật cầu kỳ của một thời đại đã qua, cái
thời ấy nay đã chết rồi, chỉ còn để lại một tiếng vang:
. . . . Vang Bóng Một Thời. .
Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại Hà Nội trong một gia đình nho giáo, con cụ
Tú Hải Vân , thời còn trẻ ông đã theo gia đình sinh sống tại nhiều tỉnh miền
Trung . Năm 1929 tham gia bãi khóa bị đuổi học, trốn sang Băng Cốc bị bắt
giải về nước và bị bỏ tù, năm 1937 sống bằng nghề viết, năm 1938 sang
Hồng Kông đóng phim Cánh Đồng Ma, năm 1945 theo Việt Minh , mất năm
1987 tại Hà Nội.
Cũng như nghìn, vạn người yêu nước khác ông đã tham gia kháng chiến
chống Pháp, theo Hoàng Văn Chí trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản
(De la colonisation au communisme), kháng chiến khởi đầu bằng phong trào
yêu nước và kết thúc bằng Cộng Sản, những nhà ái quốc như Nguyễn Tuân
đã lỡ theo nên phải theo luôn , ngẫu nhiên rơi vào thế cưỡi cọp, đã leo lên rồi
không thể nhẩy xuống được nữa.
Các tác phẩm chính của ông viết trước ngày theo kháng chiến Việt Minh
gồm: Ngọn Đèn Dầu Lạc viết 1939, Quê Hương 1940, Tàn Đèn Dầu Lạc
1941, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua 1941, Tùy Búy Một, Tùy Bút Hai 1943,
Nguyễn 1945, Chùa Đàn 1946.
Vang Bóng Một Thời do Tân Dân Hà Nội xuất bản 1940, được coi như tác
phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân, được Thạch Lam khen hay trên báo Ngày
Nay và nổi tiếng ngay. Tác giả của nó là con người giang hồ ăn chơi phóng
đãng, ông đã diễn tả cuộc đời ăn chơi phóng túng và trụy lạc trong Quê
Hương, Một Chuyến Đi, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua, Ngọn Đèn Dầu Lạc.
Nhưng ông lại tỏ ra hoài niệm dĩ vãng, tiếc nhớ những nét huy hoàng của
một nền văn minh tinh thần, đó lại chính là bề mặt trái của con người trên.
Ông Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn
3 có nói.
Những hàng trên viết ngay từ 1938 (trên Tiểu thuyết thứ bẩy) có thể coi là
nguồn gốc tậm lý và cảm hứng của Vang Bóng Một Thời về sau. Yêu quá
khứ đi tìm trong quá khứ những hình ảnh nên thơ nên mộng.
Nguyễn Tuân là một nhà văn không thuộc về trường phái nào, văn đoàn nào,
ông tự đứng riêng ra một phái cả về văn chương tư tưởng, Vũ Ngọc Phan
xếp ông vào loại nhà văn chuyên về tùy bút. Tùy bút được định nghĩa là để
tùy ý cho ngọn bút diễn tả một cách rộng rãi tự do tâm tư của tác giả.
Ông Phạm Thế Ngũ định nghĩa như sau.
Duy có điều là ký sự của ông không phải như ở giai đoạn Nam Phong. . . . .
mà là đại biểu cho một giai đoạn già dặn . . . . . để tự do, tùy bút, muốn viết
gì thì viết, ghi chép gì cũng được. Những truyện của Nguyễn Tuân hơn cả
với Thạch Lam chẳng có gì làm truyện cả; nghĩa là những yếu tố thông lệ gọi
là động tác, là thắt là cởi. Chỉ là những mảnh đời hé lộ của cuộc sống xưa,
hay là những kể lể dông dài về một cuộc gặp gỡ, những tâm sự lê thê, những
cảm tưởng vụn vặt của chính mình.
Nhà phê bình văn học trong nước Nguyễn Mạnh Đăng định nghĩa như sau.
Tùy bút là gì? Định nghĩa vừa dễ lại vừa khó. Dễ vì khái niệm bản thân nó
đã tự giải thích,: là phóng bút, tùy bút mà viết chứ sao. . . có thể hiểu một
cách đại khái thế này: người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự
kiện, một mẩu chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy nêu lên
những vấn đề này khác mà bàn bạc, mà nghị luận, triết luận, ném ra những
suy tưởng của mình một cách thoải mái phóng túng.
Nguyễn Tuân với Vang Bóng Một Thời và Thạch Lam với Hà Nội Băm Sáu
Phố Phường được coi là hai người đầu tiên xây dựng thể tùy bút, tại miền
Nam Việt nam từ sau 1954 đến 1975, các nhà văn tên tuổi nhiều người đã
viết tùy bút, nay tại Hải ngoại, thể văn này lại rất thịnh hành được nhiều
người ưa chuộng. Vang Bóng Một Thời được coi như cuốn tùy bút đầu tiên
của Việt Nam, mặc dù ngoài trang đầu đề là truyện nhưng trên thực tế người
ta vẫn coi đây chỉ là tập tùy bút vì truyện đa số không có kết thúc hoặc gỡ
nút đúng theo tinh thần của một truyện, tác phẩm được in ra nhằm vào lúc có
cơn gió phục hưng nên đã được độc giả hoan nghênh nồng nhiệt, từ 1940
đến 1945 đã được tái bản ba lần, được tặng giải thưởng Gia Long. Nay trong
nước Vang Bóng Một Thời vẫn là một tác phẩm được độc giả vô cùng hâm
mộ: năm 1988 nhà xuất bản Văn Học đã tái bản lần thứ sáu với 30.000 cuốn
bản giấy đẹp, bìa cứng.
Toàn bộ tác phẩm gồm mười một truyện hay bài được xếp theo thứ tự như
sau: Chém Treo Ngành, Những Chiếc Ấm Đất, Thả Thơ, Đánh Thơ, Ngôi
Mả Cũ, Hương Cuội, Chữ Người Tử Tù, Ném Bút Chì, Chén Trà Trong
Sương Sớm, Một Cảnh Thu Muộn, Báo Oán. Tác phẩm gồm hai loại đề tài
chính: tàn bạo, phũ phàng rùng rợn và thanh tao nhẹ nhàng thi vị. Tôi xin đề
cập theo thứ tự hai thể loại ấy như sau: Chém Treo Ngành, Ném Bút Chì,
Chữ Người Tử Tù, Báo Oán, Hương Cuội, Chén Trà Trong Sương Sớm,
Những Chiếc Ấm Đất, Một Cảnh Thu Muộn, Ngôi Mả Cũ, Thả Thơ, Đánh
Thơ .
CHÉM TREO NGÀNH
Đây là bài đầu tiên của tác phẩm, Nguyễn Tuân ngụ ý cho là hay nhất nhưng
lạ thay nó lại ít được các nhà phê bình như Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan,
Phạm Thế Ngũ . . . ca ngợi. Trong cuốn Nguyễn Tuân, Về Tác Giả Và Tác
Phẩm, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội năm 2001, dầy 600 trang khổ lớn,
gồm trên 100 bài nói về Nguyễn Tuân, Chém Treo Nghành cũng không được
các nhà phê bình trong nước chú ý bằng các truyện khác.
Đây là một đề tài tàn bạo, phũ phàng, rùng rợn hoàn toàn trái ngược với tinh
thần nhẹ nhàng thanh tao của các nghệ thuật cầm, kỳ, thi, tửu vì nó là một
nghệ thuật giết người, chém người ngọt như chuối vậy. Nguyễn Tuân ẩn núp
dưới chiêu bài làm sống lại một nghệ thuật cổ để phơi bầy tội ác ghê tởm,
rùng rợn của thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước vời loài người.
Bát Lê là một tay đao phủ có tiếng, chuyên xử dụng thanh quất, loại kiếm hai
lưỡi nay đã về già, mỗi lần có án trảm, ông chỉ ra pháp trường cho có mặt,
việc đã có người khác đỡ tay. Nhưng nay quan lớn Đổng lý Quân vụ gọi vào
cho biết có mười hai tên tử tù sắp phải bị hành hình, quan công sứ (thực dân)
muốn được thị kiến. Bát Lê có tài chém đầu rất ngọt, chỉ một nhát lướt qua là
đứt cổ nhưng vẫn còn dính một làn da.
Thế là Bát Lê được phép vào vườn chuối để tập luyện cho thuận tay. Đến
ngày hành hình, Bát Lê hoa thanh quất, mười hai cái đầu của tội nhân bị chẻ
gục xuống, không một giọt máu vấy vào áo hắn, Bát Lê được quan công sứ
thưởng mấy cọc bạc đồng bà lão.
So với toàn bộ Vang Bóng Một Thời, Chém Treo Nghành đã được Nguyễn
Tuân diễn tả kỹ lưỡng, tỉ mỉ, trong sáng và trang trọng; từ tả cảnh cho đến lối
hành văn đều đã được chăm sóc tận tình. Ngay khi mở đầu tác giả đã tạo cho
bài một không khí rùng rợn, quái đản qua tiếng hát tẩy oan của tên đao phủ,
ngụ ý hắn vô tội.
Trời nổi cơn lốc
Cảnh càng u sầu
Tiếng loa vừa dậy
Hồi chuông mớm mau
Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau
Thừa chịu lệnh cả
Dám nghĩ thế nào
Người ngồi cho vững
Cho ngọt nhát dao
Hỡi hồn!
Hỡi quỉ không đầu
Ngay khi Bát Lê còn tập luyện tại vườn chuối, sự diễn tả đã đủ thể hiện sự
phũ phàng tàn bạo của tội ác:
Bát Lê lại tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dẫy bên trái,
Bát Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân
cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quì, chịu tội. Thế rồi
vừa hát vừa chém bên trái, vừa chém bên phải, Bát Lê đã hát hết mười bốn
câu, và đánh gục mười bốn cây chuối.
Để tăng phần hồi hộp, rùng rợn Nguyễn Tuân đã tả cảnh rất trịnh trọng, cảnh
tĩnh cũng như hoạt cảnh.
Trước nhà rạp người ta đã chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh
xuống toét cả đầu. . . . . . . .
. . . . Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn nền trời. Nền trời vẩn
những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó
mầu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.
Mọi người chờ đợi một cái gì.
Tác giả đã vô cùng khéo léo tả chân kỹ kưỡng sự chuẩn bị cho cuộc hành
quyết để che mắt bọn kiểm duyệt, bọn thám tử thực dân, ông đã thành công
trong sự tố cáo tội ác man rợ của bọn chúng như sau:
Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quì gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp
theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần
việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống
lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quì phải để được gót chân
đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế tử tù sẽ phải rướn mình
lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người
dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ.
Những người bị hành hình là dư đang của giặc Bãi sậy, những nhà ái quốc sa
cơ thất thế, bằng nghệ thuật tả chân đường gươm tuyệt diệu của tên đao phủ,
Nguyễn Tuân đã thành công trong sự tố cáo hành động bạo ngược của bọn
sát nhân, chúng đã nhẫn tâm lấy việc giết người làm trò chơi tiêu khiển.
Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm,
thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!
Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan
với hồn con tội. Trong nhà rạp, các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lờ rờn rợn,
quan công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù múa hát
đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quì kia chẻ gục đến đấy, những tia máu
phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một
chiếc thủ cấp nào rụng xuống.
Nguyễn Tuân và Thạch Lam những nhà văn Việt Nam đầu tiên xử dụng lối
mô tả tàn bạo y như Sholokhov trong tác phẩm vĩ đại Sông Don Thanh Bình
(The Quiet Don) với những đường gươm bửa đôi đầu địch thủ, bằng những
nét chấm phá tuyệt diệu tác giả đã tô điểm thêm bản cáo trạng tội ác của bọn
sát nhân như sau.
Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi, chạy tuốt vào đứng trước nhà
rạp. Bấy giờ quan Công Sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây
lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không một
giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng Đốc để nhớ lấy tên
họ một người đao phủ có lối chém treo nghành rất ngọt. Ngài thưởng cho
Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.
Tác giả đã ẩn mình vô cùng khéo léo dưới cách mô tả nghệ thuật hành hình
để tố cáo tội ác của bọn sát nhân khát máu với nhân loại ngày một cao và
nhiều hơn, ông đã qua mặt được cặp mắt cú vọ của bọn kiểm duyệt.
Lúc quan Lưu Trú gần cầm mũ áo từ về tòa sứ, quan Đổng lý Quân vụ còn
ân cần buộc ông thông ngôn Nam Kỳ dịch cho đủ câu này.
-Bẩm quan lớn, chém treo nghành như thế này là phải lựa vào những lúc việc
quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù
đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào
cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quì hướng về một chiều. Đại để nó cũng như là
cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc
ngang như người ta róc mắt mía.
Thuật chém treo nghành của Nguyễn Tuân khiến tôi lại nhớ đến thuật sử sóc
siên của bọn Thổ Nhĩ Kỳ khi chúng cai trị Nam Tư hồi thế kỷ thứ 18 trong
cuốn tiểu thuyết bất hủ Cầu Sông Drina (Il est un pont sur le Drina) của nhà
văn Nam Tư Ivo Andrich viết năm 1945, được giải Nobel văn chương năm
1961 mà ông Phạm Công Thiện đã cho là giải văn chương xứng đáng nhất
trong vòng mười năm qua.
Họ trói kẻ tử tù bắt nằm xuống đất rồi lấy một cây cọc vót nhọn đầu bịt sắt
đóng từ hậu môn đóng lên. Tên đao phủ là một tay rất thiện nghệ, hắn đóng
rất khéo khiến cho mũi nhọn nằm giữa xương sống và các bộ phận trọng yếu
như tim, gan, phèo, phổi. . . nó không đụng vào xương sống và các bộ phận
ấy để khiến cho tên tử tội phải chết ngay. Hắn đóng từ từ cho cọc lên đến tận
cổ mà tội nhân vẫn còn sống. Khi ấy chúng đem dựng cọc nơi bờ sông để răn
đe nhân dân, những kẻ dám chống lại chúng, nạn nhân phải chịu đau đớn hai
ngày sau mới chết.
Ivo Andrich cũng như Nguyễn Tuân đã tả chân kỹ lưỡng những nghệ thuật
giết người kinh hoàng khủng khiếp ấy để tố cáo với nhân loại tội ác và thú
tính của bọn thực dân bạo ngược. Mặc dù phải vượt qua hàng rào kiểm duyệt
gai góc của thực dân, Nguyễn Tuân vẫn lém lỉnh đưa vào đoạn kết những lời
tiên tri cũng như ước vọng của ông về ngày tàn của chế độ thực dân đại gian
đại ác.
Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu còn dính vào cổ
người chết quì kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc
xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn
gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên,
xoay vòng quanh đám tử thi.
Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân.
Lối hành văn cổ kính, chịu ảnh hưởng của truyện Tam Quốc, Tây Hán Chí. .
. Bố cục sáng sủa, khoa học, tả cảnh linh hoạt, sống động . . khiến cho Chém
Treo Ngành trở thành tùy bút nổi bật nhất trong Vang Bóng Một Thời, đã
được coi như một trong những áng văn tuyệt diệu nhất của nền văn chương
Việt Nam.
Tôi thiết nghĩ chúng ta cũng nên phiên dịch tác phẩm ấy ra các tiếng ngoại
ngữ để tố cáo tội ác tầy trời của bọn thực dân, để cho cả thế giới thấy cái bộ
mặt ghê tởm của chúng, bọn thực dân thường huyênh hoang ta đây yêu
chuộng công bằng, bác ái, đi truyền bá văn minh nhưng thực chất chúng chỉ
là bọn uống máu người không tanh đã đem cảnh máu chảy thịt rơi ra làm trò
tiêu khiển y như những tên bạo chúa La Mã ngày xưa vậy.
NÉM BÚT CHÌ
Trong truyện này Nguyễn Tuân diễn tả những môn võ nghệ cao cường của
bọn ăn cướp thời ấy: Ném bút chì, tức là phóng một cái mai (cây xuổng lưỡi
bằng đào đất) để giết địch thủ, cán mai có buộc sợi dây thừng, phóng tới mục
tiêu rồi giật cái mai trở lại. Lý Văn nhân vật chính, tên trùm đảng cướp là tay
ném bút chì giỏi nhất, hắn có thể phóng cây mai cắt đứt hai chân con gà
nhưng còn chừa lại một làn da y như chém treo nghành vậy.
Toàn bài có một vẻ uy nghi như không khí hào hùng của truyện Thủy Hử với
những tay giang hồ hảo hán như Tống Giang, Triệu Cái . . . Tác giả đã làm
sống lại cái thời xa xưa ấy qua buổi sinh hoạt của bọn cướp trước khi chúng
đánh một mẻ lớn vào tối hôm ấy. Bọn ở Kim Sơn và bọn ở Tam Tổng đến
tìm Lý Văn, trong đó Cai Xanh là tay chơi nổi tiếng ở vùng Thanh nội,
Thanh Ngoại, những tay anh chị trong đám cướp lớn đều phải phục tài nghệ
hắn, Nguyễn Tuân mô tả về huyền thoại con dao hai lưỡi của Cai Xanh như
sau.
Trong những phút rất nguy nan, phải giết kẻ khác để gỡ lấy mạng mình,
chưa bao giờ Cai Xanh chịu phóng dao và bỏ dao lại trên chiến địa. Hóa cho
nên con dao đó, sau những khi cắm ngập vào thớ thịt còn nóng hổi giòng
máu của bao nhiêu tử thi, dao đó lại trở lại nằm trong hầu bao của Cai Xanh.
Chung quanh con dao thép sáng ngời, một huyền sử kinh sợ đã bao chùm.
Hôm sau, phó Kinh tay phóng bút chì có tiếng lại tìm Lý Văn, cả bọn Tam
Tổng và Kim Sơn cùng kéo tới nhà Lý Văn, họ cùng đánh chén rượu thịt. .
phó Kinh trổ tài.
Phó Kinh cuộn mấy vòng dây thừng dài đến mấy sải vào cánh tay trái. Bàn
tay trái y nắm chắc cổ cán mai, bàn tay phải y giữ đốc ngọn mai.
-Đàn anh thử xem hạ cây chuối phía bên trái.
Bỗng một tiếng phập, thân trên cây chuối đã gục xuống mặt đất, kêu đánh
roạt.
Rồi hắn dựt cái mai nằm gọn trong tay, hắn biểu diễn một đường nữa hạ
buồng chuối nhưng quá tay đứt nửa thân cây chuối. Lý Văn tay nghề rất cao
so với phó Kinh, hắn nói có khi phải nhẹ tay vì chỉ cần đánh dọa người ta
thôi, Lý Văn bèn phóng bút chì vào một con gà, vết thương gọn gàng vừa
đúng quãng đầu gối, cặp giò chưa đứt hẳn còn một lần da y như chém treo
nghành.
Tay nghề của tên trùm cướp được diễn tả như sau.
Lý Văn gác mai nói với cả bọn.
-Nếu mình ném mạnh tay quá và không biết tính sức đi của “bút chì”là nát
mất gà. Các chú không phải đánh những “tiếng bạc” vào sinh ra tử, các chú
không biết chứ đòn “bút chì”khó khiến lắm. Và một cây “bút chì”ngang tàng
như thế mà phải lụy một cành tre đấy. Chú nào hay xử cây “bút chùng”ở các
đường độc đạo, nên cẩn thận khi thấy bên địch tung cành tre ra để phá “bút
chì”. Để hôm nào rảnh, anh sẽ dậy cho các chú tập đánh cái lối đón bơi chèo
bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến ấy thì đầu người rụng cứ như sung.
Nguyễn Tuân không có ý ca ngợi bọn cướp nhưng chỉ mô tả những đòn,
thuật cao tay của chúng. Chắc là tác giả đã nghe các bậc cha ông kể lại
chuyện tại những vùng miền Thanh Hoá, nơi ông đã theo gia đình sinh sống
tại miền Trung. Ném Bút Chì đã mô tả một cách sinh động những món võ
nghệ cao cường của các tay giang hồ hảo hán khiến ta như thấy hiện ra cái
không khí hào hùng của Thủy Hử với Tống Giang, Triệu Cái. .
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Truyện một viên quan cai ngục hâm mộ chữ viết đẹp của tên tử tù, một
người văn võ song toàn, xin cho được thủ bút của người ấy, tác giả ca ngợi
thú chơi chữ của viên quan.
Một viên quan cai ngục tại tỉnh Sơn nhận được sáu tên tù tội chết chém,
đứng đầu là Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp, văn võ song toàn. Viên
quan sai một người thơ lại mang rượu thịt biệt đãi người tử tù, Huấn cao tỏ
vẻ bực mình không muốn nhận nhưng viên quản ngục vẫn vui vẻ không cáu
giận ông với hy vọng ông sẽ dịu tính nết để viết cho mình mấy chữ trên chục
vuông lụa. Một buổi chiều viên quan nhận được lệnh giải Huấn Cao và các
đồng chí vào kinh, sai thơ lại vào nói cho Huấn Cao biết, ông nói từ trước
đến nay chỉ viết có vài bộ chữ cho mấy người bạn thôi, cảm kích vì tấm lòng
hâm mộ của viên quản ngục, Huấn cao bằng lòng cho chữ trên tấm lụa trắng
rồi đĩnh đạc bảo.
-Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chỗ ở đi, chỗ này không phải
là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn rõ ràng
như thế. Thoi mực, kiếm được ở đâu tốt và thơm lắm. Thầy có thấy mùi
thơm ở chậu mực bốc lên không?. . . ta bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về
nhà quê mà ở đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ, ở đây khó giữ thiên
lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
Theo các nhà phê bình trong nước Huấn Cao chẳng ai khác hơn là Cao bá
Quát, con người bất đắc chí đi làm cách mạng chống lại chế độ phong kiến,
họ nói Nguyễn Tuân là người yêu nước ca ngợi tinh thần phản kháng của
Huấn cao. Theo tôi biết Nguyễn Tuân không có mục đích nào khác hơn là
diễn tả tấm lòng yêu nghệ thuật của một viên quan coi ngục, ông ta phải hạ
mình chiều chuộng một tên tử tù để xin chữ viết, người tử tù tài hoa nổi tiếng
là văn hay chữ tốt, ông đã bị Huấn cao khinh mạn mà vẫn kiên nhẫn sai thư
lại mang rượu thịt biệt đãi người tù này cho đến khi xin được chữ viết.
Các nhà phê bình trong nước chú trọng khen ngợi truyện này rất nhiều, họ
hay có phong trào, cũng như trong cuốn Thạch Lam Về Tác Giả Và Tác
Phẩm, nhiều nhà đã khen lấy khen để truyện Hai Đứa Trẻ (Nắng Trong
Vườn) là độc đáo sâu sắc. . mà thực ra nó lại không được dư luận chung chú
ý mấy, ta không thấy họ nói nó hay ở chỗ nào. Khi có một hoặc hai nhà phê
bình khen hay là họ a dua nhau khen lấy khen để.
BÁO OÁN
Truyện này nhuốm màu ma quái tựa như không khí quái đản trong Liễu Trai
Chí Dị của Bồ Tùng Linh hay trong những truyện quái đản của Edgar Poe,
nhà văn cổ điển Mỹ, truyện cũng có giá trị như một tài liệu về những ngày
suy tàn của nho học, những năm tháng cuối cùng của cái học nhà nho.
Khóa trước, tại tỉnh Hà Nam, ông Đầu Xứ Anh bị loại ngay vòng đầu, khóa
này ông không nạp quyển dự thi mặc dù nhiều người khuyến khích ông
nhưng ông nhường cho em, Đầu Xứ Em xuôi tỉnh sửa soạn thi. Ba năm trước
chánh chủ khảo khấn “Báo oán giả tiên nhập, báo ân giả thứ nhập”, oan hồn
vào báo oán ông Đầu Xứ Anh, một người đàn bà trẻ xõa tóc, ẵm con hiện ra
dưới lều, kêu khóc, lấy mực đổ vào quyển ông, giữ gịt tay không cho ông
viết, rồi ông lại thấy nổi cơn đau bụng phải bỏ dở kỳ thi. Nguyên do ông cụ
thân sinh đã khiến một nàng hầu tự ải khi bà có thai sáu, bẩy tháng, cái âm
oán sẽ còn theo mãi nếu ông còn dự thi, khóa này ông để ông em đi thi xem
có còn báo oán nữa không. Hai ông ghé quán cô Phương, cô hàng sách có
cảm tình với ông anh.
Ông em vào trường thi, thấy đau bụng, ông đốt vàng tự nhiên nghe tiếng
cười lanh lảnh, rồi lại mớ tóc xoã, người đàn bà cất tiếng the thé, ông đau
bụng dữ dội gục xuống . . . người ta điểm trống ngoại hạn.
Truyện này đúng với cái ý nghĩa vang bóng của một thời đã qua trong khung
cảnh một khóa thi nho học cuối cùng, Nguyễn Tuân không ca ngợi cái học
nhà nho lỗi thời hủ lậu nhưng chỉ có tính cách mô tả sự suy tàn của một thời
kỳ văn học, của một nền văn minh tinh thần đã qua.
Ở vào buổi giao thời, nếu người ta còn cái lòng công danh, thì khoa thi Mậu
Ngọ là một cơ hội cuối cùng. Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ mở một thời khác,
chữ Hán chỉ còn là một thứ xa xỉ phẩm trong cõi học vấn của một lớp người.
Từ sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là những vật cổ tích mỗi khi nhắc
nhỏm tới lại gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám người mệt mỏi còn
sống thêm một ngày là càng chỉ thêm một ngày bỡ ngỡ với phong hội mới.
Mặc dù là truyện ma quái nhưng cũng có thể là truyện có thật trong chốn thi
cử lều chỗng xa xưa, một ông anh văn hay chữ tốt bị báo oán do ông cụ thân
sinh ăn ở thất đức nên đã hỏng kỳ thi trước, nhường cho ông em đi thi khóa
sau nhưng rốt cuộc cũng vẫn bị báo oán phá hỏng kỳ này. Ông Đầu Xứ Anh
đã đi coi đồng cốt biết rằng cái oan hồn của người đàn bà vẫn theo ông mãi.
Nguyễn Tuân sở trường cả về hai chủ đề rùng rợn cũng như nên thơ thi vị,
dưới đây là đoạn văn thể hiện không khí quái đản của tác giả.
Một người đàn bà trẻ, sõa tóc ẵm con, hiện ngay dưới lều, ngay chỗ đầu
chõng, kêu gào giữ gịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán người đàn bà
ấy lấy mớ tóc soã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy
nghiên mực đổ vào quyển ông.
Hoặc.
Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường
thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là
cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé “nó còn
đi thi cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó
phạm húy, cho nó bị tội cả nhà kia
Đây không phải chỉ nói đến chuyện báo oán tại trường thi nhưng nó còn là
một bài thuật sự đầy đủ về khoa thi cử Hán nho, từ cảnh sĩ tử mang lều
chõng ra đi đến sinh hoạt tại trường thi, lễ cúng tam sinh trâu, dê, lợn. Có thể
nói đây là một áng văn chương hay, một tài liệu giá trị về trường thi nho học
vào lúc suy tàn.
HƯƠNG CUỘI
Ngoài cái biệt tài diễn
Tác phẩm: Vang bóng một thời
Tác giả: Nguyễn Tuân
Nxb Mãi Lĩnh, Hà Nội 1940
Tạo ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Lời dẫn
Vang Bóng Một Thời viết năm 1940 đã được dư luận chung coi như một
trong những tác phẩm hay và nổi tiếng nhất của nền văn chương Việt Nam,
cũng là một trong những tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất, được coi như
ngang hàng với Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, Đôi Bạn của Nhất
Linh, truyện đã được tác giả Nhà Văn Hiện Đại ca ngợi như sau.
Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ.
Đó là tập Vang Bóng Một Thời (Tân Dân – Hà Nội 1940).
Tập truyện đã làm sống lại cả một thời phong kiến đã qua với những nghệ
thuật cổ thanh cao, những nếp sống, sinh hoạt xã hội nho phong của một nền
văn minh xưa cũ, nó cũng là niềm nuối tiếc của một tâm hồn hoài cổ trước
những cái hay, cái đẹp, những nghệ thuật cầu kỳ của một thời đại đã qua, cái
thời ấy nay đã chết rồi, chỉ còn để lại một tiếng vang:
. . . . Vang Bóng Một Thời. .
Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại Hà Nội trong một gia đình nho giáo, con cụ
Tú Hải Vân , thời còn trẻ ông đã theo gia đình sinh sống tại nhiều tỉnh miền
Trung . Năm 1929 tham gia bãi khóa bị đuổi học, trốn sang Băng Cốc bị bắt
giải về nước và bị bỏ tù, năm 1937 sống bằng nghề viết, năm 1938 sang
Hồng Kông đóng phim Cánh Đồng Ma, năm 1945 theo Việt Minh , mất năm
1987 tại Hà Nội.
Cũng như nghìn, vạn người yêu nước khác ông đã tham gia kháng chiến
chống Pháp, theo Hoàng Văn Chí trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản
(De la colonisation au communisme), kháng chiến khởi đầu bằng phong trào
yêu nước và kết thúc bằng Cộng Sản, những nhà ái quốc như Nguyễn Tuân
đã lỡ theo nên phải theo luôn , ngẫu nhiên rơi vào thế cưỡi cọp, đã leo lên rồi
không thể nhẩy xuống được nữa.
Các tác phẩm chính của ông viết trước ngày theo kháng chiến Việt Minh
gồm: Ngọn Đèn Dầu Lạc viết 1939, Quê Hương 1940, Tàn Đèn Dầu Lạc
1941, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua 1941, Tùy Búy Một, Tùy Bút Hai 1943,
Nguyễn 1945, Chùa Đàn 1946.
Vang Bóng Một Thời do Tân Dân Hà Nội xuất bản 1940, được coi như tác
phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân, được Thạch Lam khen hay trên báo Ngày
Nay và nổi tiếng ngay. Tác giả của nó là con người giang hồ ăn chơi phóng
đãng, ông đã diễn tả cuộc đời ăn chơi phóng túng và trụy lạc trong Quê
Hương, Một Chuyến Đi, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua, Ngọn Đèn Dầu Lạc.
Nhưng ông lại tỏ ra hoài niệm dĩ vãng, tiếc nhớ những nét huy hoàng của
một nền văn minh tinh thần, đó lại chính là bề mặt trái của con người trên.
Ông Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn
3 có nói.
Những hàng trên viết ngay từ 1938 (trên Tiểu thuyết thứ bẩy) có thể coi là
nguồn gốc tậm lý và cảm hứng của Vang Bóng Một Thời về sau. Yêu quá
khứ đi tìm trong quá khứ những hình ảnh nên thơ nên mộng.
Nguyễn Tuân là một nhà văn không thuộc về trường phái nào, văn đoàn nào,
ông tự đứng riêng ra một phái cả về văn chương tư tưởng, Vũ Ngọc Phan
xếp ông vào loại nhà văn chuyên về tùy bút. Tùy bút được định nghĩa là để
tùy ý cho ngọn bút diễn tả một cách rộng rãi tự do tâm tư của tác giả.
Ông Phạm Thế Ngũ định nghĩa như sau.
Duy có điều là ký sự của ông không phải như ở giai đoạn Nam Phong. . . . .
mà là đại biểu cho một giai đoạn già dặn . . . . . để tự do, tùy bút, muốn viết
gì thì viết, ghi chép gì cũng được. Những truyện của Nguyễn Tuân hơn cả
với Thạch Lam chẳng có gì làm truyện cả; nghĩa là những yếu tố thông lệ gọi
là động tác, là thắt là cởi. Chỉ là những mảnh đời hé lộ của cuộc sống xưa,
hay là những kể lể dông dài về một cuộc gặp gỡ, những tâm sự lê thê, những
cảm tưởng vụn vặt của chính mình.
Nhà phê bình văn học trong nước Nguyễn Mạnh Đăng định nghĩa như sau.
Tùy bút là gì? Định nghĩa vừa dễ lại vừa khó. Dễ vì khái niệm bản thân nó
đã tự giải thích,: là phóng bút, tùy bút mà viết chứ sao. . . có thể hiểu một
cách đại khái thế này: người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự
kiện, một mẩu chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy nêu lên
những vấn đề này khác mà bàn bạc, mà nghị luận, triết luận, ném ra những
suy tưởng của mình một cách thoải mái phóng túng.
Nguyễn Tuân với Vang Bóng Một Thời và Thạch Lam với Hà Nội Băm Sáu
Phố Phường được coi là hai người đầu tiên xây dựng thể tùy bút, tại miền
Nam Việt nam từ sau 1954 đến 1975, các nhà văn tên tuổi nhiều người đã
viết tùy bút, nay tại Hải ngoại, thể văn này lại rất thịnh hành được nhiều
người ưa chuộng. Vang Bóng Một Thời được coi như cuốn tùy bút đầu tiên
của Việt Nam, mặc dù ngoài trang đầu đề là truyện nhưng trên thực tế người
ta vẫn coi đây chỉ là tập tùy bút vì truyện đa số không có kết thúc hoặc gỡ
nút đúng theo tinh thần của một truyện, tác phẩm được in ra nhằm vào lúc có
cơn gió phục hưng nên đã được độc giả hoan nghênh nồng nhiệt, từ 1940
đến 1945 đã được tái bản ba lần, được tặng giải thưởng Gia Long. Nay trong
nước Vang Bóng Một Thời vẫn là một tác phẩm được độc giả vô cùng hâm
mộ: năm 1988 nhà xuất bản Văn Học đã tái bản lần thứ sáu với 30.000 cuốn
bản giấy đẹp, bìa cứng.
Toàn bộ tác phẩm gồm mười một truyện hay bài được xếp theo thứ tự như
sau: Chém Treo Ngành, Những Chiếc Ấm Đất, Thả Thơ, Đánh Thơ, Ngôi
Mả Cũ, Hương Cuội, Chữ Người Tử Tù, Ném Bút Chì, Chén Trà Trong
Sương Sớm, Một Cảnh Thu Muộn, Báo Oán. Tác phẩm gồm hai loại đề tài
chính: tàn bạo, phũ phàng rùng rợn và thanh tao nhẹ nhàng thi vị. Tôi xin đề
cập theo thứ tự hai thể loại ấy như sau: Chém Treo Ngành, Ném Bút Chì,
Chữ Người Tử Tù, Báo Oán, Hương Cuội, Chén Trà Trong Sương Sớm,
Những Chiếc Ấm Đất, Một Cảnh Thu Muộn, Ngôi Mả Cũ, Thả Thơ, Đánh
Thơ .
CHÉM TREO NGÀNH
Đây là bài đầu tiên của tác phẩm, Nguyễn Tuân ngụ ý cho là hay nhất nhưng
lạ thay nó lại ít được các nhà phê bình như Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan,
Phạm Thế Ngũ . . . ca ngợi. Trong cuốn Nguyễn Tuân, Về Tác Giả Và Tác
Phẩm, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội năm 2001, dầy 600 trang khổ lớn,
gồm trên 100 bài nói về Nguyễn Tuân, Chém Treo Nghành cũng không được
các nhà phê bình trong nước chú ý bằng các truyện khác.
Đây là một đề tài tàn bạo, phũ phàng, rùng rợn hoàn toàn trái ngược với tinh
thần nhẹ nhàng thanh tao của các nghệ thuật cầm, kỳ, thi, tửu vì nó là một
nghệ thuật giết người, chém người ngọt như chuối vậy. Nguyễn Tuân ẩn núp
dưới chiêu bài làm sống lại một nghệ thuật cổ để phơi bầy tội ác ghê tởm,
rùng rợn của thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước vời loài người.
Bát Lê là một tay đao phủ có tiếng, chuyên xử dụng thanh quất, loại kiếm hai
lưỡi nay đã về già, mỗi lần có án trảm, ông chỉ ra pháp trường cho có mặt,
việc đã có người khác đỡ tay. Nhưng nay quan lớn Đổng lý Quân vụ gọi vào
cho biết có mười hai tên tử tù sắp phải bị hành hình, quan công sứ (thực dân)
muốn được thị kiến. Bát Lê có tài chém đầu rất ngọt, chỉ một nhát lướt qua là
đứt cổ nhưng vẫn còn dính một làn da.
Thế là Bát Lê được phép vào vườn chuối để tập luyện cho thuận tay. Đến
ngày hành hình, Bát Lê hoa thanh quất, mười hai cái đầu của tội nhân bị chẻ
gục xuống, không một giọt máu vấy vào áo hắn, Bát Lê được quan công sứ
thưởng mấy cọc bạc đồng bà lão.
So với toàn bộ Vang Bóng Một Thời, Chém Treo Nghành đã được Nguyễn
Tuân diễn tả kỹ lưỡng, tỉ mỉ, trong sáng và trang trọng; từ tả cảnh cho đến lối
hành văn đều đã được chăm sóc tận tình. Ngay khi mở đầu tác giả đã tạo cho
bài một không khí rùng rợn, quái đản qua tiếng hát tẩy oan của tên đao phủ,
ngụ ý hắn vô tội.
Trời nổi cơn lốc
Cảnh càng u sầu
Tiếng loa vừa dậy
Hồi chuông mớm mau
Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau
Thừa chịu lệnh cả
Dám nghĩ thế nào
Người ngồi cho vững
Cho ngọt nhát dao
Hỡi hồn!
Hỡi quỉ không đầu
Ngay khi Bát Lê còn tập luyện tại vườn chuối, sự diễn tả đã đủ thể hiện sự
phũ phàng tàn bạo của tội ác:
Bát Lê lại tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dẫy bên trái,
Bát Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân
cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quì, chịu tội. Thế rồi
vừa hát vừa chém bên trái, vừa chém bên phải, Bát Lê đã hát hết mười bốn
câu, và đánh gục mười bốn cây chuối.
Để tăng phần hồi hộp, rùng rợn Nguyễn Tuân đã tả cảnh rất trịnh trọng, cảnh
tĩnh cũng như hoạt cảnh.
Trước nhà rạp người ta đã chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh
xuống toét cả đầu. . . . . . . .
. . . . Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn nền trời. Nền trời vẩn
những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó
mầu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.
Mọi người chờ đợi một cái gì.
Tác giả đã vô cùng khéo léo tả chân kỹ kưỡng sự chuẩn bị cho cuộc hành
quyết để che mắt bọn kiểm duyệt, bọn thám tử thực dân, ông đã thành công
trong sự tố cáo tội ác man rợ của bọn chúng như sau:
Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quì gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp
theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần
việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống
lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quì phải để được gót chân
đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế tử tù sẽ phải rướn mình
lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người
dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ.
Những người bị hành hình là dư đang của giặc Bãi sậy, những nhà ái quốc sa
cơ thất thế, bằng nghệ thuật tả chân đường gươm tuyệt diệu của tên đao phủ,
Nguyễn Tuân đã thành công trong sự tố cáo hành động bạo ngược của bọn
sát nhân, chúng đã nhẫn tâm lấy việc giết người làm trò chơi tiêu khiển.
Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm,
thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!
Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan
với hồn con tội. Trong nhà rạp, các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lờ rờn rợn,
quan công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù múa hát
đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quì kia chẻ gục đến đấy, những tia máu
phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một
chiếc thủ cấp nào rụng xuống.
Nguyễn Tuân và Thạch Lam những nhà văn Việt Nam đầu tiên xử dụng lối
mô tả tàn bạo y như Sholokhov trong tác phẩm vĩ đại Sông Don Thanh Bình
(The Quiet Don) với những đường gươm bửa đôi đầu địch thủ, bằng những
nét chấm phá tuyệt diệu tác giả đã tô điểm thêm bản cáo trạng tội ác của bọn
sát nhân như sau.
Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi, chạy tuốt vào đứng trước nhà
rạp. Bấy giờ quan Công Sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây
lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không một
giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng Đốc để nhớ lấy tên
họ một người đao phủ có lối chém treo nghành rất ngọt. Ngài thưởng cho
Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.
Tác giả đã ẩn mình vô cùng khéo léo dưới cách mô tả nghệ thuật hành hình
để tố cáo tội ác của bọn sát nhân khát máu với nhân loại ngày một cao và
nhiều hơn, ông đã qua mặt được cặp mắt cú vọ của bọn kiểm duyệt.
Lúc quan Lưu Trú gần cầm mũ áo từ về tòa sứ, quan Đổng lý Quân vụ còn
ân cần buộc ông thông ngôn Nam Kỳ dịch cho đủ câu này.
-Bẩm quan lớn, chém treo nghành như thế này là phải lựa vào những lúc việc
quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù
đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào
cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quì hướng về một chiều. Đại để nó cũng như là
cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc
ngang như người ta róc mắt mía.
Thuật chém treo nghành của Nguyễn Tuân khiến tôi lại nhớ đến thuật sử sóc
siên của bọn Thổ Nhĩ Kỳ khi chúng cai trị Nam Tư hồi thế kỷ thứ 18 trong
cuốn tiểu thuyết bất hủ Cầu Sông Drina (Il est un pont sur le Drina) của nhà
văn Nam Tư Ivo Andrich viết năm 1945, được giải Nobel văn chương năm
1961 mà ông Phạm Công Thiện đã cho là giải văn chương xứng đáng nhất
trong vòng mười năm qua.
Họ trói kẻ tử tù bắt nằm xuống đất rồi lấy một cây cọc vót nhọn đầu bịt sắt
đóng từ hậu môn đóng lên. Tên đao phủ là một tay rất thiện nghệ, hắn đóng
rất khéo khiến cho mũi nhọn nằm giữa xương sống và các bộ phận trọng yếu
như tim, gan, phèo, phổi. . . nó không đụng vào xương sống và các bộ phận
ấy để khiến cho tên tử tội phải chết ngay. Hắn đóng từ từ cho cọc lên đến tận
cổ mà tội nhân vẫn còn sống. Khi ấy chúng đem dựng cọc nơi bờ sông để răn
đe nhân dân, những kẻ dám chống lại chúng, nạn nhân phải chịu đau đớn hai
ngày sau mới chết.
Ivo Andrich cũng như Nguyễn Tuân đã tả chân kỹ lưỡng những nghệ thuật
giết người kinh hoàng khủng khiếp ấy để tố cáo với nhân loại tội ác và thú
tính của bọn thực dân bạo ngược. Mặc dù phải vượt qua hàng rào kiểm duyệt
gai góc của thực dân, Nguyễn Tuân vẫn lém lỉnh đưa vào đoạn kết những lời
tiên tri cũng như ước vọng của ông về ngày tàn của chế độ thực dân đại gian
đại ác.
Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu còn dính vào cổ
người chết quì kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc
xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn
gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên,
xoay vòng quanh đám tử thi.
Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân.
Lối hành văn cổ kính, chịu ảnh hưởng của truyện Tam Quốc, Tây Hán Chí. .
. Bố cục sáng sủa, khoa học, tả cảnh linh hoạt, sống động . . khiến cho Chém
Treo Ngành trở thành tùy bút nổi bật nhất trong Vang Bóng Một Thời, đã
được coi như một trong những áng văn tuyệt diệu nhất của nền văn chương
Việt Nam.
Tôi thiết nghĩ chúng ta cũng nên phiên dịch tác phẩm ấy ra các tiếng ngoại
ngữ để tố cáo tội ác tầy trời của bọn thực dân, để cho cả thế giới thấy cái bộ
mặt ghê tởm của chúng, bọn thực dân thường huyênh hoang ta đây yêu
chuộng công bằng, bác ái, đi truyền bá văn minh nhưng thực chất chúng chỉ
là bọn uống máu người không tanh đã đem cảnh máu chảy thịt rơi ra làm trò
tiêu khiển y như những tên bạo chúa La Mã ngày xưa vậy.
NÉM BÚT CHÌ
Trong truyện này Nguyễn Tuân diễn tả những môn võ nghệ cao cường của
bọn ăn cướp thời ấy: Ném bút chì, tức là phóng một cái mai (cây xuổng lưỡi
bằng đào đất) để giết địch thủ, cán mai có buộc sợi dây thừng, phóng tới mục
tiêu rồi giật cái mai trở lại. Lý Văn nhân vật chính, tên trùm đảng cướp là tay
ném bút chì giỏi nhất, hắn có thể phóng cây mai cắt đứt hai chân con gà
nhưng còn chừa lại một làn da y như chém treo nghành vậy.
Toàn bài có một vẻ uy nghi như không khí hào hùng của truyện Thủy Hử với
những tay giang hồ hảo hán như Tống Giang, Triệu Cái . . . Tác giả đã làm
sống lại cái thời xa xưa ấy qua buổi sinh hoạt của bọn cướp trước khi chúng
đánh một mẻ lớn vào tối hôm ấy. Bọn ở Kim Sơn và bọn ở Tam Tổng đến
tìm Lý Văn, trong đó Cai Xanh là tay chơi nổi tiếng ở vùng Thanh nội,
Thanh Ngoại, những tay anh chị trong đám cướp lớn đều phải phục tài nghệ
hắn, Nguyễn Tuân mô tả về huyền thoại con dao hai lưỡi của Cai Xanh như
sau.
Trong những phút rất nguy nan, phải giết kẻ khác để gỡ lấy mạng mình,
chưa bao giờ Cai Xanh chịu phóng dao và bỏ dao lại trên chiến địa. Hóa cho
nên con dao đó, sau những khi cắm ngập vào thớ thịt còn nóng hổi giòng
máu của bao nhiêu tử thi, dao đó lại trở lại nằm trong hầu bao của Cai Xanh.
Chung quanh con dao thép sáng ngời, một huyền sử kinh sợ đã bao chùm.
Hôm sau, phó Kinh tay phóng bút chì có tiếng lại tìm Lý Văn, cả bọn Tam
Tổng và Kim Sơn cùng kéo tới nhà Lý Văn, họ cùng đánh chén rượu thịt. .
phó Kinh trổ tài.
Phó Kinh cuộn mấy vòng dây thừng dài đến mấy sải vào cánh tay trái. Bàn
tay trái y nắm chắc cổ cán mai, bàn tay phải y giữ đốc ngọn mai.
-Đàn anh thử xem hạ cây chuối phía bên trái.
Bỗng một tiếng phập, thân trên cây chuối đã gục xuống mặt đất, kêu đánh
roạt.
Rồi hắn dựt cái mai nằm gọn trong tay, hắn biểu diễn một đường nữa hạ
buồng chuối nhưng quá tay đứt nửa thân cây chuối. Lý Văn tay nghề rất cao
so với phó Kinh, hắn nói có khi phải nhẹ tay vì chỉ cần đánh dọa người ta
thôi, Lý Văn bèn phóng bút chì vào một con gà, vết thương gọn gàng vừa
đúng quãng đầu gối, cặp giò chưa đứt hẳn còn một lần da y như chém treo
nghành.
Tay nghề của tên trùm cướp được diễn tả như sau.
Lý Văn gác mai nói với cả bọn.
-Nếu mình ném mạnh tay quá và không biết tính sức đi của “bút chì”là nát
mất gà. Các chú không phải đánh những “tiếng bạc” vào sinh ra tử, các chú
không biết chứ đòn “bút chì”khó khiến lắm. Và một cây “bút chì”ngang tàng
như thế mà phải lụy một cành tre đấy. Chú nào hay xử cây “bút chùng”ở các
đường độc đạo, nên cẩn thận khi thấy bên địch tung cành tre ra để phá “bút
chì”. Để hôm nào rảnh, anh sẽ dậy cho các chú tập đánh cái lối đón bơi chèo
bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến ấy thì đầu người rụng cứ như sung.
Nguyễn Tuân không có ý ca ngợi bọn cướp nhưng chỉ mô tả những đòn,
thuật cao tay của chúng. Chắc là tác giả đã nghe các bậc cha ông kể lại
chuyện tại những vùng miền Thanh Hoá, nơi ông đã theo gia đình sinh sống
tại miền Trung. Ném Bút Chì đã mô tả một cách sinh động những món võ
nghệ cao cường của các tay giang hồ hảo hán khiến ta như thấy hiện ra cái
không khí hào hùng của Thủy Hử với Tống Giang, Triệu Cái. .
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Truyện một viên quan cai ngục hâm mộ chữ viết đẹp của tên tử tù, một
người văn võ song toàn, xin cho được thủ bút của người ấy, tác giả ca ngợi
thú chơi chữ của viên quan.
Một viên quan cai ngục tại tỉnh Sơn nhận được sáu tên tù tội chết chém,
đứng đầu là Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp, văn võ song toàn. Viên
quan sai một người thơ lại mang rượu thịt biệt đãi người tử tù, Huấn cao tỏ
vẻ bực mình không muốn nhận nhưng viên quản ngục vẫn vui vẻ không cáu
giận ông với hy vọng ông sẽ dịu tính nết để viết cho mình mấy chữ trên chục
vuông lụa. Một buổi chiều viên quan nhận được lệnh giải Huấn Cao và các
đồng chí vào kinh, sai thơ lại vào nói cho Huấn Cao biết, ông nói từ trước
đến nay chỉ viết có vài bộ chữ cho mấy người bạn thôi, cảm kích vì tấm lòng
hâm mộ của viên quản ngục, Huấn cao bằng lòng cho chữ trên tấm lụa trắng
rồi đĩnh đạc bảo.
-Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chỗ ở đi, chỗ này không phải
là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn rõ ràng
như thế. Thoi mực, kiếm được ở đâu tốt và thơm lắm. Thầy có thấy mùi
thơm ở chậu mực bốc lên không?. . . ta bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về
nhà quê mà ở đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ, ở đây khó giữ thiên
lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
Theo các nhà phê bình trong nước Huấn Cao chẳng ai khác hơn là Cao bá
Quát, con người bất đắc chí đi làm cách mạng chống lại chế độ phong kiến,
họ nói Nguyễn Tuân là người yêu nước ca ngợi tinh thần phản kháng của
Huấn cao. Theo tôi biết Nguyễn Tuân không có mục đích nào khác hơn là
diễn tả tấm lòng yêu nghệ thuật của một viên quan coi ngục, ông ta phải hạ
mình chiều chuộng một tên tử tù để xin chữ viết, người tử tù tài hoa nổi tiếng
là văn hay chữ tốt, ông đã bị Huấn cao khinh mạn mà vẫn kiên nhẫn sai thư
lại mang rượu thịt biệt đãi người tù này cho đến khi xin được chữ viết.
Các nhà phê bình trong nước chú trọng khen ngợi truyện này rất nhiều, họ
hay có phong trào, cũng như trong cuốn Thạch Lam Về Tác Giả Và Tác
Phẩm, nhiều nhà đã khen lấy khen để truyện Hai Đứa Trẻ (Nắng Trong
Vườn) là độc đáo sâu sắc. . mà thực ra nó lại không được dư luận chung chú
ý mấy, ta không thấy họ nói nó hay ở chỗ nào. Khi có một hoặc hai nhà phê
bình khen hay là họ a dua nhau khen lấy khen để.
BÁO OÁN
Truyện này nhuốm màu ma quái tựa như không khí quái đản trong Liễu Trai
Chí Dị của Bồ Tùng Linh hay trong những truyện quái đản của Edgar Poe,
nhà văn cổ điển Mỹ, truyện cũng có giá trị như một tài liệu về những ngày
suy tàn của nho học, những năm tháng cuối cùng của cái học nhà nho.
Khóa trước, tại tỉnh Hà Nam, ông Đầu Xứ Anh bị loại ngay vòng đầu, khóa
này ông không nạp quyển dự thi mặc dù nhiều người khuyến khích ông
nhưng ông nhường cho em, Đầu Xứ Em xuôi tỉnh sửa soạn thi. Ba năm trước
chánh chủ khảo khấn “Báo oán giả tiên nhập, báo ân giả thứ nhập”, oan hồn
vào báo oán ông Đầu Xứ Anh, một người đàn bà trẻ xõa tóc, ẵm con hiện ra
dưới lều, kêu khóc, lấy mực đổ vào quyển ông, giữ gịt tay không cho ông
viết, rồi ông lại thấy nổi cơn đau bụng phải bỏ dở kỳ thi. Nguyên do ông cụ
thân sinh đã khiến một nàng hầu tự ải khi bà có thai sáu, bẩy tháng, cái âm
oán sẽ còn theo mãi nếu ông còn dự thi, khóa này ông để ông em đi thi xem
có còn báo oán nữa không. Hai ông ghé quán cô Phương, cô hàng sách có
cảm tình với ông anh.
Ông em vào trường thi, thấy đau bụng, ông đốt vàng tự nhiên nghe tiếng
cười lanh lảnh, rồi lại mớ tóc xoã, người đàn bà cất tiếng the thé, ông đau
bụng dữ dội gục xuống . . . người ta điểm trống ngoại hạn.
Truyện này đúng với cái ý nghĩa vang bóng của một thời đã qua trong khung
cảnh một khóa thi nho học cuối cùng, Nguyễn Tuân không ca ngợi cái học
nhà nho lỗi thời hủ lậu nhưng chỉ có tính cách mô tả sự suy tàn của một thời
kỳ văn học, của một nền văn minh tinh thần đã qua.
Ở vào buổi giao thời, nếu người ta còn cái lòng công danh, thì khoa thi Mậu
Ngọ là một cơ hội cuối cùng. Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ mở một thời khác,
chữ Hán chỉ còn là một thứ xa xỉ phẩm trong cõi học vấn của một lớp người.
Từ sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là những vật cổ tích mỗi khi nhắc
nhỏm tới lại gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám người mệt mỏi còn
sống thêm một ngày là càng chỉ thêm một ngày bỡ ngỡ với phong hội mới.
Mặc dù là truyện ma quái nhưng cũng có thể là truyện có thật trong chốn thi
cử lều chỗng xa xưa, một ông anh văn hay chữ tốt bị báo oán do ông cụ thân
sinh ăn ở thất đức nên đã hỏng kỳ thi trước, nhường cho ông em đi thi khóa
sau nhưng rốt cuộc cũng vẫn bị báo oán phá hỏng kỳ này. Ông Đầu Xứ Anh
đã đi coi đồng cốt biết rằng cái oan hồn của người đàn bà vẫn theo ông mãi.
Nguyễn Tuân sở trường cả về hai chủ đề rùng rợn cũng như nên thơ thi vị,
dưới đây là đoạn văn thể hiện không khí quái đản của tác giả.
Một người đàn bà trẻ, sõa tóc ẵm con, hiện ngay dưới lều, ngay chỗ đầu
chõng, kêu gào giữ gịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán người đàn bà
ấy lấy mớ tóc soã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy
nghiên mực đổ vào quyển ông.
Hoặc.
Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường
thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là
cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé “nó còn
đi thi cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó
phạm húy, cho nó bị tội cả nhà kia
Đây không phải chỉ nói đến chuyện báo oán tại trường thi nhưng nó còn là
một bài thuật sự đầy đủ về khoa thi cử Hán nho, từ cảnh sĩ tử mang lều
chõng ra đi đến sinh hoạt tại trường thi, lễ cúng tam sinh trâu, dê, lợn. Có thể
nói đây là một áng văn chương hay, một tài liệu giá trị về trường thi nho học
vào lúc suy tàn.
HƯƠNG CUỘI
Ngoài cái biệt tài diễn
 





